Lời nói đầu
Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước và là
một đòi hỏi khách quan đối với sự tồn tại của Nhà nước đó. Do vậy, thuế là một
khoản đóng góp mang tính bắt buộc, cưỡng chế, pháp lý cao, là nguồn thu chủ yếu
cho ngân sách Nhà nước mà trong đó thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh chiếm tỷ trọng cao trong Ngân sách Nhà nước. Phải quản lý thu thuế đối với
khu vực kinh tế NQD như thế nào? Đó là một câu hỏi cấp bách đặt ra cần có những
giải pháp.
Thực hiện công cuộc đổi mới các thành phần kinh tế NQD hình thành và phát triển
góp phần quan trọng và việc thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế, xã hội do
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI, VII, VIII đề ra. Đảng Cộng sản Việt Nam
lần thứ IX đã xác định “Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản
thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kinh tế hiện đại, cơ cấu kinh tế pháp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, đời
sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh
XHCN, dân chủ văn minh”. Để đạt được mục tiêu này cần phải sử dụng các giải
pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD ở
nước ta hiện nay. Theo xu hướng phát triển kinh tế của các nước trên thế giới, nên
kinh tế thị trường hoạt động theo cơ chế thị trường bao gồm nhiều thành phần kinh
tế trong đó có 5 thành phần kinh tế cơ bản đựơc phân tích trong Kinh tế Chính trị
Mác- Lênin
Nền kinh tế Việt nam không nằm ngoài sự chi phối của quy luật khách quan của
một nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường.. Có thể phân
chia nền kinh tế thành hai khu vực. Kinh tế trong nước và kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài. Trong đó khu vực kinh tế trong nước lại chia thành hai khu vực là khu
vực Kinh tế Nhà nước và khu vực Kinh tế Ngoài quốc doanh.
Trong phạm vi của luận văn này chỉ đề cập đến các giải pháp để hoàn thiện công tác
quản lý thu thuế NQD, mà hẹp hơn là đối với 2 thành phần kinh tế là tư bản tư nhân
và kinh tế cá thể tiểu chủ, cụ thể là khu vực kinh tế này bao gồm các doanh nghiệp
NQD và các hộ kinh doanh cá thể hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp.
Lý do em chọn đề tài này là do khu vực kinh tế có phạm vi rộng nguồn thu lớn cho
quan hệ sản xuất tồn tại phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế, đẩy mạnh sự
phát triển của các lực lượng sản xuất, tăng nhanh năng xuất lao động, tăng trưởng
kinh tế. Do đó bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan
hệ sản xuất chứ không có nghĩa xoá bỏ hoàn toàn kinh tế NQD. Nhưng muốn quan
hệ sản xuất TBCN không trở thành thống trị trong nền kinh tế của xã hội thì không
phải bằng con đường bóp nghẹt như đã làm trước đây, mà phải bằng cách xoá bỏ
dần dần bằng sự tác động của các nhân tố khác trong đó kinh tế nông nghiệp là quan
trọng nhất.
Vậy sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ đã
được khẳng định và nó tiếp tục phát triển trong nền kinh tế thị trường, kinh tế NQD
là thành phần kinh tế không thể thiếu được và đóng vai trò ngày càng quan trọng
đối với nền kinh tế quốc dân. Hiện nay nước ta đang trong quá trình chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trường, một số định kiến xã hội trước đây đối với khu vực kinh
tế NQD vẫn còn khá nặng nề. Khuôn khổ pháp luật để phát triển kinh tế NQD đang
xây dựng, chưa hoàn chỉnh. Song từ khi có Luật Doanh nghiệp (DN) có hiệu lực,
môi trường kinh doanh đã bước đầu được cải thiện, các loại giấy phép bất hợp lý đã
được xoá bỏ, nhiều doanh ngiệp đã phát huy được tính chủ động sáng tạo, tận dụng
được hết năng lực vốn có và tăng vốn đầu tư, mở rộng địa bàn để phát triển sản
xuất, kinh doanh...
Vậy định hướng đi lên XHCN, bỏ qua chế độ TBCN tất yếu khách quan phải
trải qua thời kỳ quá độ bên cạnh đó khẳng định sự tồn tại tất yếu khách quan của
kinh tế NQD và xu hướng nền kinh tế này phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh
tế của đất nước trong thời nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
2. Vai trò của khu vực kinh tế NQD trong nền kinh tế
Khu vực kinh tế NQD bao gồm các doanh nghiệp NQD (Công ty TNHH, công ty
Cổ phần, công ty Hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) và các hộ cá nhân có hoạt động
sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế NQD là thành phần kinh
tế không thể thiếu và đóng vai trò ngày càng mạnh mẽ, tương xứng với tiềm năng
và đóng góp xứng đáng vào sự tồn tại vào sự phát triển nền kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN đòi hỏi Nhà nước phải có các chính sách, điều kiện thuận lợi để
Trước hết phải khẳng định các khoản nộp ngân sách của khu vực kinh tế NQD mới
đúng bản chất là “thuế”. Vì khác với các doanh nghiệp Nhà nước, Nhà nước không
phải chủ sở hữu tư liệu sản xuất, Nhà nước thu thuế của khu vực này mà không phải
đầu tư trực tiếp vào khu vực này. Nguồn thu từ khu vực này rất lớn ngày càng tăng
và được dùng chủ yếu để đầu tư vào các ngành nghề kinh tế mũi nhọn, xây dựng cơ
sở hạ tầng, hỗ trợ các ngành kinh tế yếu kém...đồng thời khu vực này còn tham gia
đóng góp tài chính cho đất nước nhiều hơn nữa thông qua các hoạt động tự nguyện
hưởng ứng các phong trào do Nhà nước, đoàn thể phát động như ủng hộ đồng bào
bị lũ lụt, thương binh, gia đình liệt sĩ, xây dựng trường học, đường xá đóng góp vào
các quỹ an ninh, đền ơn đáp nghĩa....Vậy khu vực kinh tế NQD có vai trò điều hoà
thu nhập và đóng góp vào ngân sách Nhà nước rất lớn.
2.4. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần tăng vốn đầu tư cho xã hội
Khu vực này tạo ra một thị trường vốn tín dụng lớn và hứa hẹn nhiều tiềm năng cho
sự phát triển của các ngân hàng ở nước ta do sự đổi mới kinh tế, nhờ chính sách
phát triển kinh tế nhiều thành phần nên khu vực NQD đã hình thành và huy động
một lượng vốn đầu tư lớn cho xã hội. Đây là một nguồn vốn quan trọng, song khai
thác chưa hiệu quả. Bên cạnh đó khu vực kinh tế NQD càng phát triển thì nhu cầu
về vốn ngày càng gia tăng và có mối quan hệ mật thiết với các ngân hàng, đóng góp
vào sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng trong công tác huy động vốn.
2.5. Ngoài những vai trò trực tiếp nêu trên, khu vực kinh tế NQD tồn tại và phát
triển còn có tác dụng trên nhiều mặt sau
- Khu vực NQD phát triển thoả mãn một phần nhu cầu tiêu dùng xã hội, giúp cho
Nhà nước trong điều kiện vốn còn hạn hẹp, có thể tập trung đầu tư vào những ngành
nghề mũi nhọn, có tác dụng đến toàn bộ nền kinh tế và đời sống xã hội, tránh đầu tư
phân tán, dàn trải...Thực tiễn cho thấy có khu vực này nhiều ngành nghề, mặt hàng
và lĩnh vực kinh doanh Nhà nước không cần phải đầu tư hoặc chỉ đầu tư có hạn còn
về cơ bản khu vực kinh tế NQD đã đảm đương các chức năng bán lẻ các mặt hàng
tiêu dùng và tổ chức các dịch vụ tiêu dùng cho xã hội, đặc biệt ở địa bàn nông thôn
và miền núi.
- Khu vực kinh tế NQD tồn tại và phát triển góp phần thúc đẩy sự hình thành và
trước pháp luật.
Đối với người lao động và những người quản lý sản xuất kinh doanh, câu hỏi đặt ra
là làm sao thu được lợi nhuận cao nhất. Muốn vậy phải cải tiến sản xuất, kinh
doanh, nâng cao trình độ chuyên môn để sản xuất ra hàng hoá chất lượng cao, giá
thành hạ.
Quan hệ giữa người bán hàng dịch vụ và người mua hàng dịch vụ được thay đổi từ
quan niệm “bán như cho” thời bao cấp bằng quan niệm coi “khách hàng là thượng
đế” đã được hình thành.
Khu vực kinh tế NQD phát triển tác động cả vào các cơ quan quản lý trong việc
hoạch định chính sách và cải cách hành chính.
Vậy chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó vai trò của khu vực
kinh tế NQD đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và phản ánh đúng quy luật khách
quan của thời kỳ qua độ. Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng
6/1991) đã đánh giá: “Chính sách này được nhân dân hưởng ứng rộng rãi và đã đi
nhanh vào cuộc sống chính sách ấy đã góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân
dân về kinh tế, khơi dậy được nhiều tiềm năng va sức sáng tạo của nhân dân để phát
triển sản xuất, dịch vụ, tạo việc làm và sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy sự hình thành
và phát triển nền kinh tế hàng hoá, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị trường”.
Ngoài ra góp phần vào phát triển và tăng trưởng kinh tế ngoài quốc doanh có sự
tham giam tích cực của các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách và cải
cách hành chính đồng thời Nhà nước đã ban hành 51 luật, pháp lệnh và các Nghị
định, quyết định, chỉ thị của Chính phủ điều chỉnh và quản lý mọi hoạt động kinh tế
xã hội của đất nước nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển và lành
mạnh hoá các quan hệ kinh tế xã hội.
3. Quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế NQD và các chính sách kinh tế của
Nhà nước
3.1.Quan điểm của Đảng về phát triển khu vực kinh tế NQD
Nước ta đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, các luận điểm của Mác -
Ang ghen - Lênin về thời kỳ quá độ có thể vận dụng vào nước ta vì giai đoạn này là
giai đoạn Nhà nước của giai cấp công nhân đang đảm nhận nhiệm vụ lịch sử phát
vệ tinh cho các doanh nghiệp phát triển lớn hơn, khuyến khích phát triển kinh tế tư
nhân rộng rãi, trong những ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật không
cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế NQD
phát triển trên những hướng ưu tiên của Nhà nước.”
Ngoài ra còn nêu rõ ở nước ta hiện nay có các thành phần kinh tế sau:
+ Kinh tế tư bản Nhà nước.
+ Kinh tế cá thể, tiểu chủ.
+ Kinh tế tư bản tư nhân.
+ Kinh tế Nhà nước.
+ Kinh tế Hợp tác.
Thành phần kinh tế Nhà nước: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu nhà
nước về tư liệu sản xuấtchủ yếu, gồm những đơn vị kinh tế mà toàn bộ số vốn thuộc
về Nhà nước hoặc phần của Nhà nước chiếm phần khống chế.
Kinh tế quốc doanh hiện nay vẫn giữ vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước
ta, được hình thành do Nhà nước đầu tư xây dựng các cơ sở kinh tế trong tất cả các
ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, ngoài ra còn được hình thành bằng
con đường quốc hữu hoá các xí nghiệp tư nhân.
Thành phần kinh tế tập thể: là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể, gồm các
dơn vị kinh tế do nhũng người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức kinh doanh
theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi.
Hợp tác xã là hình thức chủ yếu của nền kinh tế tập thể, bao gồm hợp tác xã nông
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán, tín dụng. Những loại hình hợp tác
xã trên được hình thành với quy mô và mức độ khác nhau phù hợp với sự phát triển
của lực lượng sản xuất, yêu cầu của sản xuất và đời sống. Xu hướng vận động và
phát triển của kinh tế tập thể theo hướng kinh thành những cơ sở, tổ hợp kinh tế
công nông nghiệp để đi lên sản xuất lớn.
Thành phần kinh tế tư bản tư nhân: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu tư
bản chủ nghĩa và bóc lột lao động làm thuê, mặc dù không còn nguyên nghĩa như xã
hội cũ. Nó tồn tại trong những ngành có lợi trong quốc kế dân sinh, được Nhà nước
khuyến khích, kiểm soát và hướng theo con đường kinh tế tư bản Nhà nước.
Điểm khác biệt căn bản giữa thành phần kinh tế quốc doanh (KTQD) và thành phần
kinh tế NQD là tính chất sở hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Kinh tế quốc doanh
dựa trên sở hữu của Nhà nước, kinh tế ngoài quốc doanh dựa trên sở hữu tư nhân,
sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp giữa tư nhân với tập thể hay giữa các tư nhân với
nhau. Đảng và Nhà nước ta qua các kỳ Đại hội đã khẳng định kinh tế quốc doanh
giữ vai trò chủ đạo, kinh tế ngoài quốc doanh giữ vai trò mở đuờng cho sự nghiệp
phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
3.2.Các chính sách kinh tế của Nhà nước để phát triển kinh tế NQD
Quán triệt đường lối đổi mới kinh tế của Đảng nêu tại đại hội Đảng Cộng sản Việt
nam lần thứ VI, lần thứ VII, lần thứ VIII và Nghị quyết các hội nghị Trung ương.
Nhà nước đã nhanh chóng cụ thể hóa thành những chính sách cụ thể và luật hoá để
thực hiện. Trước hết cần phải được thể chế thành điều luật trong hiến pháp, điều 15
Hiến pháp năm 1992 đã qui định “ Nhà nước phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng
XHCN. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh
doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân,
trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”.
Về kinh tế NQD, điều 21 Hiến pháp năm1992 qui định: “kinh tế ngoài quốc doanh
được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp
không bị hạn chế về qui mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế
dân sinh”. Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu, nước
mạnh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân. Chính
sách kinh tế của Nhà nước còn nhằm giải phóng năng lực sản xuất, phát huy mọi
tiềm năng của các thành phần kinh tế thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Bằng các qui định của Hiến pháp, Nhà nước và xã hội đã chính thức thừa nhận sự
tồn tại của nền kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, nếu chỉ công nhận khu
vực kinh tế NQD tồn tại thôi thì chưa đủ mà cần phải định hướng cho khu vực kinh
tế NQD phát triển theo đúng đường lối của Đảng, đúng mục đích đã định ra không
để kinh tế NQD phát triển tự phát, chệch hướng. Vì vậy cần tiếp tục thể chế đường
1990 nhằm phục vụ công cuộc cải tạo XHCN, Nhà nước ta áp dụng ba chính sách
thu ngân sách cho ba khu vực khác nhau: Khu vực kinh tế Nhà nước áp dụng chính
sách thu quốc doanh và phân phối lợi nhuận, khu vực công thương nghiệp và dịch
vụ NQD áp dụng chính sách thu thuế công thương nghiệp và thuế hàng hoá, khu
vực nông nghiệp áp dụng chính sách thu thuế nông nghiệp. Ngay khu vực ngoài
quốc doanh công thương nghiệp và dịch vụ cũng có sự phân biệt giữa kinh tế tập thể
và kinh tế cá thể, theo khuynh hướng khuyến khích kinh tế tập thể bằng ưu đãi khi
tính thuế, miễn giảm thuế...
Để phù hợp với chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường, cần phải có một chính sách thuế thống nhất để tạo điều kiện cạnh tranh
công bằng và bình đẳng. Do đó việc ban hành các luật thuế áp dụng chung cho mọi
cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế là kịp thời và cần thiết. Về
nguyên tắc chung, hệ thống chính sách thuế mới đã đảm bảo sự điều tiết vĩ mô của
Nhà nước, khuyến khích sản xuất phát triển, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý.
- Ban hành luật khuyến khích đầu tư trong nước, thể hiện cụ thể về chủ trương của
Đảng và Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi người dân bỏ vốn sản
xuất kinh doanh. Trong luật khuyến khích đầu tư trong nước cũng ban hành luôn
các danh mục ngành nghề, danh mục các địa bàn khuyến khích đầu tư và chính sách
ưu đãi cụ thể đối với từng ngành nghề và từng địa bàn. Trong đó đặc biệt là các
chính sách ưu đãi miễn giảm thuế được các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế
NQD quan tâm và hoan nghênh.
Ngoài ra các chính sách về tín dụng như áp dụng chung một mức lãi suất, chính
sách về xuất nhập khẩu quy định mọi cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành
phần kinh tế đều được tham gia trực tiếp xuất nhập khẩu, chính sách về lao động
quy định mọi công dân đến tuổi lao động ở mọi hình thức, mọi thành phần kinh tế
đều có quyền lợi ngang nhau, chính sách về tiền lương cũng được ban hành mới và
sửa đổi, bổ xung cho phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần. Đồng thời Nhà nước cũng chỉ đạo mạnh mẽ việc cải tiến thủ tục hành
chính tạo môi trường sản xuất kinh doanh, môi trường đầu tư lành mạnh, thông
thoáng đã góp phần quyết định cho sự tồn tại và phát triển của khu vực kinh tế
không hoạt động, còn tình trạng lập sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ không đúng
thực tế nhằm mục đích trốn thuế diễn ra phổ biến.
- Khu vực kinh tế NQD có mô hình tổ chức quản lý và kinh doanh gọn nhẹ, năng
động và nhậy bén, là khu vực chiếm phần đông trong nền kinh tế song quy mô nhỏ
do vốn ít, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, dễ dàng thích ứng nhanh với sự biến
động của thị trường và sự tiến bộ không ngừng khoa học kỹ thuật, đồng thời trong
các doanh nghiệp số lượng lao động ít và thường đảm nhận chức vụ theo kiểu đa
năng giúp cho chi phí nhân công thấp tạo lợi thế cạnh tranh về giá và sản phẩm
cung cấp cho thị trường trong nước nhưng do quy mô quá nhỏ bé dẫn đến khó cạnh
tranh được trên thị trường quốc tế.
Trên đây là một số đặc điểm cơ bản của các thành phần kinh tế NQD. Từ đó ta có
thể thấy được những ưu, nhược điểm để tìm cách tạo điều kiện phát huy thế mạnh
cho khu vực kinh tế NQD góp phần vào quá trình hội nhập và phát triển kinh tế đất
nước.
ii. Nội dung quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD
1. Các sắc thuế áp dụng đối với khu vực kinh tế NQD
1.1. Thuế môn bài
Thuế môn bài thu một năm một lần nhằm mục đích hoàn thiện việc kiểm kê, kiểm
soát của Nhà nước đối với các cơ sở kinh doanh qua đó có căn cứ phân loại cơ sở
kinh doanh theo quy mô lớn, vừa hay nhỏ để có biện pháp quản lý thích hợp với
từng đơn vị và động viên một phần đóng góp của cơ sở kinh doanh ngay từ đầu mỗi
năm để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho ngân sách Nhà nước trong khi nhiều khoản
thuế chưa phát sinh nguồn thu. Thuế môn bài hiện nay đang áp dụng theo Nghị
định số 52/CP ngày 9/9/1996 quy định:
- Về đối tượng nộp thuế môn bài bao gồm:
+ Các cơ sở kinh doanh hạch toán kinh tế độc lập (DNNN, công ty, DN tư nhân, xí
nghiệp tư nhân, DN hoạt động theo luật đầu tư nước ngoài, tổ chức, các cá nhân
người nước ngoài đang kinh doanh tại Việt nam, các tổ chức hành chính sự nghiệp,
đoàn thể đăng ký hoạt động kinh tế) nộp thuế theo mức 850 nghìn đồng/năm.
+ Các cơ sở kinh doanh, cửa hàng, cửa hiệu hạch toán phụ thuộc hoặc báo sổ, Hợp
+ Cơ sở đang sản xuất kinh doanh thì nộp thuế môn bài ngay tháng đầu của năm
dương lịch
+ Cơ sở mới ra kinh doanh thì nộp thuế môn bài ngay tháng bắt đầu kinh doanh.
- Nơi nộp thuế môn bài:Cơ sở kinh doanh đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế cấp
nào thì nộp thuế môn bài tại cơ quan thuế cấp đó.
1.2. Thuế Giá trị gia tăng (GTGT).
Luật thuế GTGT thay thế luật doanh thu được áp dụng thống nhất kể từ 1/1/1999.
Thuế GTGT tính từ trên khoản GTGT thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng
khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng nên khắc phục được nhược điểm
đánh thuế trùng lặp của thuế doanh thu. Thuế được hoàn đối với hàng hóa xuất khẩu
sẽ phát huy hết tác dụng khi xuất khẩu, tạo điều kiện cho xuất khẩu có thể cạnh
tranh trên thị truờng quốc tế. Thuế GTGT kết hợp với hàng nhập khẩu làm tăng giá
vốn đối với hàng nhập khẩu, góp phần tích cực bảo vệ hàng hóa sản xuất trong nước
tăng cường hạch toán kế toán kinh doanh, thúc đẩy việc mua bán hàng hóa thực
hiện tốt chế độ hóa đơn để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, khuyến khích hiện
đại hoá, chuyên môn hóa sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ gía thành sản phẩm...
- Đối tượng đánh thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ở nước ta kể cả hàng
hoá sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu, hàng tiêu dùng nội bộ hay làm quà
biếu, tặng, đem trao đổi trừ 26 mặt hàng được quy định trong luật thuế GTGT.
- Đối tượng nộp thuế là mọi tổ chức, cá nhân (không phân biệt thành phần kinh tế)
có hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ. Đối tượng
phải kê khai thuế GTGT từng tháng và nộp thuế theo hạn thời hạn ghi trong báo cáo
nộp thuế của cơ quan thuế, chậm nhất không quá ngày 25 của tháng tiếp theo. Hết
năm phải kê khai để quyết toán thuế.
- Giá tính thuế GTGT là giá chưa có thuế GTGT. Khi bán hàng hoá hay cung cấp
dịch vụ trên hoá đơn phải ghi rõ giá bán hàng chưa có thuế GTGT, tiền thuế GTGT
phải nộp và giá bán gồm cả thuế GTGT.
- Về thuế suất: Có 4 mức thuế suất áp dụng đối với từng loại hàng hoá, dịch vụ.
+ Mức 0% áp dụng cho hàng hoá xuất khẩu.
+ Mức 5% áp dụng đối với hàng hoá và dịch vụ cần khuyến khích sản xuất tiêu
thống hoá những quy định ưu đãi về thuế.
- Về giá tính thuế:
Điều 7 Nghị định 54 của Chính phủ ngày 28/8/1993 quy định. Giá tính thuế hàng
nhập khẩu là giá mua tại cửa khẩu nhập (bao gồm cả phí vận chuyển, phí bảo
hiểm...) theo hợp đồng. Còn với hàng xuất nhập khẩu không đủ điều kiện xác định
giá tính thuế theo hợp đồng hay giá ghi trên hợp đồng quá thấp so với giá mua bán
tối thiểu tại cửa khẩu và đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu theo phương thức khác
không phải là mua, bán, không thanh toán qua ngân hàng) thì giá tính thuế là giá
mua, bán tối thiểu tại cửa khẩu.
- Về chính sách miễn giảm thuế:
Ngoài các đối tượng được miễn giảm thuế sau khi đã làm thủ tục hải quan như:
hàng Viện trợ không hoàn lại, hàng là tài sản di chuyển, hàng trong tiêu chuẩn hành
lý miễn thuế của khách nhập cảnh... Luật thuế xuất, nhập khẩu hiện hành còn quy
định những đối tượng sau được xét miễn giảm thuế: hàng chuyên dùng cho an ninh
quốc phòng, nghiên cứu giáo dục và đào tạo...
Quy định nói trên cho thấy chính sách miễn giảm thuế hiện nay còn khá rộng rãi so
với các nước trong khu vực làm cho chính sách thuế thiếu tính minh bạch, giảm tính
trung lập của thuế.
1.4. Thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)
Như các luật thuế khác, luật thuế TTĐB quy định mọi tổ chức cá nhân không phân
biệt thành phần kinh tế có sản xuất kinh doanh hàng hoá và kinh doanh dịch vụ
thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB là đối tượng nộp thuế TTĐB. Căn cứ tính thuế
TTĐB là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và thuế suất.
1.5. Các sắc thuế khác
Ngoài các sắc thuế nói trên, các cơ sở sản xuất kinh doanh còn phải nộp các khoản
thuế khác như thuế nhà đất, thuế tài nguyên...Tuy nhiên vì các khoản này không
phát sinh thường xuyên hay rất nhỏ nên không trình bày kỹ mục đích ý nghĩa, nội
dung chính sách thu.
2- Nội dung quản lí thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
2.1 Qui trình quản lí thu thuế đối với các doanh nghiệp