Tình hình quản lý thu thuế giá trị gia
tăng ở khu vực Kinh tế cá thể trên địa
bàn Quận Ba Đình quý I năm 1999.
I. Đặc điểm kinh tế- x hội và tình hình quản lý ã
thu thuế trên địa bàn quận Ba Đình:
1. Một số nét về đặc điểm kinh- tế xã hội:
Quận Ba Đình là một trong 7 quận nội thành của thủ đô Hà nội. Trên địa bàn
quận Ba Đình gồm 15 phờng ( hiện nay là 12 phờng), đây là một quận có nhiều cơ
quan trung ơng của Đảng và Chính phủ, các cơ quan ngoại giao, đại sứ, đồng trụ sở.
Cùng với sự phát triển của kinh tế toàn thành phố và nền kinh tế thị trờng thì các
thành phần kinh tế trên địa bàn quận cũng phát triển mạnh mẽ. Ngoài ra, do nguyên
nhân thiếu việc làm mà một số lợng không nhỏ cán bộ công nhân viên chức ra buôn
bán ngày càng tăng và có sự biến động liên tục.
Trên địa bàn quận Ba Đình không có các trung tâm thơng mại lớn, chỉ có
một số chợ ở tầm cỡ trung bình nh chợ Long Biên, chợ Ngọc Hà.., một số chợ xanh
ở các khu nhà cao tầng, các khu vực đông dân c. Các hộ buôn bán cá thể còn tập
trung ở các dãy phố chính nh trục đờng Nguyễn Thái Học- Kim Mã, Giảng Võ- Đ-
ờng La Thành.. Các hộ cá thể kinh doanh ở quận Ba Đình chủ yếu là những hộ nhỏ.
Các hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là các hộ đợc phát triển từ kinh tế
phụ gia đình dần dần trở thành nghề kiếm sống của cả gia đình nhng đây cũng chỉ
là những hộ vừa và nhỏ.
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế, quận Ba Đình cũng đã đóng góp
không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân. Quý I năm 1999 toàn quận đã đạt đợc những
thành tích sau:
Sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh: giá trị sản xuất công nghiệp ớc đạt
19.083 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trớc tăng 10,12%, trong đó khối HTX tăng
19,18%, khối cá thề tăng 7,45%, khối công ty TNHH tăng 48,88% .
Hoạt động kinh doanh của khối chợ khá ổn định và có hiệu quả. Cải tạo
nâng cấp chợ Châu Long và chợ Thành Công A chuẩn bị đa vào hoạt động kinh
doanh. Triển khai các thủ tục xây dựng trung tâm thơng mại dịch vụ Cống Vị.
Công tác thu thuế: Tập trung chỉ đạo thực hiện hai luật thuế mới. Tăng c ờng
1 Chi cục trởng Phụ trách chung.
1 Chi cục phó Phụ trách khối cá thể.
1 Chi cục phó Phụ trách về đất + phí.
1 Chi cục phó Phụ trách vấn đề nghiệp vụ.
- Các bộ phận trực thuộc chi cục đợc tổ chức :
+ Phòng thanh tra, kiểm tra 10 ngời
+ Phòng ngiệp vụ 11 ngời
+ Phòng hành chính, tổ chức 5 ngời
+ Đội thuế Điện Biên- Kim Mã 13 ngời
+ Đội thuế Thành công-Giảng Võ 14 ngời
+ Đội thuế Ngọc khánh-Ngọc Hà 10 ngời
+ Đội thuế Đội Cấn-Cống Vị 14 ngời
+ Đội thuế Quán Thánh-Trúc Bạch 13 ngời
+ Đội thuế Trung trực-Phúc Xá 7 ngời
+ Đội thuế Chợ Long Biên 8 ngời
+ Đội thu khác 11 ngời
Với việc tổ chức bộ máy thu thuế nh vậy trong những năm qua Chi cục
thuế Quận Ba Đình đã đạt những thành tích đáng khích lệ trong việc quản lý thu
thuế đối với thành phần kinh tế cá thể. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều những hạn chế
và thiếu sót cần đợc khắc phục.
II. Tình hình quản lý thu thuế Giá trị gia tăng đối
với các hộ kinh tế cá thể trên địa bàn quận Ba
Đình trong những tháng đầu thực hiện luật
thuế mới:
1. Quản lý đối tợng nộp thuế:
Theo luật thuế Giá trị gia tăng quy định thì tất cả các cơ sở sản xuất, kinh
doanh phải có trách nhiệm kê khai đăng ký thuế với cơ quan thuế theo quy định của
Nhà nớc. Qua đó cơ quan thuế có thể nắm đợc số hộ sản xuất kinh doanh trên địa
bàn, phân loại hộ và phân nghành nghề để có thể quản lý một cách chặt chẽ đối t-
ợng nộp thuế.
Số hộ % Số hộ %
Tổng số hộ 3679 100 4159 100
Bậc 1 148 4,023 200 4,8
Bậc 2 109 2,96 130 3,12
Bậc 3 439 11,93 584 14,04
Bậc 4 973 26,45 1441 34,65
Bậc 5 1573 42,76 1804 43,39
Bậc 6 437 11,877
Diễn giải
Năm 1998 Quý I năm 1999
Với biểu số liệu trên, ta nhận thấy:
1. Số hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn của năm 1999 đã tăng so với
năm 1998 là: 480 hộ, tơng ứng 13%.
2. Trong tổng số hộ t nhân sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận số hộ bậc
5 chiếm tỉ trọng cao nhất : Năm 1998 chiếm 42,76%, năm 1999 chiếm
43,39%.
3. Mức độ kinh doanh của các hộ có xu hớng tăng ở tất cả các bậc
so với năm 1998:
Bậc 1: tăng 52 hộ tơng ứng 35%
Bậc 2: tăng 21 hộ tơng ứng 19%
Bậc 3: tăng 145 hộ tơng ứng 33%
Bậc 4: tăng 468 hộ tơng ứng 48%
Bậc 5: tăng 231 hộ tơng ứng 14%
Riêng bậc 6 giảm 100%, nh vậy các hộ đã chuyển hớng nâng cấp dần
tình trạng kinh doanh của mình ổn định hơn, có sự đầu t và thu nhập khá hơn.
Qua biểu trên có thể thấy các hộ cá thể trên địa bàn đã phát triển cả về số l-
ợng và quy mô sản xuất kinh doanh. Nguyên nhân của sự phát triển trên là do chính
sách của nhà nớc đã tạo cho môi trờng kinh doanh thuận lợi hơn. Cơ chế thị trờng
kết hợp với các chính sách của Đảng và Nhà nớc đã giúp cho thành phần kinh tế
tuyệt đối nhng về số tơng đối lại giảm. Năm 1998 có 514 hộ chiếm 14%. Năm
1999 có 546 hộ chiếm 13,1%. Từ đó ta thấy rằng hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ
này không hiệu quả mặc dù số hộ có tăng lên về số tuyệt đối, bởi vì trong năm
1999 do thay đổi lại điều kiện cấp phép kinh doanh cho các hộ cho thuê băng hình
mà nhiều hộ kinh doanh loại này đã phải chuyển hoặc thôi không kinh doanh nữa.
Các hộ t nhân sửa chữa lặt vặt và nhất là sửa chữa điện lạnh ở trên địa bàn
Quận Ba Đình kinh doanh không ổn định và kém hiệu quả nên một số đã xin
chuyển sang bán thơng nghiệp, một số phải chuyển đi kinh doanh ở các nơi khác có
hiệu quả hơn.
Số hộ tăng lên tuyệt đối của ngành dịch vụ chủ yếu là loại hình rửa xe máy,
photocopy, chụp ảnh nhng không phải là sự tăng lên đáng kể.
3. Hai nghành ăn uống và thơng nghiệp: đều có xu hớng giảm mặc dù số hộ
kinh doanh ở hai ngành này đều tăng lên về số tuyệt đối.
Ngành thơng nghiệp là ngành có số hộ kinh doanh cao nhất và tỷ trọng của
nó là lớn nhất trong tổng số hộ kinh doanh.
Ngành thơng nghiệp: Năm 1998 có 1792 hộ chiếm 48,7%. Năm 1999 có
1904 hộ chiếm 45,78%. So sánh về số tuyệt đối thì tăng nhng về số tơng đối lại
giảm, năm 1999 giảm so với năm 1998 là 2,92%. Điều đó chứng tỏ rằng ngành th-
ơng nghiệp kinh doanh có hiệu quả hơn các ngành khác, tuy nhiên có quá nhiều hộ
kinh doanh nên số tăng không lớn.
Mặt hàng chủ yếu của các hộ kinh doanh thơng nghiệp là bán tạp hoá, đồ
điện dân dụng, ở các chợ là các mặt hàng thực phẩm thiết yếu đối với đời sống của
nhân dân. Đặc biệt trên địa bàn Quận Ba Đình không có hộ kinh doanh điện máy,
kinh doanh xe máy, kinh doanh các mặt hàng điện tử cao cấp. Trong số hộ kinh
doanh thơng nghiệp này chỉ có 20 hộ kinh doanh vàng bạc nằm rải rác trên toàn địa
bàn. Các hộ kinh doanh vàng bạc này hàng tháng nộp thuế bình quân là 15.000.000
đ.
Ngành ăn uống: Số hộ kinh doanh ăn uống tăng lên về số tuyệt đối nh ng lại
giảm về số tơng đối. Cụ thể năm 1998 có 1064 hộ chiếm tỷ trọng 28,9%, năm 1999
có 1162 hộ chiếm tỷ trọng 27,93% tuy tăng số hộ tuyệt đối là 98 hộ. Số hộ tăng này
quản lý nhằm thâm nhập một cách cặn kẽ tình hình thực tế, đa các hộ mới ra kinh
doanh vào diện quản lý.
Tuy nhiên, số hộ cha quản lý đợc vẫn còn lớn hầu nh ở ngành nào, năm nào
cũng có số lợng hộ cha quản lý đợc.
Theo số liệu năm 1998 thì số lợng hộ cha quản lý đợc là 299 hộ với tỷ lệ
7,6%. Ta thấy hộ cha quản lý đợc chủ yếu tăng ở ngành thơng nghiệp (184 hộ), sản
xuất (11 hộ), dịch vụ (17 hộ), ăn uống (90 hộ).
Đến năm 1999, số hộ cha đa vào sổ bộ thực tế là 421 hộ với tỷ lệ hộ cha
quản lý là 9,3% và cũng tập trung ở ngành thơng nghiệp (184 hộ), sản xuất (18 hộ),
dịch vụ (34 hộ), ăn uống (178 hộ) và vận tải (11 hộ).
Qua bảng số liệu đó chúng ta thấy đợc công tác quản lý của các cán bộ thuế
thực tế cha có hiệu quả lắm, số hộ cha quản lý đợc tơng đối lớn mặc dù các cán bộ
thuế đã cố gắng hết sức để làm giảm đợc số lợng hộ cha quản lý đợc này. Tuy
nhiên, trong công tác này các cán bộ quản lý thuế của chi cục thuế Quận Ba Đình
cũng đã có những nỗ lực và thu đợc các kết quả nhất định:
Tuy số hộ cha đa vào quản lý năm 1999 cao hơn số hộ cha đa vào quản lý
năm 1998 (từ 7,6% lên 9,3%) nhng thực chất cán bộ quản lý đã có nhiều tích cực
bám sát địa bàn, thờng xuyên kiểm tra số hộ nhng cũng không thể kiểm tra hết đợc
những hộ buôn bán lặt vặt, ngồi vỉa hè, cán bộ công nhân viên nhà nớc đi làm ban
ngày sớm tối ra bán hàng thêm.
Đồng thời với số liệu điều tra của cơ quan thống kê là cao hơn so với số đ -
ợc cấp phép đăng ký kinh doanh. Cụ thể, năm 1999 theo số liệu điều tra của cơ
quan thống kê trên địa bàn Quận Ba Đình hiện có 4530 hộ nhng đợc cấp giấy đăng
ký kinh doanh là 4159 hộ và số hộ đã đa vào diện quản lý là 4109 hộ. Nh vậy so
sánh giữa số hộ hiện kinh doanh và số hộ đã đa vào quản lý thu thuế thì chênh lệch
là 421 hộ nhng nếu so sánh giữa số hộ đã cấp đăng ký kinh doanh và hộ đã đa vào
quản lý thu thuế chênh lệch là 50 hộ, điều này chứng tỏ cán bộ quản lý thuế đã hết
sức cố gắng trong công tác quản lý về hộ kinh doanh.
Còn có sự chênh lệch 421 hộ khi so sánh giữa hộ thực tế kinh doanh và hộ
đã đa vào quản lý là do có nhiều hộ buôn bán kinh doanh nhỏ, thu nhập thấp và