Phơng hớng và biện pháp đổi mới, hoàn thiện chính
sách thơng mại Xuất khẩu của Việt Nam trong quá
trình hội nhập AFTA dới góc độ các chỉ tiêu tài chính.
3.1 Các chỉ tiêu cơ bản của chính sách thơng mại xuất khẩu giai đoạn
2001-2010.
3.1.1 Về quy mô và tốc độ tăng trởng.
Các chỉ tiêu XNK một phần quan trọng tuỳ thuộc vào chỉ tiêu chung của nền
kinh tế. Theo dự thảo chiến lợc phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 2001-2010 thì trong
vòng 10 năm tới GDP sẽ tăng gấp đôi (bình quân hàng năm phải tăng khoảng 7,2%);
giá trị sản lợng nông nghiệp tăng khoảng 4%/năm, vào năm 2010 sản lợng lơng thực
đạt 40 triệu tấn, nông nghiệp chiếm tỷ trọng khoảng 16-17% GDP trong đó tỷ trọng
sản phẩm chăn nuôi tăng từ 18,6% lên 20-25%, thuỷ sản đạt sản lợng 2,5-3 triệu tấn;
giá trị gia tăng của công nghiệp tăng bình quân hàng năm 8-9%, đến năm 2010 công
nghiệp chiếm tỷ trọng 40-41% GDP, tỷ trọng công nghiệp chế tác chiếm 80% giá trị
sản xuất công nghiệp. Dự kiến nhịp độ tăng trởng XK nhanh gấp đôi nhịp độ tăng tr-
ởng GDP, tức là khoảng 14,4%/năm, trong đó: nông sản XK qua chế biến đạt kim
ngạch 6-7 tỷ USD vào năm 2010, lơng thực bình quân 4-5 triệu tấn/năm, khoáng sản
đạt kim ngạch khoảng 3 tỷ USD, sản phẩm công nghiệp chiếm 70-80% tổng kim
ngạch XK (các chỉ tiêu này sẽ còn đợc điều chỉnh).
- Việc gia tăng XK 14,4%/năm là nhiệm vụ không đơn giản.
+ Xuất phát điểm của thời kỳ 2001-2010 cao hơn nhiều so với thời kỳ 1991-
2000 (13,5 tỷ USD so với 2,4 tỷ USD). Với những hạn chế còn tồn tại trong nhiều
lĩnh vực đặc biệt là những hạn chế mang tính cơ cấu, thì việc gia tăng giá trị tuyệt đối
ở mức trên 2 tỷ USD/năm đòi hỏi sự nỗ lực cao độ trong công tác XNK.
+ Trong 10 năm qua, khối DN có vốn đầu t nớc ngoài đã đóng góp một phần
khá lớn cho tăng trởng XK, mở ra những mặt hàng mới và khai phá các thị trờng mới.
Kể từ năm 1998, đầu t nớc ngoài vào nớc ta có chiều hớng chững lại và giảm dần.
Hiện nay cha rõ khả năng có chặn đứng đợc chiều hớng này không. Nếu chiều hớng
đó còn tiếp diễn thì có thể ảnh hởng đáng kể tới tốc độ tăng trởng XK, chí ít là trong
những năm đầu của thời kỳ 2001-2010.
Bộ Thơng mại đề xuất chỉ tiêu phấn đấu tăng tởng XNK thời kỳ 2001-2010 nh
nhiều nhân tố khó lờng do đó cần đề phòng nhng tình huống bất trắc nảy sinh.
3.1.2 Cơ cấu hàng hoá và dịch vụ XK.
3.1.2.1 Cơ cấu hàng hoá XK.
Cơ cấu XK hàng hoá trong 10 năm tới cần đợc chuyển dịch theo hớng chủ
yếu sau:
Trớc mắt huy động mọi nguồn lực hiện có để đẩy mạnh XK, tạo công ăn việc
làm, thu ngoại tệ. Đồng thời cần chủ động gia tăng XK sản phẩm chế biến và chế
tạo với giá trị gia tăng ngày càng cao, chú trọng các sản phẩm có hàm lợng công
nghệ và trí thức cao, giảm dần tỷ trọng hàng thô.
Mặt hàng, chất lợng, mẫu mã cần đáp ứng nhu cầu của thị trờng và rất cần
chú trọng việc gia tăng các hoạt động dịch vụ. Nhng chúng ta thấy rằng các mặt
hàng XNK mới đợc đề cập chủ yếu ở trạng thái tĩnh, cha thể dự báo đợc
những mặt hàng sẽ xuất hiện trong tơng lai do thị trờng mách bảo và năng lực
sản xuất của ta.
Theo các hớng nói trên, chính sách các nhóm hàng có thể hình dung nh sau:
(Xem phụ lục 3).
3.1.2.2 Cơ cấu dịch vụ XK:
Các ngành dịch vụ thu ngoại tệ bao gồm nhiều lĩnh vực (theo WTO và AFTA
thì có tới 155 loại hình), bản này mới chỉ có thể đề cập tới các lọai hình dịch vụ
nh du lịch, XK lao động, vận tải hàng không, bu chính viễn thông và dịch vụ ngân
hàng. Cụ thể xem phụ lục 3.
3.1.3 Về thị trờng xuất khẩu
Một trong những khâu then chốt của Chính sách phát triển XNK đến năm
2010 là mở rộng và đa dạng hoá thị trờng. Quan điểm chủ đạo là:
-Tích cực, tranh thủ mở rộng thị trờng, nhất là sau khi tham gia AFTA, WTO.
- Đa phơng hoá và đa dạng hoá quan hệ với các đối tác, phòng ngừa chấn
động đột ngột.
- Đa dạng hoá thị trờng tiếp tục là hớng cơ bản trong 10 năm tới, trọng điểm
vẫn đạt vào thị trờng Châu á-Thái Bình Dơng trong đó thị trờng ASEAN song cần
2
thực phẩm chế biến, sản phẩm nhựa, hàng bách hoá (đối với Lào và Campuchia).
Về NK, mặt hàng chủ yếu từ thị trờng này sẽ là nguyên liệu sản xuất dầu thực vật,
phân bón, linh kiện vi tính, cơ khí điện tử, xăng dầu, sắt thép, tân dợc và một số
chủng loại máy móc thiết bị phụ tùng.
Trung Quốc là một thị trờng lớn, lại ở sát nớc ta đồng thời lại là một nớc có
khả năng cạnh tranh cao không những trên thị trờng thế giới mà còn ngay cả trên
thị trờng nớc ta. Do đó, Trung Quốc vừa là bạn hàng quan trọng đầy tiềm năng của
nớc ta, vừa là đối thủ cạnh tranh. Với ý nghĩa đó ta cần tích cực, chủ động hoá
trong việc thúc đẩy buôn bán với Trung Quốc mà hớng chính là các tỉnh Vân Nam
và Tây Nam Trung Quốc, phấn đấu đa kim ngạch lên khoảng 3-4 tỷ USD. Một
trong những phơng cách là tranh thủ thoả thuận ở cấp Chính phủ về trao đổi mặt
hàng với số lợng lớn, trên cơ sở ổn định, thúc đẩy buôn bán chính ngạch. Bên cạnh
đó, tính đến chính sách của Trung Quốc, ta nên có chính sách thích hợp, coi trọng
buôn bán biên mậu, tận dụng phơng thức này để gia tăng XK trên cơ sở hình thành
sự điều hành tập trung và nhịp nhàng từ phía ta. Đồng thời, cần chú trọng thị trờng
3
3
Hồng Kông một thị trờng tiêu thụ lớn và vốn là một khâu trung chuyển quan
trọng nhng gần đây có xu hớng thuyên giảm trong buôn bán với ta.
Mặt hàng chủ yếu đi vào hai thị trờng này sẽ là hải sản, cao su, rau hoa quả,
thực phẩm chế biến và hoá phẩm tiêu dùng. Hàng NK chủ yếu từ Trung quốc sẽ là
hoá chất, thuốc trừ sâu, một số chủng loại phân bón, chất dẻo nguyên liệu, bông,
sắt thép, máy móc, thiết bị và phụ tùng. Bên cạnh đó, cần tính đến việc hàng Trung
quốc gia tăng cạnh tranh với hàng hoá nớc ta sau khi Trung Quốc gia nhập WTO.
Tỷ trọng XK vào Nhật Bản phải đợc tăng từ 15,8% hiện nay lên 17-18%,
ngang với mức của năm 1997. Với đà phục hồi của kinh tế Nhật Bản, có thể và cần
phải tăng XK vào Nhật Bản ở mức 21-22%/năm để đến năm 2005 tổng kim ngạch
vào thị trờng này đạt mức 5,4-5,9 tỷ USD. Ta và Nhật cần có sự trao đổi, bàn bạc
(tốt nhất là trong khuôn khổ song phơng bởi dự kiến đàm phán gia nhập WTO của
sản, cao su, dệt may, giày dép, rau quả và chè. Sau năm 2002 có thể có thêm các
sản phẩm nh cơ khí và điện gia dụng do cơ sở có vốn đầu t của Đài Loan sản xuất
4
4
tại Việt Nam có thể tăng phù hợp với xu thế dịch chuyển sản xuất nh đã nêu trên.
Hàng nhập từ Đài Loan có thể là linh kiện điện tửvi tính-cơ khí, máy móc, thiết
bị, phụ tùng, nguyên phụ liệu dệt-may-da, sắt thép.
3.2 Quan điểm về hoàn thiện chính sách thơng mại XK của Việt Nam
trong quá trình tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA).
Hoạt động xuất nhập khẩu trong 10 năm tới cần phục vụ trực tiếp cho mục
tiêu chung sẽ đợc thông qua tại Đại hội lần thứ IX của Đảng với nội dung cơ bản
là: nỗ lực gia tăng tốc độ tăng trởng XK, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH, tạo
công ăn việc làm, thu ngoại tệ: chuyển dịch cơ cấu XK theo hớng nâng cao giá trị
gia tăng, gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, các loại sản phẩm có hàm lợng
công nghệ và chất xám cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ; về nhập khẩu chú trọng
thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, nhất là công nghệ tiên tiến , bảo đảm
cán cân thơng mại ở mức hợp lý, tiến tới cân bằng kim ngạch XNK, mở rộng và đa
dạng hoá thị trờng và phơng thức kinh doanh, hội nhập thắng lợi vào kinh tế khu
vực và thế giới.
3.2.1 Quan điểm 1: Việc đổi mới và hoàn thiện chính sách thơng mại
quốc tế phải phù hợp với tiến trình hội nhập ASEAN-AFTA.
Chủ động hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới trên cơ sở giữ vững độc
lập tự chủ và định hớng XHCN, với kế hoạch tổng thể và lộ trình hợp lý, phù hợp
với trình độ phát triển của đất nớc và quy định của các tổ chức mà ta tham gia, đẩy
mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý; hoàn chỉnh hệ
thống pháp luật; nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các DN cũng nh của
toàn bộ nền kinh tế làm khâu then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với việc mở
rộng kinh doanh XNK, hội nhập quốc tế.
Quan điểm mục tiêu của việc hội nhập kinh tế khu vực và thế giới tạo điều
Để thực hiện quan điểm chủ trơng của Đảng và nhà nớc đa phơng hoá, đa
dạng hoá các quan hệ thơng mại, nhà nớc ta đã từng bớc thực hiện đổi mới hoạt
động thơng mại quốc tế để hoà nhập vào khu vực và thế giới.
Quan điểm bảo hộ chọn lọc nh chúng ta đã biết trong quá trình tham gia
hội nhập với nền kinh tế khu vực, cùng các nớc ASEAN xây dựng khu vực mậu
dịch tự do vì lý do mà chúng ta không thể đi ngợc lại với xu thế chung của quá
trình tự do hoá thơng mại để tiếp tục duy trì hàng rào bảo hộ mậu dịch. Do đó
vấn đề bảo hộ chọn lọc các mặt hàng sản xuất trong nớc cần đợc đặt ra là:
Chỉ bảo hộ những mặt hàng sản xuất trong nớc đáp ứng nhu cầu có tiềm năng
phát triển về sau, tăng thu đợc ngân sách và giải quyết lao động.
Nguyên tắc bảo hộ phải đợc áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế
kể cả doanh nghiệp có vốn nớc ngoài.
Cơ sở bảo hộ đợc quy định cho một số ngành nghề và có thời gian cụ thể về
nguyên tắc, không có bảo hộ vĩnh viễn với bất kỳ ngành nghề nào.
Xác định cụ thể chính sách bảo hộ sản xuất trong nớc với các yêu cầu về
mức độ và thời gian bảo hộ thích hợp cho từng ngành sản xuất, phù hợp với chiến
lợc u tiên phát triển ngành.
3.2.4 Quan điểm 4: Xây dựng đồng bộ hệ thống chính sách quản lý th-
ơng mại quốc tế :
Trong quá trình hội nhập của nớc ta thì nhợc điểm coi nh là lớn nhất của
chính phủ ta trong hoạt động thơng mại quốc tế là thiếu sự phối hợp giữa các bộ
ngành các địa phơng trong việc xây dựng và thực hiện chính sách thơng mại thống
nhất. Vì vậy cần phải đẩy mạnh sự phân cấp quản lý giữa trung ơng và địa phơng.
Chính phủ và các bộ, ngành sẽ tập trung xây dựng thể chế, xây dựng quy hoạch và
chiến lợc phát triển toàn quốc, giảm bớt sự can thiệp vào công việc của địa phơng.
Đồng thời ra sức củng cố chính quyền địa phơng hợp lý vững mạnh để phát huy
vai trò chủ động sáng tạo của mỗi địa phơng. Đặc biệt phối hợp giữa trung ơng và
6
6
cho nhiều lao động, tạo ra nhiều sản phẩm xuất khẩu chất lợng cao, cạnh tranh đợc
với thị trờng thế giới.
3.3.1 Phơng hớng hoàn thiện công cụ chính sách thuế XNK.
Qua đánh giá thực trạng chính sách thuế của Việt Nam (Xem phụ lục 4) từ góc
độ hội nhập cho thấy điểm tổng quát nhất của hệ thống chính sách thuế là mới hình
thành và phát triển từ đầu những năm 90. Do đó, còn có những chính sách mang tính
chất tình thế, đối phó ngắn hạn với các đòi hỏi phát sinh trong giai đoạn hiện nay của
nền kinh tế, cha thật ổn định, cha thể đáp ứng những yêu cầu dài hạn, đặc biệt là cha
7
7
hoàn toàn tuân thủ các quy tắc hội nhập quốc tế. Để giải quyết tình trạng này trong
thời gian tới chúng ta có một số định hớng sau:
Trớc hết, do hệ thống thuế quan hiện nay còn nhiều bất cập nên rất cần phải
hoàn thiện hơn nữa.Việc hoàn thiện chính sách thuế quan này phải luôn gắn chặt với
định hớng hội nhập. Do vậy, việc hoàn thiện chính sách thuế quan sẽ đợc tiến hành
nh sau:
*Hoàn thiện chính sách:
-Xây dựng Biểu thuế nhập khẩu.
-Trên cơ sở thống nhất chủ trơng thuế nhập khẩu là công cụ bảo hộ chứ không
phải là nguồn thu ngân sách, đồng thời trên cơ sở chiến lợc ngành hàng. Xu thế hội
nhập hiện nay sẽ dẫn đến một số thay đổi trong các chức năng của thuế nhập khẩu.
Vai trò đối với số thu sẽ mất dần tầm quan trọng và vai trò bảo hộ công nghiệp cũng
đợc chuyển dần theo hớng hạn chế và có chọn lọc hơn. Hàng rào bảo hộ này phải đạt
đợc mục tiêu khuyến khích chuyển dịch cơ cấu công nghiệp căn cứ theo những lợi
thế tơng đối của đất nớc, nâng dần khả năng cạnh tranh, đồng thời giảm dần những
nguy cơ đối với các ngành sản xuất trong nớc do bớc quá độ thực hiện mở cửa nền
kinh tế. Công cụ chủ yếu để bảo hộ sản xuất trong nớc còn đợc thế giới chấp nhận là
thuế nhng thuế cũng phải giảm dần thông qua đàm phán song biên và đa biên.
-Tính toán các tỷ lệ bảo hộ thực tế, phân tích giá trị gia tăng trong từng ngành
vệ đợc u tiên hàng đầu.
*Thực hiện đơn giản hoá các mức thuế suất: việc tham gia vào quá trình hội
nhập đòi hỏi chúng ta phải xây dựng một hệ thống thuế trung lập thể hiện rõ nhất ở
việc đơn giản hoá các mức thuế suất để có thể phân bổ các nguồn lực một cách hợp
lý, khuyến khích các nhà sản xuất đầu t vào những lĩnh vực có lợi thế so sánh lớn,
có thể đạt đợc hiệu quả sản xuất cao, có khả năng cạnh tranh đợc với hàng hoá các
nớc. Đồng thời một hệ thống thuế trung lập và rõ ràng cụ thể đối với từng sắc thuế
nh sau:
- Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, áp dụng một thuế suất thống nhất cho
mọi ngành sản xuất, kể cả đầu t trong nớc và đầu t nớc ngoài. Đồng thời, cần
nghiên cứu, xác định mức thuế suất hợp lý so với mặt bằng chung trong khu vực để
tạo điều kiện thu hút đầu t nớc ngoài trực tiếp từ những nớc ngoài khu vực.
- Chúng ta đã chuyển sang thực hiện thuế giá trị gia tăng (VAT) thay cho thuế
doanh thu. Với sự thay đổi này, chúng ta không chỉ khắc phục đợc tình trạng đánh
trùng của thuế doanh thu mà còn cải thiện nột cách cơ bản trong việc đơn giản hoá
các mức thuế suất.
Tuy nhiên, mức thuế suất thuế VAT cũng cần đợc nghiên cứu, xác định một
cách hợp lý để vừa có tác động thuận lợi về số thu, vừa tác động một cách hiệu quả
tới việc khuyến khích kinh doanh. Ngoài ra, việc ban hành và áp dụng thuế VAT cả
đối với hàng nhập khẩu còn tạo điều kiện hạn chế phần giảm thu của ngân sách khi
chúng ta phải thực hiện các bớc cắt giảm thuế nhập khẩu.
* Mở rộng diện chịu thuế điều này có một ý nghĩa quan trọng nhằm tăng thu
cho ngân sách, góp phần giải quyết những vấn đề về số thu bị giảm khi chúng ta
phải cắt giảm thuế nhập khẩu khi tham gia AFTA. Mở rộng diện chịu thuế có thể
đợc thực hiện thông qua các sắc thuế cụ thể nh sau:
- Hạn chế, loại bỏ những diện u đãi, miễn giảm trong mọi sắc thuế;
- Mở rộng việc áp dụng phơng pháp khấu trừ thuế tại nguồn đối với các trờng
hợp có nguồn thu phát sinh tại Việt Nam của các đối tợng c trú nớc ngoài.
- Đối với thuế nhập khẩu, có thể nghiên cứu để nâng mức thuế suất 0% trong
một số trờng hợp. Nhng thuế suất này cần đợc xem xét cụ thể căn cứ theo kim
đến 8% thu nhập của Chính phủ, trong khi đó tổng thu về ngân sách chiếm khoảng
từ 40% đến 50% GDP. Nh vậy, trong tiến trình tham gia hội nhập khu vực Việt
Nam cũng không nằm ngoài cải cách hệ thống, chính sách thuế chắc chắn sẽ dẫn
đến những thay đổi trong cơ cấu số thu từ thuế, tỷ trọng thuế gián thu (trong đó có
thuế nhập khẩu) sẽ giảm và ngợc lại tỷ trọng thuế trực thu sẽ tăng lên. Việc chúng
ta nghiên cứu ban hành các luật thuế: thuế cá nhân sẽ là bớc cải cách căn bản đầu
tiên nhằm khai thác tối đa các nguồn thu cho ngân sách nhà nớc, đồng thời tạo ra
những công cụ thuận lợi để thực hiện các chính sách đầu t vĩ mô của Nhà nớc.
3.3.2 Phơng hớng hoàn thiện công cụ chính sách mặt hàng và chính sách
thị trờng.
3.3.2.1 Đối với chính sách mặt hàng.
10
10
Để đạt đợc mục tiêu tăng trởng xuất khẩu với tốc độ nhanh, thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, cần có một t duy mới về cơ cấu hàng hoá, thể
hiện ở ba mặt chủ yếu sau đây:
Một là, chuyển hoàn toàn và chuyển nhanh, mạnh sang hàng chế biến sâu, giảm
tới mức tối đa hàng nguyên liệu và giảm tới mức thấp các hàng sơ chế; nghĩa là
chuyển hẳn từ xuất khẩu tài nguyên thiên nhiêu sang xuất khẩu giá trị thặng d.
Hai là, phải mở ra các mặt hàng hoàn toàn mới. Một mặt chuyển từ xuất khẩu
sản phẩm thô sang xuất khẩu hàng chế biến đối với các hàng đã có (nh chuyển từ dầu
thô và khí nguyên liệu sang xăng dầu, nhớt, phân bón, hoá chất; chuyển từ nông sản
thô sang nông sản chế biến; từ lắp ráp điện tử sang chế tạo và xuất khẩu linh kiện...).
Mặt khác, cần mở ra các mặt hàng hiện nay cha có, nhng có tiềm năng và có triển
vọng, phù hợp với xu hớng quốc tế. Đó là các mặt hàng: sản phẩm kỹ thuật điện,
sản phẩm điện tử, máy công nghiệp, dịch vụ (du lịch, vận tải, sửa chữa tàu thuỷ,
phục vụ dầu khí, phục vụ hàng không...) và các sản phẩm trí tuệ. Trong các sản
phẩm trí tuệ, xử lý dữ liệu máy tính điện tử và soạn thảo các chơng trình phần
mềm ứng dụng trên máy tính điện tử là các lĩnh vực đặc biệt thích hợp với ngời
1.Hàng nguyên liệu thô và sơ chế (dầu
mỏ, than đá, thiếc, cà phê, cao su,
chè, gạo, lạc, hạtđiều, rau quả thô và
sơ chế, tơ tằm, thuỷ sản, lâm sản)
6,0 30,0 10,0 14,3 20,0 10,0
2.Hàng chế biến sâu 10,5 52,5 40,0 57,1 140,0 70,0
11
11
Trong đó:
-Hàng dệ-may mặc
3,0 15,0 5,0 7,1 10,0 5,0
-Giầy dép 1,0 5,0 3,0 4,3 5,0 2,5
-Nông sản chế biến sâu 2,0 12,5 5,0 7,1 10,0 5,0
-Sản phẩm cơ điện 2,0 10,0 6,0 8,6 20,0 10,0
-Đồ chơi trẻ em 1,0 1,4 5,0 2,5
-Khí hoá lỏng, xăng dầu và sản phẩm
hoá dầu
4,0 5,7 2,0 10,0
-Hoá chất,phân bón và cao su 3,0 4,3 1,0 5,0
-Sắt thép và sản phẩm bằng kim loại 3,0 4,3 1,0 7,5
-Xi măng và vật liệu xây dựng khác 3,0 4,3 1,0 7,5
-Sành sứ và thuỷ tinh 3,0 4,3 1,0 5,0
-Công nghiệp thực phẩm 3,0 4,3 1,0 5,0
-hàng chế biến sâu khác 2,0 10,0 1,0 5,0
3.Dịch vụ thu ngoại tệ 3,5 17,5 20,0 28,6 40,0 20,0
Trong đó:
-Dịch vụ phần mềm máy tính
1,0 5,0 5,0 7,15 10,0 5,0
-Du lịch 1,0 5,0 10,0 14,30 20,0 5,0
nh sự phụ thuộc vào thị trờng các nớc Đông Âu trớc kia.
Hiện Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN từ tháng 7 năm
1995 và tham gia chơng trình CEPT nhằm tiến tới khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA) vào năm 2006 và từ tháng 11/1998 là thành viên của APEC. Sự kiện này, hiển
nhiên là tạo ra cho Việt Nam một thị trờng với gần 500 triệu dân vốn đang chiếm gần
1/ 3 kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm của Việt Nam. Song, AFTA đối với Việt
Nam cũng nh tất cả các thành viên khác không phải là mục tiêu duy nhất và cuôí
cùng. Tự do hoá thơng mại trong khuôn khổ ASEAN là bớc đi cần thiết và gắn liền
tiến trình tự do hoá thơng mại trong phạm vi APEC và toàn cầu. Vì vậy, tham gia
AFTA, không có nghĩa là chuyển hớng thị trờng của Việt Nam, chủ yếu vào khu vực
này. Hiệu quả lớn nhất và kỳ vọng nhất mà Việt Nam nhằm vào khi tham gia AFTA
có lẽ là tạo lập mậu dịch nghĩa là làm tăng trởng lợng buôn bán của Việt Nam hơn là
làm thay đổi tỷ trọng của ASEAN trong ngoại thơng của Việt Nam. Dĩ nhiên điều
này chỉ có thể đạt đợc khi đồng thời với việc tự do hoá thơng mại trong khuôn khổ
ASEAN, Việt Nam phải tích cực mở mang các thị trờng khác, trong đó thị trờng các
nớc phát triển là rất quan trọng.
Thị trờng Nhật Bản và các nớc Đông Bắc á khác bao gồm các nớc NICS, Liên
Bang Nga và Trung Quốc là thị trờng lớn của Việt Nam trong những năm vừa qua.
Đồng thời Mỹ cũng đang là một thị trờng tiềm tàng rất đáng coi trọng. Điều này
không chỉ hàm ý bản thân dung lợng thị trờng của Mỹ mà còn các quy chế thơng mại
của Mỹ và vị thế của Mỹ trong nền kinh tế thế giới có thể hỗ trợ đắc lực cho các nớc
đang phát triển. Nếu quan hệ buôn bán với Mỹ đợc khai thông, Việt Nam sẽ đợc h-
ởng quy chế tối huệ quốc và chế độ u đãi thuế quan phổ cập (SGP) giành cho các nớc
đang phát triển.
Trong những năm tới thị trờng xuất khẩu của Việt Nam sẽ đợc phát triển theo
nguyên tắc sau đây:
Đa dạng hoá, đa phơng hoá trong hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển thị tr-
ờng trong nớc nhiều thành phần, thực hiện thị trờng mở; tự do hoá thị trờng, khuyến
khích các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu.
Thực hiện nguyên tắc "có đi có lại" trong kinh doanh thơng mại do Tổ chức th-
còn nợ các khoản vay vốn nớc ngoài trên 340 triệu USD mà không có khả năng trả
nợ, Chính phủ phải đứng ra trả nợ nớc ngoài cho các doanh nghiệp).
+ Nhà nớc cần sớm ban hành những quy chế chặt chẽ trong việc vay vốn nớc
ngoài. Mỗi dự án vay vốn nớc ngoài của doanh nghiệp phải hớng vào mục tiêu sản
xuất, đặc biệt là sản xuất hàng xuất khẩu. Khi doanh nghiệp xây dựng phơng án
vay phải đồng thời xây dựng phơng án trả nợ kèm theo và phải có thế chấp thì
ngân hàng mới bảo lãnh.
+ Các khoản vốn vay nớc ngoài do Chính phủ đứng ra vay nhằm đầu t xây
dựng kết cấu hạ tầng, các công trình trọng điểm cấp Nhà nớc... cần phải có chiến l-
ợc trả nợ nớc ngoài. Cần có kế hoach trả nợ dần những khoản nợ, nợ đến hạn để
bảo đảm uy tín quốc tế, vừa tạo điều kiện tiếp tục vay, vừa khắc phục nguy cơ: thế
hệ hôm nay vay nợ để gánh nặng trả nợ cho thế hệ mai sau.
3.3.3.2 Cán cân thơng mại
14
14
Cán cân kim ngạch xuất nhập khẩu vừa phản ánh độ mở của nền kinh tế, sự
tiến triển của quá trình công nghiệp hoá, vừa phản ánh thể trạng sức khoẻ của nền
kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ đơn thuần là xuất siêu hay nhập
siêu mà là những mục tiêu phát triển dài hạn. Rõ ràng, chấp nhận nhập siêu trong
tơng lai là phơng hớng chiến lợc và là vấn đề phơng pháp luận của việc xử lý cán
cân thơng mại của Nhà nớc ta hiện nay. Tuy nhiên, để thực hiện đợc phơng hớng
đó thì phải có điều kiện và những biện pháp đồng bộ. Đó là:
+ Xác định đúng cơ cấu hàng nhập khẩu và điều chỉnh lợng hàng nhập khẩu
bằng thuế quan theo hớng u tiên nhập khẩu vật t thiết bị, công nghệ hiện đại phục
vụ những hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu.
+ Nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị, công nghệ nhập khẩu thông
qua việc Nhà nớc tạo môi trờng thuận lợi về mọi mặt: hành chínhpháp lý và
kinh tế sao cho nền kinh tế luôn luôn ở trạng thái nóng nhằm tăng khả năng
hấp thụ của nển kinh tế.
gian địa lý kinh tế). Vì thế, trợ cấp dới nhiều hình thức (miễn thuế, lãi suất tín dụng u
đãi, các biện pháp hỗ trợ về mặt Nhà nớc...) để khuyến khích các doanh nghiệp đi vào
thị trờng mới nhằm mở rộng thị trờng xuất khẩu.
+ Dành nhiểu u tiên cho các dự án đầu t vào kết cấu hạ tầng phục vụ cho xuất
khẩutrớc hết là các cảng biển, sân bay, hệ thống giao thông liên quốc gia.
+ Quy chế hoá và khuyến khích các công ty bảo hiểm và các doanh nghiệp
kinh doanh nhập khẩu thực hiện hàng hoá xuất khẩu.
Tóm lại, mục tiêu của việc trợ cấp xuất khẩu là nhằm khuyến khích các ngành
công nghiệp, nông nghiệp đầu t vào sản xuất hàng xuất khẩu và hỗ trợ cho các doanh
nghiệp kinh doanh xuấtnhập khẩu tìm kiếm thị trờng mới, mở rộng thị trờng xuất
khẩu. Sự trợ cấp của Chính phủ cho các trờng hợp vì mục tiêu nêu trên đợc coi là
khoản bù đắp cho những rủi ro ở mức cao hơn bình thờng. Khoản bù đắp này có thể
dới hình thức khác nhau nh giảm thuế nhập khẩu hoặc thuế xuất khẩu, hạ lãi suất, trả
tiền mặt... để có thể hấp dẫn những nhà xuất khẩu tiềm tàng cũng nh góp phần hỗ trợ
các doanh nghiệp khắc phục những trở ngại để thâm nhập thị trờng mới.
3.3.5 Phơng hớng hoàn thiện công cụ chính sách hợp tác đầu t xuất khẩu.
3.3.5.1. Hoàn thiện chính sách đầu t
Chính sách đầu t có ảnh hởng trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế, vì
vậy nó cũng tác động đến việc sản xuất các hàng hoá xuất khẩu. Các chính sách
đầu t phải đảm bảo không chỉ khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh trong
nớc mà còn phải khuyến khích hoạt động của các loại hình doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài. Vì lí do khâu đầu t cho hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu, tăng
nhanh nguồn hàng khối lợng lớn chất lợng cao, tạo đợc nhiều nguồn hàng chủ lực,
đáp ứng nhu cầu và thị hiếu trên thị trờng nớc ngoài là yếu tố hết sức quan trọng do
vậy chủ trơng khuyến khích đầu t phát triển sản xuất hàng xuất khẩu cần đợc thi
hành một cách triệt để và nhất quán hơn theo nguyên tắc sản xuất hàng hoá xuất
khẩu phải đợc đặt ở vị trí u tiên số một. Các hình thức u đãi cao nhất phải đợc dành
cho sản xuất hàng xuất khẩu. Để xuất khẩu có đợc nguồn vốn đầu t cần thiết trong
hoàn cảnh tích luỹ nội bộ có hạn,cần nhanh chóng khắc phục tình trạng này theo
các hớng sau:
Song song với việc đề cao vị trí của đầu t sản xuất hàng xuất khẩu, cần hết sức
chú ý ổn định môi trờng đầu t.
Theo tinh thần chỉ đạo của Bộ chính trị trong những năm sắp tới cần đẩy mạnh
cải cách nền hành chính quốc gia cả về thể chế hành chính, về tổ chức bộ máy; về cải
tiến lề lối làm việc của bộ máy nhà nớc.
Về thể chế hành chính: tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, đặc biệt là các
luật thuế, ngân hàng, thơng mại và chuẩn bị các văn bản hớng dẫn qui định chi tiết để
có thể thực hiện ngay đợc khi các luật nói trên đợc thông qua ban hành.
Khẩn trơng ban hành văn bản hớng dẫn thực hiện các luật và pháp luật còn
thiếu, rà soát các văn bản đã có để tránh chồng chéo mâu thuẫn và sửa đổi bổ sung.
Đổi mới qui trình xây dựng dự án luật, pháp lệnh và thực hiện đúng quy trình.
Cải cách thủ tục hành chính rờm rà gây ách tắc nh thủ tục xem xét đầu t, thủ tục
xin phép xuất nhập khẩu thực hiện mô hình 1 cửa, 1 con dấu trong quản lý hành
chính.
17
17
Về tổ chức: chấn chỉnh tổ chức bộ máy quản lý hoạt động thơng mại từ trung -
ơng đến địa phơng, loại bỏ các tầng nấc trung gian, các bộ phận chồng chéo gây ách
tắc trong điều hành quản lý.
Xây dựng quy chế tăng cờng phối hợp giữa các bộ các ngành, giữa trung ơng và
địa phơng; Cải tiến lề lối làm việc của cơ quan nhà nớc cho phù hợp với tình hình
kinh tế thị trờng; rà soát các thủ tục hành chính liện quan tới cấp phép kinh doanh,
thủ tục hởng các chính sách u đãi, khai báo và kiểm tra hàng hoá xuất nhập khẩu tại
các cửa khẩu bảo đảm thông thoáng, kịp thời nhanh chóng.
3.3.6 Hoàn thiện công cụ chính sách vốn, tài chính tiền tệ và tỉ giá hối đoái.
3.3.6.1 Chính sách vốn.
Mọi chính sách huy động vốn, hoàn thiện thị trờng vốn và thị trờng tiền tệ chỉ
có tác dụng thực sự và tích cực đến lĩnh vực xuất khẩu khi chủ trơng hớng về xuất
khẩu đợc quán triệt đầy đủ và thi hành nhất quán.
VND)
Thay
đổi
(%)
Thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế VAT
Thuế nhập khẩu
Thuế tài nguyên
Thu lợi tức sau thuế (DNNN)
Thuế tiêu thụ đặc biệt
19612
14380
13760
7197
6266
4860
19857
14557
11695
7203
6344
4893
1.2
1.2
-15.0
0.1
1.2
0.7
20173
14705
402
368
300
190
4122
2199
1609
1396
1350
783
404
370
301
191
0.4
0.4
0.6
0.4
0.0
0.4
0.4
0.4
0.4
0.4
4161
2220
1632
1409
1250
791
mức dới 5% GDP/năm, hoạt động tỉ giá đợc kiểm soát đã mang lại những thành
công trong sự phát triển của nền kinh tế đất nớc nói chung và sự gia tăng của
hoạt động xuất khẩu nói riêng. Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại cần điều chỉnh
do vậy để các chính sách tài chính-tiền tệ của nhà nớc trong thời gian tới thực
sự phát huy tác dụng đối với hoạt động xuất khẩu chúng ta cần phải tiếp tục
điều chỉnh chính sách tỉ giá hối đoái trên cơ sở khuyến khích xuất khẩu, lấy sự
tăng trởng của xuất khẩu làm một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
quá trình phát triển tăng trởng. Và nội dung thiết yếu của chính sách tỉ giá
khuyến khích xuất khẩu là phải duy trì sao cho những ngòi nhập khẩu cung cấp
19
19
hàng hoá dịch vụ trong nớc có lãi khi bán sản phẩm của họ trên thị trờng thế
giới. Điều này đòi hỏi tỉ giá hối đoái danh nghĩa đợc điều chỉnh giữ nguyên
hoặc làm tăng sức cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ của Việt Nam trên thị trờng
quốc tế. Trớc mắt tiếp tục và nhất quán thực hiện chủ trơng điều hành tỉ giá linh
hoạt theo diễn biến thị trờng, tình tình kinh tế trong nớc và nớc ngoài, chủ động
can thiệp thị trờng khi cần thiết nhanh chóng tiến tới tự do hoá tỉ giá trong giao
dịch. Sau đó cần nới rộng quy định về biên độ tỉ giá trong giao dịch và từng bớc
loại bỏ hẳn quy định này.
3.4 Biện pháp thực hiện việc hoàn thiện chính sách xuất khẩu của Việt
Nam trong quá trình hội nhập ASEAN.
3.4.1 Các giải pháp tổng thể thực hiện cam kết trong quá trình hội nhập
của Việt Nam
Bằng mọi biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế mà thực
chất là nâng cao năng lực cạnh tranh của từng ngành sản xuất, của từng doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp phải xác định đây trớc hết là nhiệm vụ, trách nhiệm của
chính doanh nghiệp để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh mở cửa nền
kinh tế. Và nhà nớc sẽ đóng vai trò quan trọng hỗ trợ cho doanh nghiệp, tạo điều
kiện thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp phát triển thông qua việc áp dụng các
3.4.2.1.Chính sách hội nhập ASEAN phải nằm trong chính sách kinh tế
chung.
Do xuất phát điểm của nền kinh tế Việt Nam thấp và hệ thống thiết bị công
nghệ lạc hậu so với các nớc trong khu vực, các doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi
thành phần kinh tế còn ở trong tình trạng sắp xếp, tổ chức lại, hệ thống luật pháp
chính sách đang nằm trong giai đoạn hoàn thiện, cơ sở hạ tầng lạc hậu nền kinh
tế đất nớc chịu tác động của hàng loạt những thách thức to lớn vì vậy tiến trình hội
nhập ASEAN của Việt Nam vào ASEAN nhanh hay chậm chủ yếu phụ thuộc vào
quá trình cải cách kinh tế trong nớc. Để tiến trình hội nhập vào ASEAN có hiệu
quả thì chính phủ có những chính sách kinh tế hội nhập ASEAN nằm trong chính
sách kinh tế chung của cả nớc và phải có những giải pháp nhất định cả ở phạm vi
quốc gia và phạm vi các đơn vị kinh tế.
3.4.2.2 Các điều kiện để thực hiện chính sách.
Muốn thực hiện thành công quá trình đổi mới và hoàn thiện chính sách thơng
mại XNK đòi hỏi phải có một số điều kiện để đảm bảo thi hành. Những điều kiện
chính là ổn định về chính trị kinh tế-xã hội.
Việc ổn định chính trị, kinh tế xã hội là điều kiện tiên quyết để thực hiện
thành công việc đổi mới chính sách và cơ chế quản lý ngoại thơng. Sự rủi ro về
chính trị tức là kém bền vững của một chế độ chính trị của một nhà nớc sẽ là một
tác nhân mạnh mẽ làm mất lòng tin, làm nhạt ý chí của nhân dân trong nớc cũng
nh của các nhà đầu t nớc ngoài.
ổn định kinh tế trớc hết là sự đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền cũng là một
điều kiện tiên quyết tạo môi trờng thuận lợi, để thực thị sự đổi mới của chính sách
thơng mại quốc tế.
Kiên trì thực hiện đờng lối đổi mới toàn diện nền kinh tế xã hội, đờng lối
mở cửa.
Trên cơ sở có một nền chính trị ổn định, có quan điểm phơng hớng chung
trong xây dựng đất nớc đã đợc thống nhất sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân thì
chúng ta cũng cần phải kiên trì thực hiện đổi mới toàn diện nền kinh tế xã hội
trong đó có sự đổi mới chính sách và cơ chế quản lý thơng mại quốc tế .
Nhợc điểm lớn nhất của quản lý nhà nớc trong thời gian qua là thiếu sự phối
hợp giữa các bộ, các ngành, các địa phơng trong việc xây dựng và thực hiện chính
sách thơng mại thống nhất. Vì vậy cần phải đẩy mạnh sự phân cấp quản lý giữa
trung ơng và địa phơng. Chính phủ và các bộ sẽ tập trung xây dựng thể chế, xây
dựng qui hoạch và chiến lợc phát triển toàn quốc, giảm bớt sự can thiệp vào công
việc cụ thể của địa phơng. Đồng thời ra sức củng cố chính quyền địa phơng hợp lý
vững mạnh để phát huy vai trò chủ động sáng tạo của mỗi địa phơng. Đặc biệt
phối hợp giữa trung ơng và địa phơng trong việc quản lý thị trờng, chống buôn lậu,
chấn chỉnh việc buôn bán qua biên giới.
Khó khăn phức tạp là ở chỗ lợi ích giữa trung ơng và địa phơng không trùng
hợp, bộ máy quản lý của nhà nớc không nắm đợc hoạt động thơng mại ở địa ph-
22
22
ơng, quan niệm về mậu dịch đờng biên cha thông, cơ chế điều hành cha sát với
thực tiễn vì vậy cần:
áp dụng buôn bán mậu dịch đờng biên với các nớc thống nhất theo chính
sách thuế chung và theo thông lệ quốc tế.
Ban hành ngay quy chế buôn bán mậu dịch đờng biển cho phù hợp với tình
hình.
áp dụng sử lý nghiêm khắc để chống buôn lậu, buôn bán hàng cấm.
Truy quét buôn bán, sản xuất hàng giả, nhãn hiệu giả mác ngoại.
Chấn chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu theo đờng phi mậu dịch.
3.4.3.2 Chủ động điều tiết sự phát triển của các ngành các lĩnh vực
Các doanh nghiệp cần phải chủ động xây dựng chiến lợc kinh doanh để
thích ứng với môi trờng kinh doanh trong khu vực ASEAN. Chiến lợc kinh doanh
cần đợc cụ thể hoá thành những bớc đi cụ thể với từng loại mặt hàng và từng loại
thị trờng. Việc đánh giá các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ
cạnh tranh trong khu vực cần đợc chú trọng và đề cao. Để thực hiện thành công
quá trình cạnh tranh có hiệu quả với các nớc trong ASEAN, các doanh nghiệp phải
(ODA). Tỷ lệ lãi xuất của vốn vay này không đợc cao hơn mức lãi xuất của vốn
vay mà doanh nghiệp nớc ngoài cùng sản xuất sản phẩm đó phải trả.
Khuyến khích vệ tinh của các cơ sở sản xuất hàng hoá xuất khẩu: Khuyến
khích xuất khẩu trực tiếp và khuyến khích đất t sản xuất hàng xuất khẩu mới chỉ
nhìn đến các doanh nghiệp có sản xuất trực tiếp hàng xuất khẩu và doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu. Trong thực tế còn có vô số các doanh nghiệp vừa và
nhỏ làm nhiệm vụ cung ứng nguyên liệu đầu vào hoặc bán thành phẩm. Họ cũng
có quyền đợc hởng u đãi. Vì vậy, cũng cần miễn giảm một phần thuế cho sản
phẩm cung ứng cho cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu. Nếu làm đợc nh vậy thì sự phát
triển của một ngành hàng xuất khẩu nào đó sẽ kéo theo sự phát triển của nhiều
ngành khác, tất cả cùng hớng về xuất khẩu, làm cho hàng hoá xuất khẩu của Việt
Nam lúc này sẽ có tính cạnh tranh hơn so với hàng hoá của các nớc trong khu vực.
Vừa đẩy mạnh xuất khẩu giá trị gia tăng (không phải nhập nguyên liệu, xuất thành
phẩm theo kiểu gia công hớng u đãi của CEPT), vừa tạo điều kiện thu hút đợc các
nguồn nhân lực và vật lực của đất nớc vào lĩnh vực kinh tế có hiệu quả.
Lập quỹ bảo lãnh tín dụng: Chính phủ cần đứng ra thành lập quỹ bảo lãnh tín
dụng nhằm mục đích trợ giúp cho các doanh nghiệp có tiềm năng phát triển xuất
khẩu nhng không có điều kiện đợc tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng do không có
tài sản thế chấp. Quỹ sẽ đứng ra bảo lãnh các khoản vay cùng chia sẽ thành công
với doanh nghiệp và rủi ro với ngân hàng. Nên đa một số khoản mục sau vào danh
mục bảo lãnh:
Bảo lãnh chứng từ thơng mại (doanh nghiệp có thể đổi chứng từ lấy tiền mặt
tại ngân hàng thông báo L/C ngay sau khi giao hàng, không phải đã chuyển tiền
nh hiện nay).
Bảo lãnh tiền vay mua máy móc, vật t phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu.
Bảo lãnh nộp thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, vật t nhập khẩu để
sản xuất hàng xuất khẩu.
Quỹ bảo hiểm: cần khuyến khích các hiệp hội ngành hàng tự nguyện thành
lập các quỹ bảo hiểm (phòng ngừa rủi ro) riêng cho ngành của mình, nhất là trong
những ngành quan trọng, có khối lợng xuất khẩu tơng đối lớn nh gạo, cà phê, cao
+ Sự giảm sút bất ngờ về nhu cầu sản phẩm trên thị trờng ở nớc này có thể bù
đắp bởi việc phát triển mở rộng nhu cầu ở nớc khác.
Vì vậy mà hiện nay chúng ta cần phải khuyến khích các doanh nghiệp của
chúng ta đẩy mạnh hoạt động marketing ở nớc ngoài để có thể phát triển tốt đợc
thị trờng nớc ngoài từ đó nâng cao đợc hiệu quả của hoạt động xuất khẩu hay tăng
nhanh đợc kim ngạch XNK trong thời gian tới khi đã hoàn toàn hội nhập vào nền
kinh tế khu vực và thực hiện các quy định chung về CEPT-AFTA.
3.4.6 Đào tạo bồi dỡng nâng cao trình độ cán bộ để đáp ứng yêu cầu hội
nhập.
Trong các bộ phân then chốt của chính sách tăng trởng đuổi kịp về kinh tế
thì chính sách con ngơì là quan trọng nhất.
Thực tế ở nớc ta một trọng những yêú kém và thế lực đối với sự phát triển
nền thơng mại tự do là chúng ta thiếu cả về số lợng và chất lợng một đội ngũ cán
25
25