THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH VÀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐỒNG TÀI TRỢ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 74

THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH VÀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH
DỰ ÁN ĐỒNG TÀI TRỢ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1 HOẠT ĐỘNG ĐỒNG TÀI TRỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1.1 Khái niệm và vai trò hoạt động đồng tài trợ của ngân hàng thương
mại.
1.1.1.1 Khái niệm:
Hoạt động đồng tài trợ (ĐTT) xuất hiện từ rất sớm, khởi đầu chỉ là sự trợ giúp về
mặt hàng hoá, nhu yếu phẩm với sự đồng ý tham gia tài trợ bởi nhiều người, nhiều
tổ chức. Sau này hoạt động ĐTT được phát triển dần lên, không chỉ tài trợ bằng
hiện vật mà còn bằng tiền và được hoàn trả sau một thời gian nhất định, hay đó
chính là manh nha hình thành một hình thức cho vay. Việc trợ giúp dần không chỉ
đơn giản là sự đồng ý bằng miệng giữa giữa nhóm các nhà tài trợ với bên nhận tài
trợ mà phải được làm thành văn bản và dần được hoàn thiện qua hàng loạt các
khâu các thủ tục phức tạp cùng các điều kiện khắt khe yêu cầu cả các bên tài trợ
cũng như bên nhận tài trợ phải tuân thủ nghiêm ngặt. Điều này làm cho hoạt động
ĐTT không còn là hoạt động cho vay đơn thuần mà
Ngày nay hoạt động ĐTT đã trở nên phổ nó chứa đựng nhiều yếu tố kỹ thuật
phức tạp. biến và phát triển trên thế giới. Nó được thực hiện trên nhiều lĩnh vực
khác nhau nhưng đặc biệt sôi động và phát triển trong lĩnh vực kinh tế với sự tham
gia của nhiều tổ chức, cá nhân thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Mỗi tổ
chức thâm gia lại có quan niệm riêng về ĐTT.
• Theo các tổ chức tài chính quốc tế như World Bank, IMF, ADB… “
Đồng tài trợ là việc cho vay tài trợ các dự án hay các chương trình đặc
biệt bằng các nguồn vốn khác nhau trong đó có nguồn vốn ngân hàng”.
• Đối với các nhà tài trợ và luật gia thì “ Một khoản ĐTT là một phương
diện trợ giúp tài chính do từ hai hay nhiều định chế tài chính tham gia
cung cấp trên cơ sở một số điều khoản có sử dụng tài liệu văn bản
chung và được (hoặc không được) quản lý bởi một đơn vị chung”.
• Theo Quy chế ĐTT ban hành theo Quyết định 286/2002/NHNN ngày
3/4/2002 của Thống đốc NHNN Việt Nam “ Đồng tài trợ là quá trình

thương mại.
Xu thế phát triển mạnh mẽ của ĐTT trong hoạt động cho vay của các ngân hàng
thương mại ngày nay chứng tỏ ưu thế rõ rệt và vị trí chiến lược trong định hướng
phát triển và cho vay của các ngân hàng thương mại. Điều này là do vai trò ngày
càng tăng của hoạt động ĐTT. Vai trò đó được thể hiện ở mấy điểm chính sau:
• Giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương
mại.
Trong nền kinh tế thị trường, cho vay theo dự án là hình thức cho vay chủ yếu
của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên hình thức cho vay này cũng tiềm ẩn
nhiều rủi ro cho ngân hàng, nhất là đối với các dự án có nhu cầu vốn vay lớn, thời
hạn vay dài, mức độ rủi ro khó xác định. Nếu chỉ một ngân hàng cho vay có thể sẽ
không đáp ứng đủ nhu cầu vốn hoặc quá mạo hiểm. Trong trường hợp này ĐTT tỏ
ra là phương pháp hữu hiệu giúp các ngân hàng vẫn có thể cho vay đồng thời lại
hạn chế và chia sẻ rủi ro. Hoạt động ĐTT có ưu điểm là ngoài việc có thể phân tán
rủi ro cho các nhà tài trợ khác, các ngân hàng còn có thêm đối tác để đối chiếu
phân tích đánh giá dự án làm cho mức độ rủi ro giảm xuống. Với các nguyên tắc
và đặc điểm riêng có của mình, ĐTT ngày càng được các ngân hàng thương mại
coi là một giải pháp khả thi, hiệu quả cao nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động tín
dụng trung và dài hạn.
• Tăng khả năng liên kết giữa các ngân hàng trong hoạt động cho vay:
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại luôn phải cạnh tranh rất
quyết liệt nhưng đồng thời cũng phải hợp tác để chia sẻ cơ hội kinh doanh. Đa số
các ngân hàng thương mại thường hoạt động chuyên doanh, đầu tư chuyên sâu vào
một số ngành nghề nhất định, do đó sẽ thiếu kinh nghiệm trong việc thẩm định,
kiểm tra giám sát cũng như điều phối quá trình đầu tư đối với các ngành nghề
khác. Chính vì vậy họ có thể bổ sung cho nhau, khắc phục nhược điểm của chuyên
môn hoá cao và chuyển đổi sang đa dạng hoá cũng như hợp tác hoá. Việc tham gia
ĐTT một dự án khiến các ngân hàng có thể hiểu biết nhau hơn từ đó có thể cùng
nhau phối hợp, giữ vững thị phần tài trợ, tìm kiếm và phát triển thị trường mới.
Một tổ chức riêng lẻ có thể không tồn tại được trong cạnh tranh song khi liên kết

Dự án ĐTT được thực hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau với đối tượng tham
gia đa dạng. Vì vậy việc phân chia loại hình dự án phụ thuộc nhiều yếu tố như :
lĩnh vực tài trợ, đối tượng tài trợ, nhà tài trợ. Nhưng cách thông dụng nhất là dựa
vào phương thức tài trợ để phân chia dự án ĐTT. Theo phương thức tài trợ có 4
loại hình dự án ĐTT sau :
 Dự án ĐTT song song: phương thức này thường áp dụng đối với các dự án
có thể chia thành nhiều phần độc lập riêng biệt. Việc đầu tư từng phần của
dự án không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến kết quả của
phần khác. Trên cơ sở đó, ngân hàng thương mại sẽ tài trợ từng phần của dự
án. Việc tài trợ có thể được các ngân hàng thoả thuận hoặc không thoả
thuận trước với nhau cũng như có hoặc không có sự dàn xếp của bên thứ ba.
 Dự án ĐTT kết hợp: đây là phương thức phổ biến nhất của ĐTT. Theo
phương thức này các ngân hàng thương mại thoả thuận với nhau về tỷ lệ
vốn góp nhằm cấp tín dụng cho một dự án. Tỷ lệ vốn góp được thoả thuận
tuỳ theo khả năng của mỗi ngân hàng và vốn được giải ngân theo tiến độ dự
án.
 Dự án ĐTT theo phương thức câu lạc bộ: Phương thức này thường xuất
hiện dưới hình thức tài trợ uỷ thác hoặc góp vốn đầu tư thông qua việc
thành lập quỹ đầu tư hoặc quỹ uỷ thác. Mỗi ngân hàng đều là hội viên của
câu lạc bộ góp vốn vào câu lạc bộ. Khi có dự án được thoả thuận tài trợ thì
câu lạc bộ sẽ rót vốn theo tiến độ dự án.
 Dự án ĐTT tuần hoàn: áp dụng đối với các dự án tương đối phức tạp, khó
chia thành các phần nhỏ và có thời gian đầu tư, thu hồi vốn tương đối dài.
Theo đó, một ngân hàng tài trợ cho giai đoạn đầu của dự án sẽ bán hay
chuyển giao quyền đòi nợ cho ngân hàng kế tiếp với tỷ lệ nhất định đã thoả
thuận. Thực chất đây là hoạt động ĐTT thông qua việc mua bán nợ. Tuy
nhiên ngân hàng bán nợ vẫn có trách nhiệm về khoản dư nợ đã bán trong
phạm vi thoả thuận ĐTT đã ký giữa các ngân hàng tham gia. Chủ nợ cuối
cùng có quyền truy đòi các chủ nợ trước theo hợp đồng đã ký.
Ngoài cách phân chia theo phương thức tài trợ, các dự án ĐTT còn được phân

Giai đoạn này có thể chia nhỏ như sau:
• Chuẩn bị dàn xếp: là quá trình kể từ khi ngân hàng chấp nhận đề nghị của
bên nhận tài trợ cho đến khi có biên bản ghi nhớ. Ngân hàng dàn xếp có
nhiệm vụ xác định độ tin cậy tín dụng của bên nhận tài trợ tiềm năng.
Thông thường, độ tin cậy tín dụng của bên nhận tài trợ được các ngân
hàng thương mại đánh giá một cách thường xuyên liên tục thông qua hệ
thống thông tin về khách hàng tiềm năng. Căn cứ đánh giá đó là tư cách
pháp lý, kết quả tài chính, uy tín trong quá khứ, giá trị cổ phiếu trên thị
trường.
Dựa trên kết quả đánh giá độ tin cậy tín dụng và tính khả thi của dự án, ngân
hàng dàn xếp sẽ dự thảo một văn bản nêu rõ các điều kiện và điều khoản ĐTT.
Khi biên bản này được bên nhận tài trợ chấp nhận, ngân hàng dàn xếp và bên
nhận tài trợ sẽ ký kết một biên bản ghi nhớ về các điều kiện và điều khoản tài
trợ cũng như thông tin về dự án. Trong biên bản ghi nhớ còn phải ghi rõ phương
thức ủy quyền. Việc lựa chọn phương thức ủy quyền nào phụ thuộc vào mô
hình ĐTT mà 2 bên lựa chọn. Có 2 phương thức ủy quyền là:
+ Cam kết chắc chắn: ngân hàng dàn xếp cam kết chắc chắn với bên nhận tài
trợ về việc dàn xếp một khoản tài trợ cụ thể. Nếu việc mời các ngân hàng tham
gia không được dàn xếp thành công, ngân hàng dàn xếp sẽ phải đảm nhận tài trợ
toàn bộ số tiền đã cam kết hoặc tổ chức một cuộc dàn xếp mới.
+ Cam kết với nỗ lực tối đa: ngân hàng dàn xếp sẽ thông báo cho bên nhận
tài trợ việc họ sẵn sàng dàn xếp với một số điều kiện nhất định. Nếu khoản ĐTT
không được dàn xếp thành công, bên nhận tài trợ sẽ phải tìm kiếm một nguồn
tài trợ mới từ một nơi khác.
• Lựa chọn các bên tham gia: việc lựa chọn các bên tham gia phải tuân thủ
các thỏa thuận trong bản ghi nhớ và ủy quyền của bên nhận tài trợ. Do
vậy khi ngân hàng dàn xếp dự định mời ngân hàng nào tham gia phải
xem xét tới một số yếu tố như: quy mô khoản ĐTT có thích hợp với ngân
hàng mời tham gia hay không, ý thích của khách hàng về ngân hàng mời
tham gia, khả năng đón nhận khoản ĐTT này trên thị trường…. Trên thực

thống nhất ủy quyền cho ngân hàng đầu mối thẩm định hoặc mỗi ngân hàng sẽ
tự thẩm định riêng.
. Trường hợp ngân hàng đầu mối được ủy quyền thẩm định đòi hỏi các ngân
hàng phải hoàn toàn tin tưởng nhau và kết quả thu được sẽ thống nhất
. Trường hợp các ngân hàng tự tiến hành thẩm định riêng tuy có tính an toàn
cao hơn nhưng đòi hỏi các ngân hàng mất nhiều thời gian công sức hơn và có
thể đưa ra những kết quả thẩm định khác nhau. Nếu như một ngân hàng có kết
quả thẩm định trái với đa số và ngân hàng đầu mối phải mời một ngân hàng
khác tham gia thì sẽ mất nhiều thời gian để đưa ra quyết định cho vay.
• Cơ cấu khoản ĐTT: Bước tiếp theo các ngân hàng sẽ thảo luận về cơ cấu
của khoản ĐTT. Cơ cấu khoản ĐTT phải thỏa mãn được yêu cầu của các
bên tham gia và đòi hỏi của thị trường. Ttrong cơ cấu khoản ĐTT có các
thành phần cơ bản sau:
+ Giá của khoản ĐTT: bao gồm tất cả các chi phí để nhận được khoản ĐTT,
chia thành: chi phí thanh toán ngay lúc bắt đầu nhận khoản vay (chi phí dàn
xếp, phí bảo lãnh, phí bảo hiểm tín dụng…) và chi phí được tính hàng năm (lãi
tính trên dư nợ, phí quản lý, phí thanh toán, phí cam kết sử dụng vốn).
. Lãi suất ĐTT thường được tính như sau:
Lãi suất ĐTT = lãi suất cơ bản + mức chênh lệch
Lãi suất cơ bản do thị trường Liên ngân hàng Lonđon đưa ra (LIBOR).
Chọn LIBOR với thời hạn 1,3, 6, 12 tháng hay bất kỳ một kỳ hạn nào đều do
thỏa thuận của bên tài trợ với bên nhận tài trợ.
Mức chênh lệch phản ánh độ tín nhiệm của người vay và phụ thuộc vào quy
mô, thời gian, tính phức tạp và các điều kiện khác của khoản vay cũng như độ
tin cậy tín dụng của bên nhận tài trợ. Như vậy có thể nói mức chênh lệch cụ thể
mà bên nhận tài trợ phải trả phụ thuộc vào mức xếp hạng tín dụng, khả năng
chấp nhận khoản ĐTT trên thị trường tín dụng, tính sẵn có của nguồn vốn trên
thị trường, khuynh hướng vận động lãi suất trên thị trường. Bên cạnh đó chất
lượng của các biện pháp bảo đảm khoản vay cũng ảnh hưởng đến việc xác định
mức chênh lệch.

thỏa thuận được thể hiện trong hợp đồng ĐTT và hợp đồng cấp tín dụng. Nội
dung của hợp đồng ĐTT và hợp đồng cấp tín dụng theo Quy chế ĐTT của các
tổ chức tín dụng.
• Kí kết và công bố khoản ĐTT: Sau khi các bên tham gia thống nhất với
nhau các điều kiện, mức tham gia tài trợ và các văn bản tài trợ… thì các
bên sẽ tiến hành lễ kí kết chính thức. Đây là nghi lễ được tổ chức với sự
tham gia của đại diện bên nhận tài trợ, các ngân hàng tài trợ và được tổ
chức theo trật tự của việc kí kết.
1.1.3.2 Thực hiện cho vay
Sau khi kí kết và công bố khoản ĐTT, các ngân hàng tham gia phải chuẩn bị
sẵn sàng các khoản vốn theo thỏa thuận cho ngân hàng đầu mối theo đúng tiến độ
đã thỏa thuận. Ngân hàng đầu mối phải đảm bảo trước khi giải ngân, bên nhận tài
trợ đã thực hiện đầy đủ các điều khoản quy định tiền giải ngân. Theo quy định này
bên nhận tài trợ phải thực hiện đầy đủ các thủ tục giấy tờ, các phê chuẩn cho phép
cần thiết để tái xác nhận sự tồn tại của các tài sản đảm bảo và cam kết không có gì
bất trắc xảy ra.
Trường hợp ĐTT song song, các ngân hàng sẽ trực tiếp giải ngân cho khách
hàng theo tiến độ dự án và thỏa thuận đã kí.
Trong quá trình thực hiện ĐTT, bên tài trợ còn phải giám sát việc triển khai dự
án của chủ đầu tư. Trách nhiệm này thuộc về ngân hàng đầu mối hoặc ngân hàng
dàn xếp. Nội dung giám sát gồm:
. Tình hình sản xuất kinh doanh của bên nhận tài trợ
. Các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện dự án ảnh hưởng đến tiến độ
dự án.
. Tình trạng tài sản thế chấp và sự thay đổi giá trị của tài sản thế chấp trên thị
trường.
. Các vấn đề được ủy quyền khác
Bên cạnh đó còn thực hiện giám sát cả việc thực hiện hợp đồng ĐTT của chính
các ngân hàng thành viên.
1.1.3.3 Thu nợ

• Thẩm định về phương diện tổ chức, quản lý, thực hiện dự án.
• Thẩm định về mặt tài chính.
• Thẩm định về các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của dự án.
Trong các phương diện đó, thẩm định về mặt tài chính luôn là một khâu quan
trọng nhất, đặc biệt là ở các ngân hàng thương mại với tư cách là một nhà tài trợ.
Thẩm định tài chính dự án là việc đánh giá, xác định khả năng tạo ra các nguồn
thu của dự án trên cơ sở các khoản vốn đầu tư cho dự án, hay nói cách khác nó là
việc xem xét dự án sẽ tạo ra được những lợi ích tài chính gì trong tương lai từ
những nguồn lực tài chính ban đầu đầu tư cho dự án. Đây có thể nói là nội dung
phức tạp nhất trong quá trình thẩm định dự án. Bởi lẽ, nó đòi hỏi sự tổng hợp của
tất cả các biến số tài chính, kỹ thuật, thị trường đã được lượng hoá trong các nội
dung thẩm định trước nhằm phân tích, xây dựng những bảng dự trù doanh thu-chi
phí, những chỉ tiêu tài chính tổng hợp có ý nghĩa. Phức tạp như vậy nhưng đây lại
là khâu không thể coi nhẹ mà phải được xem xét tính toán khoa học vì sự tối cần
thiết của nó trong công tác cho vay theo dự án.
b. Sự cần thiết phải thẩm định tài chính dự án ĐTT tại các ngân hàng thương mại.
Với tư cách là nhà tài trợ cho dự án, các ngân hàng thương mại đặc biệt quan
tâm đến phương diện thẩm định tài chính vì nó thể hiện rõ nhất mục tiêu tài trợ của
ngân hàng và cũng là phù hợp về sở trường chuyên môn nghiệp vụ của ngân hàng
thương mại.Vì thế thẩm định tài chính luôn được các ngân hàng thương mại chú
trọng cả về nội dung lẫn hình thức thẩm định tài chính. Tuy nhiên các ngân hàng
thương mại hoạt động chuyên sâu trên các lĩnh vực cụ thể khác nhau sẽ có những
thế mạnh riêng về nguồn thông tin và phương pháp thẩm định từ đó ảnh hưởng đến
cách thức tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính. Mà kết quả của các chỉ tiêu này
là căn cứ quan trọng quyết định tài trợ cho dự án. Vì thế nếu quá trình thẩm định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status