TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT - Pdf 75

TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT.
I. HỘ SẢN XUẤT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG :
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 với đường lối đổi mới, nông nghiệp được
xác định là "mặt trận hàng đầu", tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế nhằm giải phóng
lực lượng sản xuất ở nông thôn chuyển nền nông nghiệp tự túc, tự cấp sang sản
xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước . Chính vì vậy
những năm gần đây các nhà kinh tế bắt đầu quan tâm thực sự đến sự phát triển
nông thôn, nông nghiệp và mô hình kinh tế hộ sản xuất. Sự quan tâm nghiên cứu
về hộ sản xuất của các nhà khoa học đã đánh dấu thời kỳ thay đổi, thái độ đối với
hộ sản xuất trong hệ thống lý thuyết chính thống và hệ thống chính sách kinh tế xã
hội hiện thời.
1. Khái niệm hộ sản xuất :
Nói đến sự tồn tại của hộ sản xuất trong nền kinh tế, trước hết chúng ta cần
thấy rằng hộ sản xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất cả các nước có nền
sản xất nông nghiệp trên thế giới. Hộ sản xuất đã tồn tại qua nhiều phương thức và
vẫn đang tiếp tục phát triển. Chúng ta có thể xem xét một số khái niệm khác nhau
về hộ sản xuất , trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn
ngữ, hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, nhóm người đó cùng
hộ sản xuất là hộ, hộ gia đình.
Ngày nay hộ sản xuất đang trở thành một nhân tố quan trọng sự nghiệp CNH -
HĐH đất nước và là sự tồn tại tất yếu trong qúa trình xây dựng một nền kinh tế đa
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để phù hợp với xu thế phát triển
chung, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước , NHN
0
& PTNT Việt Nam
ban hành phụ lục số 1 kèm theo quyết định 499A ngày 2/ 9/ 1993, theo đó thì khái
niệm hộ sản xuất được hiểu như sau : "Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, trực
tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh
doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của mình". Thành phần
chủ yếu của hộ sản xuất bao gồm : hộ nông dân, hộ tư nhân, cá thể, hộ gia đình xã

là nguồn gốc của giá trị thặng dư, lao động góp phần làm tăng của cải vật chất cho
mọi quốc gia. Việt Nam có 80 % dân số sống ở nông thôn, nhưng việc khai thác và
sử dụng nguồn nhân lực này còn đang ở mức thấp do trình độ thấp. Hiện nay, ở
nước ta có khoảng 13 triệu lao động chưa được sử dụng và quỹ thời gian của người
lao động ở nông thôn cũng chưa được sử dụng hết. Các yếu tố sản xuất chỉ mang
lại hiệu quả thấp do có sự mất cân đối giữa lao động, đất đai và việc làm ở nông
thôn. Như vậy, để sử dụng hợp lý nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn
nước ta cần phải phát triển kinh tế hộ sản xuất . Trên thực tế đã cho thấy trong
những năm vừa qua hàng triệu cơ sở sản xuất được tạo ra bởi các hộ sản xuất trong
khu vực nông nghiệp và nông thôn.
c. Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc đẩy sản xuất
hàng hoá.
Ngày nay, hộ sản xuất đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự tự do cạnh
tranh trong sản xuất hàng hoá, là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, các hộ sản xuất
phải quyết định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuất cái gì ? Sản
xuất như thế nào để trực tiếp quan hệ với thị trường. Để đạt được điều này các hộ
sản xuất đều phải không ngừng nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm cho phù
hợp với nhu cầu và một số biện pháp khác để kích thích cầu, từ đó mở rộng sản
xuất đồng thời đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.
Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động, hộ sản xuất có thể dễ
dàng đáp ứng được những thay đổi của nhu cầu thị trường mà không sợ ảnh hưởng
đến tốn kém về mặt chi phí. Thêm vào đó lại được Đảng và Nhà nước có các chính
sách khuyến khích tạo điều kiện để hộ sản xuất phát triển . Như vậy với khả năng
nhạy bén trước nhu cầu thị trường, hộ sản xuất đã góp phần đáp ứng đầy đủ nhu
cầu ngày càng cao của thị trường tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát
triển cao hơn.
3. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế hộ sản xuất :
Nước ta là một nước nông nghiệp với 80% dân số sống ở nông thôn, chúng ta
tiến lên CHXH dựa trên nền sản xuất thuần nông. Sớm nhận thức rõ vai trò của
nông nghiệp trong quá trình xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta từng bước có

dụng, quyền lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh có lợi nhất, quyền tự do lưu
thông tiêu thụ sản phẩm.
Nghị quyết TW 5 cùng các văn bản luật, NĐ của Chính phủ đã tạo hành lang
pháp lý, khơi dậy động lực cho hơn 10 triệu hộ nông dân phát triển . Từ đó phát
triển mạnh nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8 với chủ trương CNH - HĐH nông nghiệp
nông thôn thì nông nghiệp nông thôn nói chung, hộ sản xuất nói riêng đã được đặt
lên vị trí quan trọng hàng đầu của sự nghiệip CNH - HĐH đất nước. Nghị quyết
TW 6 lần 1 với chủ trương "tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CCNH - HĐH
đất nước nhất là CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn " đã khẳng định nông nghiệp
nông thôn là lĩnh vực có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và về lâu dài làm
cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Cùng với chính sách về các thành
phần kinh tế , kinh tế hộ được khuyến khích phát triển : "kinh tế hộ gia đình tồn tại
và phát triển lâu dài, luôn luôn có vị trí quan trọng".
II. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ SẢN XUẤT:
1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng :
Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hoá. Bản chất của tín dụng là quan
hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ
chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng
có lợi. Trong nền kinh tế hàng hoá có nhiều loại hình tín dụng như : Tín dụng
thương mại, tín dụng Ngân hàng , tín dụng Nhà nước , tín dụng tiêu dùng.
Tín dụng Ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng nói
chung. Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong vay và cho vay giữa các Ngân hàng, tổ
chức tín dụng với các doanh nghiệp và các cá nhân, được thực hiện dưới hình thức
tiền tệ và theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi.
Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng quy định :
"Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn
vốn huy động để cấp tín dụng"
"Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một
khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho

số 06/ HĐQT - NHN
0
& PTNT Việt Nam về việc quy định cho vay đối với khách
hàng mới gần đây nhất ngày 18/ 1/ 2001 thay cho quyết định 180 cũ. Từ đó đã giải
quyết cơ bản những khó khăn thắc mắc về cơ chế thủ tục tạo môi trường pháp lý
cho hoạt động tín dụng phát triển . Với các văn bản trên đã mở ra một thị trường
mới cho Ngân hàng trong hoạt động tín dụng. Trong khi đó hộ sản xuất đã cho thấy
sản xuất có hiệu quả nhưng còn thiếu vốn để mở rộng tiến hành sản xuất kinh
doanh. Đứng trước tình trạng đó, việc tồn tại một hình thức tín dụng Ngân hàng đối
với hộ sản xuất là một tất yếu và phù hợp với cung cầu trên thị trường được môi
trường xã hội, pháp luật cho phép.
2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất :
Trong nền kinh tế hàng hoá các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất
kinh doanh nếu không có vốn. Nước ta hiện nay thiếu vốn là hiện tượng thường
xuyên xảy ra đối với các đơn vị kinh tế, không chỉ riêng đối với hộ sản xuất. Vì
vậy vốn tín dụng Ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, nó trở thành "bà đỡ"
trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
Nhờ có vốn tín dụng các đơn vị kinh tế đảm bảo quá trình sản xuất kinh
doanh bình thường mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật
mới đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh. Riêng đối với hộ sản xuất, tín dụng Ngân
hàng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộ sản xuất.
a. Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất để duy trì quá
trình sản xuất liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế .
Với đặc trưng sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất cùng với sự chuyên môn
hoá sản xuất trong xã hội ngày càng cao, đã dẫn đến tình trạng các hộ sản xuất khi
chưa thu hoạch sản phẩm, chưa có hàng hoá để bán thì chưa có thu nhập, nhưng
trong khi đó họ vẫn cần tiền để trang trải cho các khoản chi phí sản xuất, mua sắm
đổi mới trang thiết bị và rất nhiều khoản chi phí khác. Trong những lúc này các hộ
sản xuất cần có sự trợ giúp của tín dụng Ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất
được liên tục. Nhờ có sự hỗ trợ về vốn, các hộ sản xuất có thể sử dụng hiệu quả các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status