LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC
1.1. Sự cần thiết quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
1.1.1. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Trên thế giới hiện có rất nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp nhà nước.
Có người cho rằng doanh nghiệp nhà nước là các xí nghiệp công làm nhiệm vụ sự
nghiệp (cảnh sát, cứu hoả, y tế, giáo dục...). Khi giảng về doanh nghiệp nhà nước,
giáo sư Michel Rambolt đã đưa ra ba tiêu chí xác định doanh nghiệp nhà nước:
doanh nghiệp nhà nước trực tiếp chịu sự kiểm soát của ai? Sản xuất ra sản phẩm
đem bán hay không đem bán? Hoạt động gắn với lợi ích chung hay lợi ích cá
nhân? Từ đó, ông quan niệm rằng: Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp chịu sự
kiểm soát trực tiếp của nhà nước, được phân làm hai loại: Loại một là các xí
nghiệp, tổ chức sản xuất những sản phẩm không dùng để bán, nó làm việc vì lợi
ích chung và được gọi là các cơ quan hành chính; Loại hai là các xí nghiệp công
cộng, loại này lại được chia thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất là các doanh nghiệp
sản xuất mặt hàng để bán, trao đổi, hoạt động vì lợi ích chung, sản phẩm của nó
thường là các dịch vụ công cộng. Nhóm hai là các doanh nghiệp hoạt động trong
môi trường phải cạnh tranh, thường hoạt động vì lợi ích riêng nào đó.
Ở nước ta, theo Luật doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua ngày
20/4/1995: doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước thành lập, đầu tư
vốn và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực
hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có tư
cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt
động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Doanh nghiệp
nhà nước có tên gọi, con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam.
Doanh nghiệp nhà nước mang các đặc điểm chung với các loại hình doanh
nghiệp khác như:
Thứ nhất, chức năng kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước bao gồm: sản xuất-
cung ứng trao đổi, hợp tác và tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá dịch vụ.
Hai là, doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân. Tư cách pháp nhân của
doanh nghiệp nhà nước là điều kiện cơ bản quyết định sự atồn tại của doanh nghiệp
động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận) và doanh nghiệp nhà nước hoạt động công
ích (hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà
nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh...)
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phát triển trong mối quan hệ
kinh tế đa dạng về hình thức sở hữu, về vốn và tài sản, về cơ chế tổ chức quản lý.
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường không chỉ tồn tại đơn nhất trong khu
vực kinh tế quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước) như trong nền kinh tế kế hoạch
hoá mà còn tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu bao gồm các loại hình tổ chức
doanh nghiệp khác nhau như: Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty cổ phần, công ty liên doanh... Nhưng doanh nghiệp nhà nước có vị trí đặc
biệt quan trọng, nó là bộ phận nòng cốt của thành phần kinh tế nhà nước, thành
phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Vai trò của doanh nghiệp nhà
nước được thể hiện qua những chức năng cụ thể sau:
Thứ nhất, chức năng định hướng sự phát triển của nền kinh tế. Chức năng này
thể hiện ở chỗ doanh nghiệp nhà nước phải đi tiên phong trong các lĩnh vực chiến
lược theo đường lối phát triển của nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh
tế khác tham gia; doanh nghiệp nhà nước phải là mẫu mực về trình độ quản lý, về
hiệu quả kinh doanh để các doanh nghiệp khác noi theo;
Thứ hai, chức năng hỗ trợ và phục vụ. Sự khác biệt giữa doanh nghiệp nhà nước
và các loại hình doanh nghiệp khác là sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước
không phải đơn thuần vì bản thân nó mà quan trọng hơn cả là tạo điều kiện cho sự
phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Bởi vậy, doanh nghiệp nhà nước được
bố trí xây dựng ở những khu vực ngành nghề cần thiết tạo điều kiện cho nền kinh
tế phát triển đồng đều giữa các vùng của đất nước;
Thứ ba, chức năng đảm bảo sức mạnh vật chất để nhà nước điều tiết và hướng
dẫn nền kinh tế thị trường. Chức năng này được hiểu là các doanh nghiệp nhà nước
phải có đóng góp thích đáng cho sự phát triển kinh tế bằng việc kinh doanh có hiệu
quả; doanh nghiệp nhà nước phải bảo đảm vai trò quyết định này để Chính phủ có
đủ nguồn lực chỉ đạo và hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo mục tiêu đề ra.
1.1.2. Tính tất yếu của việc quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
1.1.2.2. Tính tất yếu của việc quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
Nhà nước phải quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước vì:
Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu nhà nước nhưng nhà nước giao
cho một số cá nhân, đơn vị sử dụng. Như vậy có sự tách biệt giữa người sở hữu
vốn và người sử dụng vốn, hai đối tượng này có thể có mục tiêu không phù hợp
nhau. Các doanh nghiệp nhà nước không phải đương đầu với nguy cơ bị đối thủ
cạnh tranh mua lại như các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân. Do đó người sử
dụng vốn có thể sử dụng vào những động cơ cá nhân, những động cơ có thể làm
cho những nhà lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước hành động không nhất quán
với các mục tiêu của doanh nghiệp. Khi những người này không nắm quyền sở hữu
vốn của doanh nghiệp và cũng không thể tăng thêm sự giàu có cho bản thân bằng
cách tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thì chẳng có gì kích thích họ phải
nhìn xa khi quyết định phương án sản xuất kinh doanh. Vì thế đòi hỏi phải có sự
quản lý chặt chẽ của nhà nước nhằm đảm bảo vốn và tài sản của nhà nước không bị
xâm phạm trong quá trình kinh doanh cũng như doanh nghiệp hoạt động theo đúng
mục tiêu nhà nước đề ra.
Thứ hai, nhà nước quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước cũng là
thực hiện vai trò quản lý nhà nước của mình. Nhà nước ban hành các chế độ tài
chính đối với doanh nghiệp nhà nước, theo dõi và kiểm tra việc chấp hành các chế
độ đó. Việc theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước
giúp cơ quan quản lý nắm bắt được tình hình thực tế tại các doanh nghiệp, theo dõi
tiến trình thực hiện các văn bản. Từ đó thu thập thông tin để chỉnh sửa, bổ sung,
hoàn thiện các chính sách cho kịp thời, phù hợp với thực tế. Đồng thời thông qua
công tác quản lý vốn, nhà nước mới có những thông tin chính xác để đánh giá đúng
chất lượng kinh doanh ở các doanh nghiệp nhà nước. Trên cơ sở các thông tin đánh
giá này, nhà nước có kế hoạch sắp xếp, bố trí lại các doanh nghiệp, vốn và lao
động, hoàn thiện các khâu quản lý nhằm đạt hiệu quả kinh doanh và thực hiện các
mục tiêu xã hội.
Thứ ba, đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh, phần lợi
nhuận sau thuế thuộc về nhà nước. Nhà nước sử dụng lợi nhuận đó để duy trì và tái
vốn ở doanh nghiệp, nhờ đó tăng quy mô và tốc độ phát triển sản xuất kinh doanh,
tăng nguồn thu vào ngân sách nhà nước. Nguồn thu vào ngân sách nhà nước càng
nhiều thì Chính phủ càng có khả năng tài chính để tăng quy mô đầu tư vốn, phát
triển các quỹ tài trợ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; kế đó, quy mô đầu
tư và tài trợ từ ngân sách đối với doanh nghiệp càng lớn thì nó sẽ kích thích mạnh
mẽ hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, và qua đó Chính phủ còn thực hiện được yêu
cầu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế theo định hướng đã đề ra.
Các Chính phủ thường ban hành chính sách quản lý vốn và tài sản theo hướng:
Một là, tăng cường quyền tự chủ về mặt tài chính của các doanh nghiệp nhà
nước trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực quản
lý vốn và tài sản;
Hai là, nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp trong việc quản lý và sử
dụng các nguồn lực nhà nước giao. Thiết lập các cơ chế thích hợp để hướng sự
quan tâm và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn như: cơ
chế trích lập dự phòng, cơ chế bù lỗ...
Ba là, quy định các chính sách ưu đãi về mặt tài chính đối với các doanh nghiệp
nhà nước hoạt động công ích như: hỗ trợ vốn, bù chênh lệch khi thực hiện các
nhiệm vụ nhà nước giao, bảo đảm thoả đáng lợi ích vật chất cho người lao động
trong các doanh nghiệp nhà nước này...Đồng thời thiết lập cơ chế quản lý hợp lý
đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các nguồn lực nhà nước
giao.
Chính sách quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước bao trùm các
nội dung quản lý sau:
a, Quản lý việc hình thành vốn của doanh nghiệp nhà nước:
Doanh nghiệp nhà nước có thể được đầu tư vốn khi mới thành lập hoặc đầu tư
bổ sung trong quá trình hoạt động. Ngoại trừ các doanh nghiệp hình thành do kết
quả quốc hữu hoá, các doanh nghiệp nhà nước đều được hình thành trên cơ sở
nguồn vốn cấp phát ban đầu của nhà nước. Tuy nhiên căn cứ vào tình hình thực tế
mà nhà nước quyết định cấp dưới hình thức trực tiếp (cấp thẳng từ ngân sách nhà
nước) hay gián tiếp (qua các hình thức ghi thu-ghi chi như: chuyển vốn từ doanh
tách) là số vốn sở hữu hiện có tại doanh nghiệp hoặc các doanh nghiệp thành viên,
sau khi đã được kiểm tra, thẩm định theo quy định hiện hành của nhà nước.
Trong khi khu vực kinh tế tư nhân có thể được huy động một cách tự chủ và
linh động trong môi trường kinh doanh, khu vực kinh tế nhà nước thường chỉ được
phép huy động vốn dưới một số hình thức nhất định, các kênh huy động vốn đó là:
Thứ nhất, huy động vốn từ Ngân sách nhà nước: Các doanh nghiệp khi có nhu
cầu về vốn có thể đề nghị nhà nước xét duyệt cấp vốn cho doanh nghiệp mình. Đây
là nguồn vốn đặc biệt , chỉ các doanh nghiệp nhà nước mới có đặc quyền được yêu
cầu và đây cũng là nguồn vốn chủ lực của các doanh nghiệp nhà nước.
Thứ hai, huy động vốn thông qua hoạt động liên doanh, liên kết: Đây là việc
góp tiền hoặc tài sản với các doanh nghiệp khác để mở rộng sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp có thể liên doanh liên kết với các doanh nghiệp, tổ chức khác để huy
động vốn.
Thứ ba, huy động vốn bằng cách đi vay: Doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu
vốn của mình bằng cách đi vay những khoản tín dụng dài hạn, ngắn hạn, hoặc
trung hạn từ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, các doanh
nghiệp khác, các cá nhân (kể cả các cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp),
được phát hành trái phiếu huy động vốn để đầu tư phát triển.
Thứ tư, huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, cổ phiếu thường mới để
bán cho công nhân viên chức trong doanh nghiệp và ngoài xã hội.
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể huy động vốn cho sản xuất kinh doanh từ chính
các quỹ của doanh nghiệp. Nhà nước có quy định cụ thể về việc sử dụng các quỹ
này.
b, Quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước
• Quản lý sử dụng vốn và tài sản trong phạm vi doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước là một đơn vị sản xuất
kinh doanh độc lập, được tự chủ trong hoạt động kinh tế và tự chịu trách nhiệm về
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nước thực hiện việc giao quyền sử
dụng vốn và tài sản cho doanh nghiệp nhằm tạo ra sự độc lập tương đối trong việc
và sử dụng của mình, để nâng cao hiệu suất sử dụng, tăng thu nhập nhưng phải
theo dõi, thu hồi tài sản khi hết hạn cho thuê. Đối với tài sản cho thuê hoạt động,
doanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao theo chế độ quy định. Doanh nghiệp được
đem tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để cầm cố, thế chấp vay vốn
hoặc bảo lãnh tại các tổ chức tín dụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định của
pháp luật. Doanh nghiệp không đợc đem cầm cố, thế chấp, cho thuê các tài sản đi
mượn, đi thuê, nhận giữ hộ, nhận cầm cố, nhận thế chấp ... của doanh nghiệp khác
nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản đó.
Doanh nghiệp được nhượng bán các tài sản không cần dùng, lạc hậu về kỹ thuật
để thu hồi vốn sử dụng cho mục đích kinh doanh có hiệu qủa hơn. Chênh lệch giữa
số tiền thu được do thanh lý, nhượng bán tài sản với giá trị còn lại trên sổ kế toán
và chi phí nhượng bán, thanh lý (nếu có) được hạch toán vào kết qủa kinh doanh
của doanh nghiệp.
Mọi tổn thất tài sản của doanh nghiệp phải lập biên bản xác định mức độ,
nguyên nhân và trách nhiệm đưa ra biện pháp xử lý.
Doanh nghiệp được đánh giá lại tài sản và hạch toán tăng giảm vốn khoản
chênh lệch do đánh giá lại tài sản trong các trường hợp sau: Kiểm kê đánh giá lại
tài sản theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Thực hiện cổ phần
hóa, đa dạng hóa hình thức sở hữu, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp; Dùng tài sản
để liên doanh, góp vốn cổ phần (khi đem tài sản đi góp vốn và khi nhận tài sản về).
• Quản lý vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp: