CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHO VAY TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG - Pdf 75

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHO VAY TRONG HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
I. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI NỀN
KINH TẾ QUỐC DÂN.
1. Cơ sở ra đời của tín dụng ngân hàng:
Tín dụng Ngân hàng ra đời trên cơ sở trong xã hội có sự phân công lao
động ngày càng rõ nét, sự xuất hiện chế độ tư nhân về tư liệu sản xuất và sự lệch
pha thời gian của tuần hoàn vốn trong sản xuất, kinh doanh của từng đơn vị sản
xuất.
Xét về mặt xã hội, sự xuất hiện chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở
hình thành sự phân hoá xã hội, của cải tiền tệ có xu hướng tập trung vào những
nhóm người, trong lúc đó một nhóm người khác có thu nhập thấp họặc thu nhập
không đáp ứng đủ nhu cầu tối thiểu của cuộc sống, đặc biệt khi gặp khó khăn hay
biến cố bất thường xảy ra. Trong điều kiện như vậy, nhu cầu cấp bách cần vốn để
giải quyết những đòi hỏi của đời sống và phát triển kinh tế xuất hiện. Để đáp ứng
nhu cầu đó cần có một tổ chức tín dụng ra đời. Đó là điều kiện xuất hiện tín dụng
ngân hàng. Chủ thể tham gia quan hệ tín dụng là các cá nhân hay các doanh
nghiệp.
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường, xuất phát từ đặc điểm
tuần hoàn vốn tiền tệ, người sản xuất bán được sản phẩm nhưng có thể chưa có
nhu cầu sử dụng vốn để mua vật liệu ngay, trong khi người khác lại tạm thời có
nhu cầu đó; vì vậy phát sinh nhu cầu đi vay và cho vay của người thừa và thiếu
vốn trong cùng một thời điểm, đòi hỏi phải có một tổ chức đứng ra làm trung
gian. Xuất phát từ những yêu cầu trên, tổ chức NHTM đã ra đời và bằng hoạt động
của mình NHTM đã giải quyết được nhu cầu thừa, thiếu vốn của các chủ thể.
Tín dụng Ngân hàng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ
người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi được một lượng
giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Trong quan hệ chuyển giao này thể hiện:
- Người cho vay giao cho người sử dụng một lượng giá trị nhất định, giá trị
này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật như máy móc, thiết bị, bất động sản.
- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định. Sau

tiền tệ thường rất nhỏ so với giá trị khoản cho vay, nên sự bù đắp rủi ro xẩy ra là
quá ít ỏi. Từ đó có thể thấy rằng, quan hệ tín dụng buộc phải có lòng tin. Trong
những trường hợp thiếu lòng tin thì quan hệ tín dụng khó có thể được tạo lập.
3. Vai trò của tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân.
Trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá nền kinh tế đất nước, nhu
cầu về vốn rất lớn. Cùng một thời điểm có nhiều chủ thể có vốn nhàn rỗi, trong khi
đó có những chủ thể khác lại thiếu vốn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh. Chủ thể có vốn nhàn rỗi thì mong muốn nó có khả năng sinh lời nhưng họ
lại không biết tiến hành hoạt động kinh doanh hay không có phương án kinh doanh
hiệu quả, còn những chủ thể biết cách kinh doanh hay có các kế hoạch kinh doanh
hiệu quả thì lại không có vốn. Từ yêu cầu đó, tín dụng Ngân hàng ra đời và đã giải
quyết thoả đáng những yêu cầu đó thông qua hoạt động huy động vốn và cho vay.
Hoạt động tín dụng Ngân hàng xuất hiện là điều hết sức cần thiết và có vai trò to
lớn trong việc phục vụ phát triển nền kinh tế của mọi quốc gia.
3.1 Tín dụng Ngân hàng ra đời đã đáp ứng vốn để duy trì quá trình tái sản
xuất đồng thời đầu tư vốn phát triển kinh tế.
Vốn sản xuất kinh doanh vận động liên tục và biểu hiện các hình thái khác
nhau, qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất theo chu kì tuần hoàn và luân
chuyển vốn, điểm xuất phát và kết thúc của một vòng tuần hoàn này thể hiện dưới
dạng tiền tệ.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động kinh doanh liên
tục đòi hỏi doanh nghiệp sản xuất phải đồng thời tồn tại ở cả 3 giai đoạn là dự trữ
- sản xuất - lưu thông. Do đó, dù không mong muốn thì hiện tượng thừa, thiếu vốn
tạm thời vẫn thường xảy ra. Đây là hiện tượng tuy mang tính chất tạm thời, nhưng
thường xuyên xảy ra và phổ biến trong nền kinh tế mọi quốc gia. Hiện tượng đó
đã làm nảy sinh yêu cầu bức xúc là điều hoà vốn. NNTM với vai trò trung gian tín
dụng đã đứng ra tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, điều hoà cung cầu về vốn
trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, đã góp phần tạo điều kiện cho quá trình sản
xuất kinh doanh không bị gián đoạn.
Tín dụng ngân hàng không chỉ đáp ứng vốn kịp thời cho các đơn vị sản xuất

Khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế đi qua quỹ nghiệp vụ NHTM vì
thế tín dụng Ngân hàng là công cụ trực tiếp tác động vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế và nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến
đời sống của mọi người dân trong xã hội. Bằng chính sách thu hút và nghệ thuật
kinh doanh Ngân hàng sẽ tiếp nhận một khối lượng tiền mặt không nhỏ và đem
phân phối cho nền kinh tế. Khối lượng tiền mặt do ngân hàng cung ứng sẽ đáp ứng
nhu cầu tiền mặt cho các đơn vị phục vụ sản xuất kinh doanh hay phục vụ nhu cầu
tiêu dùng của các cá nhân.
Bằng hoạt động tín dụng NHTM có thể gia tăng hoặc thu hẹp khối lượng
tiền trong lưu thông góp phần điều tiết khối lượng tiền trong nền kinh tế, góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát.
3.4 Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế.
Tín dụng Ngân hàng là có tính thời hạn và tính hoàn trả, tức là sau khi hết
thời hạn vay người vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi.
Đối với các đơn vị sử dụng vốn tín dụng của Ngân hàng, ngoài việc được
cung ứng vốn một cách đầu đủ, kịp thời, còn được Ngân hàng hỗ trợ trong quá
trình sử dụng vốn thông qua những ý kiến đóng góp khi lập các phương án hay các
dự án hoặc chọn đối tác kinh doanh. Sở dĩ Ngân hàng thực hiện được việc này là
vì Ngân hàng có quan hệ rất rộng lớn với các khách hàng nên Ngân hàng có thể
biết được đơn vị nào hoạt động kinh doanh có hiệu quả và đơn vị nào kinh doanh
không có hiệu quả. Khi sử dụng vốn vay của Ngân hàng, khách hàng phải có trách
nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định. Vì vậy đòi hỏi các
doanh nghiệp, cá nhân có vay vốn của ngân hàng phải nỗ lực trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh và phải tìm cách để sử dụng vốn sao cho có hiệu quả,
giảm chi phí tối đa, tăng nhanh vòng quay của vốn đảm bảo kinh doanh có lãi.
Việc sử dụng vốn vay của Ngân hàng khác hẳn với sử dụng vốn Ngân sách
cấp ở chỗ, khi sử dụng vốn của ngân sách Nhà nước nước cấp, đơn vị sử dụng
không phải hoàn trả hoặc chỉ phải nộp một tỷ lệ nhỏ về sử dụng vốn cho ngân sách
Nhà Nước. Còn việc sử dụng vốn tín dụng, việc phải trả lãi tín dụng là bắt buộc.
Ngoài các đặc điểm đã được nêu ở trên, tín dụng Ngân hàng còn giúp cho

ngân hàng và vận dụng các nguyên tắc, hệ thống các phương pháp của lý thuyết
hạch toán kế toán, Nó vừa có đặc điểm chung của hạch toán kế toán, vừa có những
đặc điểm riêng phù hợp với đặc điểm kinh doanh đặc biệt của ngân hàng (kinh
doanh tiền tệ). Nghiên cứu kế toán ngân hàng cũng chính là nghiên cứu vốn và sự
vận động của vốn, đồng thời thấy rõ được tầm quan trọng của kế toán ngân hàng
nói chung và kế toán cho vay nói riêng.
1. Vai trò của kế toán ngân hàng.
Kế toán ngân hàng là công cụ ghi chép phản ánh bằng con số về huy động
vốn, sử dụng vốn và kết quả kinh doanh tại các đơn vị Ngân hàng trên cơ sở đó
cung cấp thông tin và quản lý an toàn tài sản.
Vai trò của kế toán ngân hàng thể hiện chủ yếu ở các điểm sau:
- Cung cấp thông tin tổng hợp phục vụ quản lý nền kinh tế, cung cấp thông
tin hoàn chỉnh đầy đủ cho người lãnh đạo ra quyết định điều hành hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng. Cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý Nhà Nước về tiền
tệ, tổ chức thống kê, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch chung cho cả nền kinh tế.
- Bảo vệ an toàn tài sản của bản thân Ngân hàng đồng thời bảo vệ tài sản của
toàn xã hội. Do vậy kế toán ngân hàng phải ghi chép toàn bộ các hoạt động kinh tế
phát sinh, kiểm soát chặt chẽ từng loại tài sản tránh mất mát, thiếu hụt.
- Đáp ứng yêu cầu chỉ đạo quản trị lãnh đạo Ngân hàng. Các số liệu do kế
toán ngân hàng cung cấp là bằng chứng tốt nhất của các tổ chức kinh tế và Ngân
hàng.
- Căn cứ vào tài liệu kế toán ngân hàng các nhà lãnh đạo quản trị biết được
những mặt được và mặt còn tồn tại từ đó chỉ đạo và quản trị Ngân hàng hiệu quả.
Số liệu kế toán cung cấp còn là căn cứ cho việc hoạch định chính sách tiền tệ quốc
gia và chỉ đạo hoạt động của toàn bộ nền kinh tế.
2. Nhiệm vụ của kế toán ngân hàng
Để phát huy đầy đủ vai trò của mình, kế toán ngân hàng cần phải thực hiện
các nhiệm vụ sau:
- Kế toán ngân hàng cần phải ghi chép đầy đủ chính xác kịp thời mọi nghiệp
vụ kinh tế phát sinh thuộc hoạt động nguồn vốn và sử dụng vốn của Ngân hành

hàng.
1. Vai trò của kế toán cho vay.
Kế toán cho vay có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ổn định kinh
doanh của Ngân hàng. Việc kế toán cho vay phản ánh đầy đủ, kịp thời, chính xác
diễn biến tình hình sử dụng vốn, sẽ giúp cho nhà lãnh đạo ngân hàng đề ra các
chiến lược kinh doanh đạt hiệu quả. Sở dĩ kế toán cho vay có vai trò quan trọng
như vậy là vì nó tham gia trực tiếp vào quá trình cho vay vốn (nghiệp vụ kinh
doanh chủ yếu của Ngân hàng).
Kế toán cho vay cung cấp cho đơn vị, tổ chức kinh tế, cá nhân có quan hệ
với Ngân hàng những thông tin liên quan đến quá trình cho vay, thu nợ, thu lãi
một cách kịp thời chính xác. Cung cấp cho nhà lãnh đạo biết được tình hình dư nợ
cho vay, nợ quá hạn từ đó có phương pháp chỉ đạo điều hành phù hợp nhằm đạt
được các mục tiêu đề ra.
Kế toán cho vay giúp cho Ngân hàng thu nợ, thu lãi, chuyển nợ quá hạn
chính xác kịp thời, thông qua kế toán cho vay có thể biết được tình hình hấp thụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status