Đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa việt nam và hàn quốc trong khuôn khổ hiệp định thương mại tự do việt nam – hàn quốc VKFTA TT - Pdf 75

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

-----o0o-----

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
ĐẨY MẠNH QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ
HÀN QUỐC TRONG KHUÔN KHỔ HIỆP ĐỊNH
THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – HÀN QUỐC (VKFTA)

Ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 9310106

HOÀNG HẢI

Hà Nội, 2021


LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM THU HƯƠNG

Phản biện 1:…………………………………..

Phản biện 2:…………………………………..

Phản biện 3:…………………………………..

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp trường họp
tại……………………………………………………………………………….

mại đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa hai nền kinh tế vốn có những nét đặc trưng
tương đồng về nét văn hóa, lịch sử
Trong gầm 30 năm qua, Hàn Quốc ln đứng trong danh sách nhóm 5 nước có quan hệ kinh
tế quy mơ lớn nhất với Việt Nam. Vì vậy, có thể nói Hàn Quốc đã trở thành một trong những đối
tác kinh tế quan trọng bậc nhất của Việt Nam.. Kể từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao cho đến
nay, giao dịch thương mại hai chiều giữa hai nước đã tăng khoảng 54 lần, thu hút hàng trăm nghìn
người lao động Việt Nam vào làm việc. Điều này đã góp phần cải thiện tình hình kinh tế xã hội và
nâng cao uy tín của từng quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Năm 2019, Hàn Quốc là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam và là thị trường xuất
khẩu lớn thứ tư, thị trường nhập khẩu lớn thứ hai của Việt Nam (dangcongsan.vn, 2020). Số liệu
trên cho thấy tầm quan trọng của thị trường Hàn Quốc đối với thương mại của Việt Nam.
Việt Nam và Hàn Quốc cũng là những đối tác gắn bó chặt chẽ ngay trong các diễn đàn khu
vực và quốc tế như ASEAN+3, APEC, ASEM, Liên hợp Quốc, WTO. Năm 2007, Việt Nam và các
nước ASEAN khác đã ký Hiệp định FTA ASEAN-Hàn Quốc. Các Hiệp định đa phương này đã
đem lại sự khởi sắc cho mối quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc. Tuy nhiên, quan hệ thương
mại Việt Nam – Hàn Quốc vẫn bị ràng buộc bởi các cam kết đa phương. Cán cân thương mại hai
chiều Việt Nam – Hàn Quốc vẫn ln ở mức xuất siêu từ phía Hàn Quốc.
Chính vì vậy, để tăng cường mối quan hệ song phương Việt Nam – Hàn Quốc, năm 2012,
chính phủ hai nước đã khởi động các vòng đàm phán ký kết Hiệp định thương mại tự do song
phương Việt Nam – Hàn Quốc. Hiệp định bao gồm các nhóm nội dung chính về: Thương mại hàng
hóa (cam kết cắt giảm thuế quan); Thương mại dịch vụ (bao gồm các Phụ lục về viễn thơng, tài
chính...), Đầu tư, Sở hữu trí tuệ, Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và Kiểm dịch động thực
vật (SPS); Quy tắc xuất xứ, Thuận lợi hóa hải quan, Phịng vệ thương mại, Hàng rào kỹ thuật trong
thương mại (TBT), Thương mại điện tử, cạnh tranh, Thể chế và Pháp lý, Hợp tác kinh tế.
Khi Hiệp định VKFTA chính thức được ký kết trong năm 2015, luồng hàng hóa và vốn di
chuyển sẽ tự do hóa giữa hai quốc gia, các cơ hội thương mại được mở rộng hơn đối với các
doanh nghiệp Việt Nam và Hàn Quốc. Song, cơ hội nhiều, thách thức cũng sẽ càng lớn. Nguy cơ
đối với các DN VN như phá sản, mất thị trường ngay trên sân nhà có thể nhìn thấy ngay trước
mắt. Quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước Hàn Quốc và Việt Nam sẽ có nhiều sự thay đổi
theo nhiều chiều, cả về mặt tích cực và tiêu cực, dẫn tới tác động đến sự phát triển kinh tế của

định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) với mong muốn đem lại một góc nhìn
mới, trong bối cảnh mới về quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Hàn Quốc; đồng thời gợi ý một số
định hướng, giải pháp đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác thương mại giữa hai quốc gia; cũng là những
biện pháp có thể giúp Việt Nam phát triển kinh tế, nâng cao vị thế quốc gia và hội nhập thành công
trong thời đại mới.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu:
Mục tiêu chung: thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc đến năm 2030
Mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ mối quan hệ thương mại ở cả hai mảng: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ
giữa Chính phủ và doanh nghiệp hai nước Việt Nam và Hàn Quốc trước khi ký kết VKFTA và sự
thay đổi của mối quan hệ này sau khi VKFTA chính thức được ký kết.
- Phân tích sự phát triển kinh tế Việt Nam đặt trong mối quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn
Quốc trước và sau khi VKFTA có hiệu lực.
- Xác định các giải pháp đẩy mạnh mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Hàn Quốc
tới năm 2030 trong bối cảnh VKFTA, đảm bảo thu được lợi ích kinh tế cho Việt Nam từ hợp tác
thương mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc.
2.2. Câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng về quan hệ thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn
Quốc trước khi ký kết VKFTA như thế nào, sau khi ký VKFTA thì có thay đổi gì? Những mặt được
và hạn chế trong mối quan hệ thương mại Việt Nam và Hàn Quốc là gì?
- VKFTA có tác động gì đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc?
- Việt Nam cần làm gì để phát triển mối quan hệ hợp tác thương mại với Hàn Quốc trong bối
cảnh Việt Nam ký kết Hiệp định VKFTA vào năm 2015, đồng thời đảm bảo được lợi ích kinh tế từ
quan hệ hợp tác thương mại này?
2.3. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu quan hệ thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa hai nước Việt Nam và
Hàn Quốc đặt trong bối cảnh Hiệp định thương mại Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) có hiệu lực.
.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

giữa Việt Nam và Hàn Quốc, bao gồm các biến về GDP bình quân đầu người của Việt Nam và Hàn
Quốc (giải thích được nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ, là cơ sở để luân chuyển dòng hàng và dịch
vụ đi từ quốc gia này sang quốc gia khác), các yếu tố khác về kinh tế vĩ mô như chỉ số lạm phát,
yếu tố về cơ sở hạ tầng, yếu tố về lao động, chủng loại hàng hóa, v.v.. cũng đã được đưa vào mơ
hình để giải thích yếu tố ln chuyển hàng hóa và dịch vụ từ Việt Nam sang Hàn Quốc và ngược
lại. Trong bối cảnh giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã có những thỏa thuận thương mại ưu đãi nhằm
tạo điều kiện hơn nữa cho thương mại song phương, Luận án cũng đã sử dụng các biến về Hiệp
định thương mại tự do để giải thích tác động của các Hiệp định này đến thương mại hàng hóa và
dịch vụ hai chiều giữa Việt Nam và Hàn Quốc.
Tuy nhiên, do dữ liệu về thương mại dịch vụ hai chiều giữa Việt Nam và Hàn Quốc chưa đi
sâu vào từng loại hình dịch vụ khác nhau, nên Luận án đã sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn
sâu chuyên gia (bao gồm các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, tổ chức và nhà nghiên cứu) để làm rõ hơn
tình hình thương mại trong một số lĩnh vực dịch vụ chủ yếu trong quan hệ Việt Nam và Hàn Quốc.
Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện trong tháng 5/2020 thông qua phỏng vấn trực tiếp và
trao đổi qua điện thoại do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid – 19. Các ý kiến trao đổi đã được ghi
chép và sử dụng có chọn lọc làm cơ sở cho các nhận định trong Luận án.
4.2. Nguồn dữ liệu
Các dữ liệu được sử dụng trong đề tài được lấy từ nhiều nguồn khác nhau: trong đó, số liệu
về thương mại hàng hóa của Việt Nam và Hàn Quốc được sử dụng từ nguồn của tổ chức KITA (The
Korea International Trade Association – Hiệp hội Thương mại quốc tế Hàn Quốc) với dữ liệu chi
tiết đến chương.
Với dữ liệu về thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc, để phân tích tác động của
VKFTA đến thương mại dịch vụ của Việt Nam, NCS sử dụng dữ liệu của OECD trong giai đoạn
1995 đến 2019 để phân tích.
Các dữ liệu khác nhằm phục vụ cho q trình phân tích mơ hình cũng được sử dụng ở nhiều
nguồn tin cậy khác nhau, như: GDP, lạm phát, dân số, tỷ giá hối đoái, cơ sở hạ tầng… đều được lấy
nguồn từ WB. Với nguồn dữ liệu về đầu tư FDI giữa hai quốc gia trong giai đoạn nghiên cứu (1991
đến 2019) được lấy từ nguồn dữ liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam.
Để bổ sung cho các nhận định về thương mại dịch vụ, NCS sử dụng nguồn tin sơ cấp thu thập từ
việc phỏng vấn sâu các chuyên gia. Đối với lĩnh vực thương mại dịch vụ, do khó khăn trong việc

Hàn Quốc.
Đề tài này hy vọng sẽ lấp được khoảng trống trong nghiên cứu, trong đó, tác giả dự định sẽ
đi sâu vào phân tích quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc trên cả hai góc độ: thương mại
hàng hóa, thương mại dịch vụ, đặt trong bối cảnh trước và sau khi Hiệp định VKFTA được ký kết.
Hy vọng nghiên cứu của tác giả sẽ mang lại cái nhìn tổng quan và toàn diện nhất về quan hệ thương
mại Việt Nam – Hàn Quốc.
6. KẾT CẤU LUẬN ÁN
Ngoài Mục lục, Danh mục hình, bảng, danh mục từ viết tắt, Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu
tham khảo, kết cấu của Luận án được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1: Tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan tới đề tài luận án
Chương 2: Một số vấn đề lý thuyết về quan hệ thương mại và Hiệp định thương mại tự do
Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)
Chương 3: Thực trạng thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc
Chương 4. Phân tích tác động của Hiệp định thương mại tự do đến quan hệ thương mại Việt
Nam – Hàn Quốc
Chương 5: Định hướng, giải pháp và kiến nghị thúc đẩy mối quan hệ thương mại giữa Việt
Nam và Hàn Quốc trong bối cảnh VKFTA

4


CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Về quan hệ hợp tác thương mại song phương giữa hai quốc gia, nhiều nghiên cứu đã đề cập
đến việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ hợp tác thương
mại giữa hai quốc gia hoặc giữa một quốc gia với một khối kinh tế.
Về hợp tác thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc:
Nhiều nghiên cứu của Kwesi Atuaful Quansah và Woo ChulAhn (2017), ADB (2010),
Jae – Ho Lee (2016), Park Noh Wan, (2014), Kim Kyoung Mi, (2011), Phan Thanh Hoan, Ji

tại Đại hàn Dân quốc, (2011, Đỗ Hoài Nam, (2005), Phạm Thu Hương, (2002), Ngơ Xn
Bình, (2010), MUTRAP, (2011), Phạm Hữu Tài (2016). Các tác giả thường đề cập đến quan hệ
hợp tác kinh tế chung giữa Việt Nam và Hàn Quốc, hoặc chủ yếu đi sâu vào thương mại hàng
hóa chứ khơng đề cập đến thương mại dịch vụ giữa hai quốc gia, và chưa đề cập đến mối quan
hệ này trong bối cảnh sau khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc được ký kết.
Một số nghiên cứu của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam lại sử dụng mơ hình lượng mơ hình
cân bằng tổng thể (CGE) để phân tích tác động của AKFTA đến mối quan hệ kinh tế giữa Việt
Nam và Hàn Quốc nói chung hoặc sử dụng phân tích đa nhân tố, sử dụng mơ hình Input –
Output truyền thống có cải tiến và cho thấy nền kinh tế Việt Nam có lợi thế so sánh đáng kể về
gạo, may mặc, đồ nội thất và giày dép từ các FTA này, mang lại hy vọng cho tương lai. Mặc
dù vậy, các tác giả khơng đi sâu phân tích quan hệ song phương Việt Nam - Hàn Quốc mà chỉ
đánh giá với góc độ của cả khu vực ASEAN.

5


Về thương mại dịch vụ: Có một số tác giả đề cập đến thương mại dịch vụ, ở góc độ xuất
khẩu dịch vụ của Việt Nam, nhưng chưa nói đến quan hệ thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn
Quốc hoặc đề cập đến mối quan hệ này ở một khía cạnh cụ thể như xuất khẩu lao động hoặc du
lịch. Các tác giả điển hình như Hà Văn Hội, (2008), Phạm Chi Lan, Dorothy I. Riddle, (2005,
Phạm Thị Kim Oanh, (2013) Nguyễn Thị Hồng Vân, (2013). Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu trên
chưa đề cập đến quan hệ thương mại dịch vụ giữa Viêt Nam và Hàn Quốc mà chỉ nghiên cứu thương
mại dịch vụ chung của Việt Nam.
Bản thân tác giả cũng đã có cơng trình nghiên cứu về đề tài này. Trong một nghiên cứu năm
2016, tác giả đã sử dụng mơ hình trọng lực để thấy được tác động của việc ký kết VKFTA tới thúc
đẩy xuất khẩu mặt hàng rau quả của Việt Nam sang Hàn Quốc. Với phạm vi nghiên cứu hẹp, đề tài
này cũng chưa thể bao quát được mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc.
Về mơ hình trọng lực, NCS cũng dựa trên một số kết quả nghiên cứu của Đồn Quang
Hưng (2013), Nguyễn Bình Dương và cộng sự, (2012), Từ Thúy Anh (2008) để làm cơ sở cho
nghiên cứu của Luận án.

dụng số liệu phân tích GTAP để phân tích tác động của Hiệp định AKFTA đến quan hệ thương
mại Việt Nam – Hàn Quốc; hoặc chỉ sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn để phân tích và
đánh giá hoạt động xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam.
Dựa trên các dữ liệu thu thập được, tác giả sử dụng các dữ liệu thứ cấp thu thập được từ
nguồn của OECD và WB để phân tích tác động của VKFTA đến thương mại hàng hóa và
thương mại dịch vụ của Việt Nam và Hàn Quốc. Mô hình phù hợp nhất với dữ liệu thu thập

6


được là trên cơ sở mơ hình trọng lực. Trong đó, biến giả VKFTA sẽ được đưa vào mơ hình
cùng với một số biến khác để đo lường và đánh giá tác động của VKFTA đến xuất nhập khẩu
hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam với đối tác Hàn Quốc. Trên cơ sở các kết luận từ mơ hình
và các đánh giá định tính, tác giả sẽ đề xuất các giải pháp phù hợp.
Bên cạnh đó, do nguồn dữ liệu về thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc được
sử dụng từ nguồn của OECD chưa đầy đủ, và do có sự thay đổi cách tính từ phía OECD từ năm
2012 nên để đánh giá được tình hình thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc, NCS đã sử
dụng thêm phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia. Các đánh giá, nhận định của các chuyên
gia đến từ các cơ sở nghiên cứu, lãnh đạo các doanh nghiệp và bộ ngành góp thêm cơ sở để
đánh giá tình hình thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc.
Như vậy, Luận án đã sử dụng được kết hợp nhiều phương pháp để làm rõ các nội dung
nghiên cứu, trong đó, Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp thống kê mơ tả, phương pháp
định tính thơng qua mơ hình trọng lực và phương pháp định tính thơng qua phỏng vấn sâu
chuyên gia. Đây là điều mà chưa thấy sử dụng ở các cơng trình nghiên cứu khác cùng chủ đề.

7


CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ HIỆP
ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – HÀN QUỐC (VKFTA)

đủ hơn mơ hình trọng lực với việc phát triển các yếu tố có thể tác động tới thương mại giữa hai
quốc gia. Nhiều yếu tố đã được đưa thêm vào mơ hình như mức thu nhập bình quân theo đầu người
(GDP per capita), chỉ số giá tiêu dùng, ngôn ngữ, thuế quan, quan hệ láng giềng (ADB, 2010).
Nhiều nghiên cứu về sau đã phát hiện ra thêm nhiều yếu tố có thể tác động đến thương mại giữa hai
quốc gia, như FDI, thậm chí cả yếu tố giảm phát (Devaluation) và một số các biến khác như cơ sở
hạ tầng, trình độ lao động, các hiệp định thương mại quốc tế (các biến số này có thể được biểu diễn
dưới dạng các biến giả - dummy variable) v.v.
2.1.2. Các khái niệm liên quan đến quan hệ thương mại quốc tế
2.1.2.1. Khái niệm về thương mại và thương mại quốc tế:
Có thể thấy thương mại quốc tế chính là việc thực thi thương mại giữa các chủ thể ở hai hay
nhiều quốc gia.
2.1.2.2. Phân loại thương mại quốc tế
Trong thương mại quốc tế có nhiều căn cứ khác nhau để phân loại, song căn cứ vào đối tượng
mua bán giao dịch, có thể chia thành: thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. Sau này có một
số hàng hóa đặc biệt, là các sản phẩm điện tử, số hóa, nên hình thành thêm khái niệm về thương
mại điện tử. Tuy nhiên, trong nội dung của Luận án chỉ đề cập đến thương mại hàng hóa và thương
mại dịch vụ.
GATT không đưa ra khái niệm “thương mại dịch vụ” mà chỉ trình thương mại dịch vụ theo
4 phương thức cung cấp, tùy thuộc vào sự hiện diện trên lãnh thổ của nhà cung cấp và khách hàng
trong thời gian tiến hành giao dịch, theo đó, bao gồm:

8


+ Cung cấp qua biên giới – thương mại xuyên biên giới (phương thức 1)
+ Tiêu dùng ngoài lãnh thổ (phương thức 2)
+ Hiện diện thương mại (phương thức 3)
+ Hiện diện thể nhân (phương thức 4)
Trong Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) thương mại dịch vụ cũng
được định nghĩa giống như định nghĩa của GATS.

* Các nguyên tắc thực thi thương mại quốc tế
Dựa trên cơ sở các nguyên tắc công bằng, không phân biệt đối xử và đôi bên cùng có lợi, các
mối quan hệ thương mại quốc tế được phát triển trên nhiều cấp độ khác nhau. Các hiệp định thương
mại song phương và đa phương thường dựa trên các nguyên tắc chủ yếu như: Nguyên tắc tối huệ
quốc (MFN – Most Favoured Nation), Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT – Nation Treatment)
2.2.2. Các yếu tố tác động đến quan hệ thương mại giữa hai quốc gia
Các yếu tố này vừa xuất phát từ cả hai phía, tạo nên lực đẩy và lực hút, vừa là các nhân tố
hình thành, nhưng cũng đồng thời là các nhân tố tác động đến mối quan hệ thương mại giữa hai
quốc gia.
Các yếu tố này bao gồm cả các yếu tố tác động đến quan hệ thương mại hàng hóa và thương
mại dịch vụ giữa hai quốc gia, trong đó, các yếu tố chủ yếu bao gồm: (i) Phát triển kinh tế; (ii)
Chính sách thương mại; (iii) Hoạt động đầu tư quốc tế; (iv) Cơ sở hạ tầng; (v) Cơ cấu sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ; (vi) Tỷ giá hối đoái.
2.3. Khái quát về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)
2.3.1. Cơ sở ra đời
Từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1992, hai nước Hàn Quốc và Việt Nam đã
phát triển quan hệ hợp tác vượt bậc trên mọi lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội.

9


2.3.2. Quá trình đàm phán VKFTA của Việt Nam và Hàn Quốc
Tháng 10/2009, Việt Nam và Hàn Quốc đã nhất trí thành lập Nhóm Cơng tác chung để nghiên
cứu khả năng thúc đẩy và tính khả thi của “Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam – Hàn
Quốc". Ngày 6 tháng 8 năm 2012, Bộ trưởng Bộ Công thương Việt Nam và Bộ trưởng phụ trách
thương mại Bộ Ngoại giao và Thương mại Hàn Quốc cùng ra tuyên bố chính thức khởi động đàm
phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA). Trong phiên họp ngày 30/11,
Quốc hội Hàn Quốc đã phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với Việt Nam. Ngày 20 tháng
12 năm 2015, Hiệp định VKFTA chính thức có hiệu lực, đem đến những cơ hội mới đối với cả hai
bên Hàn Quốc và Việt Nam.

- Cam kết về mở cửa thị trường: là 01 Phụ lục riêng bao gồm 02 Danh mục mở cửa của Việt
Nam và Hàn Quốc về từng lĩnh vực dịch vụ.
2.4. Cơ sở lý thuyết về tác động của VKFTA đến thương mại hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam
2.4.1. Khung lý thuyết
Để phân tích tác động của VKFTA đến thương mại hai chiều Việt Nam sang Hàn Quốc, tác
giả dựa trên lý thuyết lực hấp dẫn trong thương mại.
Để thuận tiện cho việc phân tích mơ hình trọng lực, tác giả sử dụng phương pháp logarit tự
nhiên đối với cả hai vế của phương trình. Mơ hình trên sẽ được viết lại thành:
ln (Xij ) = ln GSi + ln Mj + ln φij
Công thức trên đo lường mức độ tác động (tính bằng tỷ lệ) của các yếu tố đến thương mại hai
chiều giữa hai quốc gia i và j. Bởi vậy, việc lấy logarit sẽ cho phép đánh giá tốt hơn tác động của
các yếu tố đến xuất nhập khẩu giữa các quốc gia.
Cơng thức trên được chi tiết hóa thành mơ hình các yếu tố tác động đến xuất khẩu hoặc nhập
khẩu hàng hóa/ dịch vụ như sau:

10


+ Mơ hình các yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa:
ln Ex = a0 + a1* lnEXR + a2* lnFDI + a3*Infr + a4*CPI + a5*FTA + a7*HS + a8* GDPt + ui
Trong đó: Ex: xuất khẩu hàng hóa từ nước i sang nước j (đại diện cho yếu tố Xij)
Các yếu tố đại diện cho yếu tố nhu cầu của thị trường nước nhập khẩu (GSi) tạo ra lực thu hút
hàng hóa từ nước ngồi vào trong nước, bao gồm: GDPt (GDP bình quân của nước nhập khẩu trong
năm t), chênh lệch giữa tỷ giá hối đoái của hai nước EXR, vốn FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài),
chênh lệch về cơ sở hạ tầng giữa hai quốc gia Infr, chênh lệch về chỉ số giá, thể hiện lợi thế so sánh về
chi phí sản xuất sản phẩm CPI, FTA (các hiệp định thương mại tự do), HS (đo lường mức độ phân loại
hàng hóa), ui: các biến khác.
+ Mơ hình các yếu tố tác động đến nhập khẩu hàng hóa:
Tương tự như mơ hình các yếu tố tác động đến xuất khẩu, có thể thể hiện mơ hình tác động đến
nhập khẩu hàng hóa như sau:

Do khơng có đủ dữ liệu tính tốn theo cùng một nguồn, nên tác giả sử dụng nhiều nguồn tham
khảo khác nhau trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến năm 2019 (đối với thương mại hàng hóa),
và trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến 2018 đối với thương mại dịch vụ , trong đó: Kim ngạch
XNK được lấy từ dữ liệu của KITA Hàn Quốc, các dữ liệu khác lấy từ Ngân hàng Thế giới (WB),
FDI lấy từ Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch Đầu tư Việt Nam. Các biến giả AKFTA và VKFTA
sẽ được nhận giá trị 0 khi Hiệp định chưa được ký kết, và nhận giá trị 1 khi Hiệp định được ký kết
và đi vào hoạt động.
Bên cạnh các dữ liệu sơ cấp thu thập được, do vấn đề về thương mại dịch vụ tương đối phức
tạp nên để bổ sung cho các kết quả nghiên cứu, NCS sử dụng thêm các thông tin và dữ liệu thu thập
từ phỏng vấn sâu các chuyên gia, là lãnh đạo một số doanh nghiệp và các chuyên gia đến từ Kotra
Hà Nội và các trường Đại học.

11


CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC
3.1. Thực trạng thương mại hàng hóa Việt Nam – Hàn Quốc
3.1.1. Thực trạng chung
* Xuất nhập khẩu của Việt Nam
Về thương mại hàng hóa của Việt Nam, sau rất nhiều năm nhập siêu, trong giai đoạn từ năm
2012 đến 2019, Việt Nam đã có xuất siêu trong khoảng từ 7 tỷ đến 16 tỷ USD.
Giá trị kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam theo chiều hướng tăng dần, tuy nhiên
từ thời điểm năm 2012, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu ở mức trên 100 tỷ USD mỗi năm, trong
3 năm 2017 đến 2019, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đạt trên 200 tỷ USD. Điều này cho thấy
Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và khu vực.
* Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam – Hàn Quốc
Riêng đối với đối tác Hàn Quốc, Việt Nam thường xuyên nhập siêu hàng hóa với mức độ
ngày càng trầm trọng hơn.
Trong giai đoạn trước năm 2015, thương mại hàng hóa của Việt Nam của Việt Nam sang Hàn
Quốc chỉ nhập siêu ở mức dưới 20 tỷ USD, thì sau năm 2015 đến nay, mức nhập siêu ngày càng

Quốc đã giảm đáng kể, những mặt hàng có hàm lượng chế biến cao hơn như máy điện, dụng cụ
quang học, giày dép… đã trở thành những mặt hàng chính trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam
sang Hàn Quốc. Lợi thế so sánh của Việt Nam không phải chỉ là tài nguyên thiên nhiên, mà phần
lớn là dựa vào lực lượng lao động dồi dào, chi phí thấp.
Đến năm 2019, sau tác động từ Hiệp định VKFTA, giá trị xuất khẩu của Việt Nam cũng đã
tăng lên. Nhìn về dữ liệu thì thấy các mặt hàng có hàm lượng cơng nghệ và chế biến cao đang chiếm
ưu thế trong tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc. Nhưng phân tích sâu xa hơn, thì thực
chất, phần lớn là các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam lại dựa vào các sản phẩm gia công

12


điện tử, giày dép, xuất phát từ các doanh nghiệp FDI, giá trị hàm lượng nội địa của Việt Nam thấp.
Do vậy, việc tăng cường năng lực sản xuất, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
luôn là vấn đề mà nhà nước cần quan tâm hàng đầu.
3.2. Thực trạng thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc
3.2.1. Tình hình chung về thương mại dịch vụ của Việt Nam và thương mại dịch vụ Việt Nam –
Hàn Quốc
3.2.1.1. Tình hình thương mại dịch vụ của Việt Nam
Theo dữ liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB) tình hình trên thị trường dịch vụ lại có
xu hướng ngược chiều với thị trường hàng hóa. Trong cả giai đoạn 1996 – 2019, Việt Nam liên tục
nhập siêu, chỉ có duy nhất 1 năm là vào năm 2005, cán cân chênh lệch trong thương mại dịch vụ
với các nước khác trên thế giới chỉ ở mức cân bằng. Đối với tất cả các năm còn lại, hầu hết đều
nhập siêu dịch vụ với khoảng cách ngày càng chênh lệch nhiều hơn.
Các dữ liệu được phân tích theo từng hình thức dịch vụ như sau: cơ cấu dịch vụ vận tải và du
lịch là hai hình thức chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam.
Trong khi hình thức dịch vụ chuyển dịch theo hướng tăng giá trị xuất khẩu so với giá trị nhập khẩu,
thì dịch vụ vận tải lại chuyển theo hướng ngược lại.
3.2.1.2. Tình hình thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc
Do hạn chế về nguồn dữ liệu, NCS chỉ thu thập được dữ liệu về thương mại dịch vụ giữa Việt

Dịch vụ máy tính và thông tin được cung cấp theo phương thức 1 là chủ yếu, nhất là đối với
hoạt động xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam sang Hàn Quốc, bởi hoạt động đầu tư ra nước ngoài
trong lĩnh vực này của Việt Nam hầu như rất nhỏ.
* Phương thức 2 – Phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ
Dịch vụ du lịch và các dịch vụ chính phủ thích hợp với phương thức cung cấp này. Các dịch

13


vụ khác như vận tải, xây dựng, kinh doanh, các dịch vụ văn hóa giải trí cũng được cung cấp chủ
yếu theo phương thức 2 trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam.
* Phương thức 3 – Phương thức hiện diện thương mại
Thường áp dụng đối với các dịch vụ vận tải – kho bãi, các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư
không nhiều tại Việt Nam, chỉ chiếm khoảng 2% tổng số vốn đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc tại Việt
Nam.
* Phương thức 4: Phương thức hiện diện thể nhân
Do Việt Nam và Hàn Quốc chưa cam kết theo phương thức này trong hầu hết các dịch vụ của
Việt Nam nên giá trị xuất nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam chỉ tính theo các dịch vụ cá nhân, văn
hóa và giải trí khác (thường tính theo giá trị xuất khẩu lao động của Việt Nam sang Hàn Quốc).
Kết quả cho thấy, giá trị xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam chủ yếu dựa vào xuất khẩu tại chỗ
theo phương thức 2. Phương thức 1 cũng đóng góp khoảng 16% vào giá trị xuất khẩu dịch vụ chung
của Việt Nam nhờ việc tăng cường các dịch vụ viễn thông, tài chính, bảo hiểm, các dịch vụ thơng
tin. Phương thức 3 cũng đóng góp một phần nhỏ vào làm tăng giá trị xuất khẩu thơng qua một số ít
các dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc.
Đối với hoạt động nhập khẩu, phương thức 3 lại chiếm vị trí chủ đạo vì hầu hết các dịch vụ
được nhập khẩu vào Việt Nam thông qua các dự án đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc tại Việt Nam với
hơn 62 tỷ USD, trong hơn 7000 dự án đầu tư tại Việt Nam. Lượng khách du lịch Việt Nam cũng
như số lượng các lao động Việt Nam đang làm việc tại Hàn Quốc theo các hợp đồng xuất khẩu lao
động đang tăng dần qua các năm đã khiến cho tỷ lệ nhập khẩu dịch vụ tại Hàn Quốc của các công
dân Việt Nam tăng lên. Đây chính là lý do khiến cho phương thức 2 cũng chiếm một tỷ trọng không

chế biến cao hơn như các mặt hàng cơ khí chế tạo, điện tử viễn thơng và công nghiệp nặng, thực

14


phẩm chế biến cao cấp, hàng thời trang, nông thủy sản chế biến. Đồng thời các sản phẩm xuất khẩu
của Việt Nam đã và đang dần xây dựng được thương hiệu tại thị trường Hàn Quốc; trong đó phải
kể đến mặt hàng dệt may.
Dưới tác động của các Hiệp định thương mại AKFTA và VKFTA, nhiều mặt hàng trước đây
khó thâm nhập vào thị trường Hàn Quốc như các mặt hàng nơng sản của Việt Nam (dừa, dứa, thanh
long, xồi, chuối…) đã có cơ hội tiếp cận thị trường khó tính này. Giá trị xuất khẩu mặt hàng rau
quả và trái cây của Việt Nam trên thị trường Hàn Quốc đạt 2,145 tỷ USD.
* Về thương mại dịch vụ:
Mặc dù dữ liệu chi tiết về thương mại dịch vụ giữa hai quốc gia chỉ được cung cấp đến năm
2012, song dựa vào dữ liệu tổng thể cho thấy, xu hướng xuất nhập khẩu dịch vụ giữa hai quốc gia
có chiều hướng tăng nhanh. Năm 1995, tổng thương mại dịch vụ giữa hai nước đạt mức 366 triệu
USD, đến năm 2018, tổng giá trị thương mại hai chiều Việt Nam và Hàn Quốc đạt mức 4109 triệu
USD, gấp hơn 10 lần so với mức năm 1995. Điều này cho thấy sự tăng trưởng trong giao dịch
thương mại dịch vụ giữa hai nước.
Các thỏa thuận và cam kết về thương mại dịch vụ trong các Hiệp định AKFTA và VKFTA
mặc dù còn chưa có tác động rõ rệt đến giá trị xuất nhập khẩu dịch vụ giữa hai nước, song cũng đã
có tác động tích cực bước đầu. Theo kết quả phân tích ở trên, Hiệp định AKFTA có tác động làm
tăng giá trị xuất nhập khẩu dịch vụ hai chiều. Điều này thể hiện rõ ràng việc mở cửa từ các chính
sách nhà nước cũng đã tác động tích cực đến thương mại dịch vụ giữa hai quốc gia.
Thứ nhất, giá trị thương mại dịch vụ của Việt Nam có sự tăng trưởng vượt bậc, nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia. Năm 1995, tổng giá trị thương mại dịch vụ của Việt Nam và Hàn
Quốc đạt 366 triệu USD (trong đó, xuất khẩu đạt 198 triệu USD và nhập khẩu đạt 168 triệu USD).
Đến năm 2018, tổng giá trị thương mại dịch vụ của Việt Nam đạt mức 4 tỷ USD (trong đó xuất
khẩu đạt 1,8 tỷ USD, nhập khẩu đạt 2,2 tỷ USD), gấp hơn 10 lần giá trị của năm 1995.
Thứ hai, phát huy được năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Xu hướng tăng



dụng được các cơ hội mà VKFTA mang lại, như đối với hàng nông sản, tỷ trọng mặt hàng nông sản
xuất khẩu của Việt Nam chỉ khoảng 6% trong tổng số 35,2 tỷ USD dung lượng thị trường nhập
khẩu nông sản (năm 2018) của Hàn Quốc.
Vấn đề về xây dựng thương hiệu mặc dù đã được chú ý, song vẫn là một trong những rào cản đối
với hàng hóa của Việt Nam khi thâm nhập thị trường Hàn Quốc, nhất là đối với các mặt hàng có xuất xứ
tồn bộ như các mặt hàng nông sản và thủy sản, hiện nay chưa xây dựng được thương hiệu của Việt Nam
trên thị trường Hàn Quốc.
* Về thương mại dịch vụ:
Xu hướng nhập khẩu dịch vụ gia tăng nhiều hơn so với mức tăng của xuất khẩu, làm cho cán
cân thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc thường ở chiều hướng nhập siêu về phía Việt
Nam. Việt Nam ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các doanh nghiệp FDI Hàn Quốc trên nhiều
lĩnh vực. Điều này cũng chứng tỏ năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp
ứng được yêu cầu của thị trường dịch vụ.
Bên cạnh đó, có thể do độ trễ về mặt thời gian, VKFTA chưa có tác động tích cực làm tăng
giá trị thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc mặc dù so với AKFTA, hai nước đã thực
hiện cam kết mở cửa thị trường dịch vụ ở mức độ sâu hơn.
Tỷ trọng của thương mại dịch vụ trong GDP cịn thấp, thiếu vắng nhiều dịch vụ có giá trị gia
tăng cao. Các vấn đề mà thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc đang gặp phải tập trung vào
các nội dung như:
Thứ nhất, Cán cân thương mại vẫn thâm hụt qua các năm cho thấy giá trị xuất khẩu của Việt
Nam vẫn chưa khai thác được hết các tiềm năng. Với các cam kết về thương mại dịch vụ trong
VKFTA có xu hướng mở hơn so với AKFTA có tác động tích cực, song cũng tồn tại những mặt
trái. Mặc dù chưa có căn cứ cụ thể, song với dấu hiệu thâm hụt cán cân thương mại dịch vụ ngày
càng trầm trọng giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong những năm gần đây thì có thể thấy việc mở cửa
thị trường dịch vụ trong VKFTA có thể mang lại những tác động không mong muốn đối với các
ngành dịch vụ của Việt Nam.
Thứ hai, tỷ trọng xuất khẩu trong GDP của dịch vụ còn thấp. Giá trị thương mại dịch vụ còn
thấp hơn nhiều so với thương mại hàng hóa, chỉ đạt khoảng 6 – 8% trong tổng giá trị GDP (nếu tính

Sáu là, tỷ lệ tận dụng các cơ hội và ưu đãi trong VKFTA vẫn chưa đạt được mức kỳ vọng
của chính phủ hai nước.
Bảy là, cơng tác quản lý nhà nước chưa thực sự tốt, nhất là đối với lĩnh vực thương mại dịch
vụ
* Từ phía các doanh nghiệp:
Một là, các doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng được các cơ hội từ VKFTA.
Hai là, Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất và các doanh nghiệp cung cấp
dịch vụ của Việt Nam còn thấp.
Ba là, chưa thực sự chú trọng đến vấn đề nghiên cứu thị trường và xây dựng thương hiệu cho
sản phẩm xuất khẩu
Bốn là, các hoạt động liên kết doanh nghiệp còn yếu và rời rạc

17


CHƯƠNG 4. PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO ĐẾN
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – HÀN QUỐC
4.1. Cơ sở phân tích
4.1.1. Phân tích dựa trên cơ sở mơ hình trọng lực:
4.1.1.1. Mơ hình trọng lực:
Dựa trên cơ sở mơ hình trọng lực đã được phân tích trong chương 2, tác giả đã đề xuất mơ
hình đo lường tác động của Hiệp định VKFTA đến thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ
của Việt Nam và Hàn Quốc.
a) Mơ hình đối với thương mại hàng hóa:
* Đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hàn Quốc:
Dựa trên cơ sở dữ liệu về 97 chương hàng hóa (theo mã HS) trong danh mục hàng hóa xuất
nhập khẩu giữa Việt Nam và Hàn Quốc, NCS tiến hành đo lường tác động của các yếu tố đến xuất
khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hàn Quốc.
Mơ hình cụ thể đề xuất là:
lnEXVt = a0 + a1* lnEXRVKt + a2* lnFKt + a3*InfrVKt + a4*CPIVKt + a5*AKFTA +

cũng là một dấu hiệu tích cực để tạo ra sự ổn định trong nền kinh tế của Việt Nam, thu hút không chỉ
dòng vốn đầu tư mà còn là dòng thương mại hàng hóa và dịch vụ của nước ngồi, đồng thời cũng góp
phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam trên thị trường
quốc tế, giúp Việt Nam tham gia hội nhập thành công vào nền kinh tế thế giới.
b) Đầu tư trực tiếp của Việt Nam và Hàn Quốc:
* Tình hình đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam
Tính đến hết năm 2019, Hàn Quốc đã đầu tư khoảng 75 tỷ USD (vốn đầu tư lũy kế) (trong đó
có 67 tỷ USD (vốn đăng ký còn hiệu lực)) vào Việt Nam với tổng số dự án đầu tư lên đến hơn 8400

18


dự án (dự án cịn hiệu lực). Trong đó, trước thời điểm ký kết Hiệp định VKFTA (ngày 5/5/2015)
Việt Nam đã tiếp nhận được 4251 dự án đầu tư, với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 42 tỷ USD. Trong
2 năm 2015, 2016, Việt Nam đã tiếp nhận gần số dự án gần bằng ¼ các năm trước cộng lại. Từ năm
2017 đến 2019, liên tiếp có thêm dự án đầu tư của các doanh nghiệp Hàn Quốc đổ vào Việt Nam, bên
cạnh các dự án đầu tư tăng vốn. Các dự án này đã tác động lớn tới kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng
vào thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam.
* Tình hình đầu tư của Việt Nam sang Hàn Quốc
Nếu như Việt Nam tiếp nhận ngày càng nhiều dòng vốn đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc thì ở chiều
ngược lại, tình hình có vẻ khá trầm lắng. Tính lũy kế đến hết năm 2019, Việt Nam hiện có 47 dự án đã
đầu tư sang Hàn Quốc còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư của nhà đầu tư Việt Nam là 26,24 triệu USD,
đứng thứ 32/68 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam (Cục Đầu
tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019) . Thực tế này chưa tương xứng với tiềm năng của cả hai
nước. Việc ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) mở ra hy vọng về sự
tăng cường đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang xứ sở kim chi này.
c) Chỉ số về cơ sở hạ tầng
Sự phát triển của khoa học công nghệ trong những năm gần đây đã giúp Việt Nam rút ngắn
dần khoảng cách về cơ sở hạ tầng, nhất là cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc. Nếu như trong những
năm đầu khi đặt quan hệ hợp tác kinh tế thương mại, khoảng cách về cơ sở hạ tầng thông tin giữa

giới, Việt Nam đã từng bước giảm nhập siêu và tạo ra thặng dư trong cán cân thương mại hàng hóa
và dịch vụ. Tỷ trọng của thương mại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ trong GDP ngày càng lớn, cho
thấy Việt Nam ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào kênh thương mại quốc tế.
4.1.2. Phân tích từ kết quả phỏng vấn sâu chuyên gia
Tiến hành phỏng vấn sâu chuyên gia: Do dữ liệu về thương mại dịch vụ song phương Việt

19


Nam – Hàn Quốc khá hạn chế, do vậy, để bổ sung cho các nhận định về thực trạng thương mại dịch
vụ giữa hai nước, NCS sử dụng các thông tin đánh giá từ phỏng vấn sâu các chuyên gia. NCS thực
hiện phỏng vấn trực tiếp 5 người, trong đó, 2 người là lãnh đạo doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân
hàng và logistics, 2 người là giảng viên các trường đại học, chuyên nghiên cứu về quan hệ kinh tế
thương mại Việt Nam – Hàn Quốc, 1 người là đại diện của Kotra tại Việt Nam.
Nội dung phỏng vấn tập trung chủ yếu về các vấn đề về thực trạng thương mại dịch vụ của
Việt Nam và Hàn Quốc, những đánh giá về tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam –
Hàn Quốc (VKFTA) đến thương mại dịch vụ song phương, và những đề xuất về giải pháp để thúc
đẩy thương mại dịch vụ song phương tiếp tục phát triển trong tương lai. Dữ liệu và thông tin do các
chuyên gia cung cấp đã được lồng ghép để phân tích các vấn đề về hợp tác thương mại dịch vụ giữa
Việt Nam – Hàn Quốc.
4.2. Kết quả nghiên cứu:
4.2.1. Đối với thương mại hàng hóa Việt Nam – Hàn Quốc
Tiến hành chạy hồi quy để đo lường tác động của các yếu tố đến thương mại hàng hóa của
Việt Nam và Hàn Quốc, tác giả thu được các kết quả sau:
4.2.1.1. Đối với xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc:
Biến GDP của Hàn Quốc bị loại khỏi mơ hình do biến này đa cộng tuyến cao với các biến
khác trong mơ hình. Do vậy mơ hình chỉ còn 7 biến, với kết quả hồi quy như sau:
Kết quả mơ hình tác động được thể hiện như sau:
lnEXVt = -2436222 -1,87*lnEXRVKt + 0,077*lnFKt + 0,027*InfrVKt – 0,08*CPIVKt +
1,06*AKFTA + 2,06*VKFTA – 0,002*HS + ui

VKFTA khơng có ý nghĩa nhiều đối với nhập khẩu hàng hóa từ Hàn Quốc về Việt Nam. Biến có

20


tác động lớn nhất làm tác động đến cầu hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam là GDP. Tác động của
GDP làm tăng nhu cầu đối với hàng hóa nhập khẩu từ Hàn Quốc về Việt Nam. Biến đầu tư trực tiếp
của Hàn Quốc cũng có tác động dương đến nhập khẩu hàng hóa về Việt Nam thơng qua các dự án
nhập nguyên vật liệu, máy móc để tiến hành sản xuất gia công sản phẩm tại Việt Nam.
4.2.2. Đối với thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc
4.2.2.1. Đối với xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam:
Tiến hành chạy hồi quy để đo lường tác động, nhưng do biến LnExV bị loại khỏi mơ hình do
đa cộng tuyến với các biến khác trong mơ hình nên trong mơ hình chỉ cịn 5 biến độc lập. Kết quả
cho thấy có 4 yếu tố tác động đến nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ thị trường Hàn Quốc, bao
gồm: Hiệp định AKFTA, Hiệp định VKFTA, giá trị nhập khẩu hàng hóa, cơ sở hạ tầng của Việt
Nam. Biến cịn lại là Đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc vào Việt Nam khơng có ý nghĩa thống kê.
Kết quả mơ hình tác động được thể hiện như sau:
lnEXSVt = 15200000 + 0,47* LnGIMV + 0,158*AKFTA – 0,1017*VKFTA + 0,013*
Lninfrv – 0,014* Lnfk + ui
Như vậy, VKFTA có tác động âm đến xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam (với giá trị a của biến
VKFTA là - 0,1017, nghĩa là khi có VKFTA làm cho xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam giảm
0,1017%). Biến có tác động lớn nhất làm tác động đến xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam là thơng
qua kênh nhập khẩu hàng hóa, với mức ý nghĩa 99% (do giá trị P-value nhỏ hơn 1%). Khi tăng nhập
khẩu hàng hóa lên 1% thì mức xuất khẩu dịch vụ tăng lên 0,47%. Các quy định về mở cửa thị trường
dịch vụ từ AKFTA đã tạo điều kiện xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam sang Hàn Quốc, song dường
như việc mở cửa hơn nữa trong các phân ngành dịch vụ mà Việt Nam và Hàn Quốc cam kết dành
cho nhau chưa đủ để kích thích việc tăng trưởng xuất khẩu dịch vụ, mà ngược lại, trong khoảng 3
năm Hiệp định được thực thi, năng lực xuất khẩu dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ
để tăng xuất khẩu ra nước ngoài.
4.2.2.2. Đối với nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status