Viêm loét đại tràng - Pdf 75

Viêm loét đại tràng Thuốc
Trước đây, viêm loét đại tràng không thể chữa khỏi bằng thuốc. Mục tiêu điều
trị bằng thuốc nhằm :1) làm thuyên giảm bệnh, 2) duy trì giai đoạn lui bệnh, 3) Giảm
tối đa tác dụng phụ của điều trị, và 4) Cải thiện chất lượng cuộc sống. Điều trị viêm
loét đại tràng bằng thuốc là giống nhau, thế nhưng nó không giống như điều trị bệnh
Crohn"s .
Thuốc điều trị viêm loét đạitràng bao gồm: 1) kháng viêm có thành phần như 5-
ASA ,corticosteroids toàn thân, corticosteroids tại chỗ, và 2)Thuốc ức chế miễn dịch.
Thuốc kháng viêm làm giảm tình trạng viêm ở ruột cũng giống như thuốc trị
viêm khớp làm giảm viêm khớp. Thuốc kháng viêm thường được sử dụng trong viêm
loét đại tràng là:
Thuốc đặt tại chỗ thành phần chứa 5-ASA như sulfasalazine (Azulfidine),
olsalazine (Dipentum), và mesalamine (Pentasa, Asacol, Rowasa ), tiếp xúc trực tiếp
với mô viêm, được sắp xếp theo hiệu quả tác dụng.
Thuốc kháng viêm dùng đường toàn thân như corticosteroids, thuốc làm giảm
viêm ở mọi nơi trong cơ thể mà không tiếp xúc trực tiếp với mô viêm. Corticosteroids
dùng đường toàn thân có tác dụng phụ nếu dùng lâu dài.
Thuốc ức chế miễn dịch là ức chế hệ thống sản xuất miễn dịch của cơ thể, là
một protein, khởi phát phản ứng viêm. Thuốc ức chế miễn dịch rất quan trọng trong
điều trị viêm loét đại tràng nặng, mà không đáp ứng với các thuốc kháng viêm thông
thường. Chẳng hạn thuốc ức chế miễn dịch bao gồm 6-mercaptopurine (6-MP),
azathioprine, methotrexate, cyclosporine.
Có một điều hơi lạ là dùng chất nicotine để điều trị viêm loét đại tràng(?!). Vì
trong suốt thời gian dài người ta quan sát thấy rằng, nguy cơ bị viêm loét đại tràng
xuất hiện nhiều ở người không hút thuốc lá hoặc người trước đây đã từng hút(nay
ngưng hút). Trong một số tình huống, bệnh cải thiện khi điều trị bằng nicotine, không
biết tại sao các thuốc khác lại không tác dụng.
Thành phần 5- ASA (Azulfidine, Asacol, Pentasa, Dipentum

số lượng tinh trùng. Giảm số lượng tinh trùng có hồi phục, tức là số lượng tinh trùng
sẽ trở về bình thường khi ngưng điều trị sulfasalazine hoặc thay đổi thuốc 5- ASA
khác.
Lơị ích của sulfasalazine thường liên quan đến liều dùng. Tuy nhiên, dùng
sulfasalazine liều cao có thể cần thiết để làm thuyên giảm bệnh. Một số bệnh nhân
không thể dung nạp khi dùng liều cao vì buồn ói, khó chịu bao tử. Để giảm triệu chứng
khó chịu này, người ta thường uống sulfasalazine sau hoặc trong khi ăn. Một số bệnh
nhân cảm thấy dễ chịu khi uống Azulfidine-EN (một loại có tác dụng bảo vệ tan trong
ruột của sulfasalazine). Dạng này giúp giảm cảm giác khó chịu bao tử. Loại 5-ASA
mới, trong thành phần không có chứa sulfapyridine, có tác dụng phụ ít hơn
sulfasalazine.
Asacol
Asacol dạng viên nén là thành phần của fs5-ASA , mesalamine được bọc bởi
một lớp acrylic resin . (Asacol là sulfa tự do). Dạng này giúp tránh hấp thu ở dạ dày và
ruột non. Khi thuốc đến được đoạn cuối hồi tràng và ruột già, lớp bao ngoài sẽ tan ra,
phóng thích 5-ASA vào trong đại tràng.
Asacol có tác dụng giảm triệu chứng ở bệnh nhân bị viêm loét đại tràng mức độ
nhẹ đến vừa. Thuốc cũng có tác dụng khi dùng lâu dài trong giai đoạn duy trì. Liều
khuyến cáo của Asacol ở giai đoạn khởi đầu là 2 viên 400-mg, 3 lần mỗi ngày (tức 2,4
g mỗi ngày). Giai đoạn duy trì là 2 viên Asacol hai lần mỗi ngày (1.6 grams mỗi
ngày). Đôi khi, giai đoạn duy trì dùng liều cao hơn.
Giống như Azulfidine, lợi ích của Asacol tuỳ thuộc vào liều dùng. Nếu bệnh
nhân không đáp ứng với Asacol liều 2,4 g mỗi ngày, thì tăng liều đến 3.6 gram mỗi
ngày( đôi khi dùng liều cao hơn ) để giảm triệu chứng. Nếu bệnh nhân đáp ứng kém
với liều cao Asacol, khi đó nên dùng xen kẽ với thuốc corticosteroids.
Pentasa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status