Lý luận chung về hoạt động huy động vốn của NHTM trong
nền kinh tế thị trờng
1.1 NHTM và vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trờng
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thơng mại
Các tổ chức trung gian tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống tài chính
trong nền kinh tế thị trờng, có chức năng dẫn vốn từ những ngời có khả năng dẫn vốn
tới những ngời có nhu cầu về vốn nhằm tạo điều kiện vốn cho đầu t phát triển kinh tế
xã hội. Ngân hàng thơng mại là một bộ phận lớn nhất trong hệ thống trung gian tài
chính. Tại điều I khoản 1 pháp lệnh số 38 ngày 25/05/1990 quy định về ngân hàng,
hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính quy định: NHTM là tổ chức kinh doanh
tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng, với
trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết
khấu và làm phơng tiện thanh toán.
Tại điều 20 Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/10/1998 có quy định: NHTM là loại hình TCTD đợc thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
1.1.2 Vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế
Hoạt động của NHTM đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng lớn, trong khi
các tổ chức tài chính khác thờng hoạt động trên một vài lĩnh vực hẹp và theo hớng
chuyên sâu. Với đặc điểm kinh doanh cơ bản là đi vay để cho vay, NHTM giữ vai trò
nhất đối với sự phát triển của nền kinh tế:
1.1.2.1 NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế:
Vốn đợc tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và
nhà nớc trong nền kinh tế. NHTM là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất
kinh doanh. NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi ở
mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế và thông qua hoạt động tín dụng, NHTM
sẽ cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng các nhu cầu vốn một cách kịp
thời cho quá trình tái sản xuất giúp các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất,
cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế.
1.1.2.2 NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trờng.
Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trờng, đòi hỏi các doanh nghiệp
1. Ngân Quỹ
2. Cho Vay
3. Đầu T
4. Tài Sản Có Khác
1. Vốn Huy Động
2. Vốn Đi Vay
3. Vốn Tự Có
4. Vốn Khác
TS NV
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm đảm
bảo an toàn cũng nh tìm kiếm lợi nhuận của các NHTM. Nội dung của nghiệp vụ này
bao gồm:
- Nghiệp vụ ngân quỹ: phản ánh các khoản vốn của ngân hàng đợc dùng vào với mục
đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện quy định về dự trữ bắt
buộc do Ngân hàng Trung ơng đề ra.
- Nghiệp vụ cho vay: là nghiệp vụ tạo khả năng sinh lời chính trong hoạt động kinh
doanh của các NHTM. Bao gồm các khoản đầu t sinh lời thông qua cho vay ngắn hạn
và trung, dài hạn đối với nền kinh tế.
- Nghiệp vụ đầu t tài chính: Các NHTM thực hiện quá trình đầu t bằng vốn của mình
qua các hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trờng.
- Nghiệp vụ khác: kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và kim khí, đá quý; thực hiện các dịch
vụ t vấn, dịch vụ ngân quỹ; nghiệp vụ uỷ thác và đại lý; và các dịch vụ khác: dịch vụ
bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê két...mà ngân hàng đã thu đợc những
khoản lợi nhuận đáng kể.
1.1.3.2 Nghiệp vụ tài sản nợ và vốn tự có của NHTM:
- Nghiệp vụ tiền gửi: phản ánh các khoản tiền từ các doanh nghiệp vào ngân
hàng để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản mà từ đó ngân hàng có thể huy
động đợc vốn và sử dụng vốn đã huy động đợc vào kinh doanh. Ngoài ra, ngân hàng
còn huy động các khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân hay hộ gia đình đợc gửi vào ngân
hàng với mục đích hởng lãi.
1.2.1 Khái niệm về vốn
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc đợc huy
động, dùng để cho vay, đầu t và thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Thực chất, vốn của ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn
rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, mà ngời chủ sở hữu của chúng gửi
vào ngân hàng để thực hiện các mục đích khác nhau. Hay nói cách khác, họ chuyển
nhợng quyền sử dụng vốn tiền tệ cho ngân hàng, để rồi ngân hàng phải trả lại cho họ
một khoản thu nhập. Và nh vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối
lại vốn dới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và
kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời, chính các hoạt động đó lại
quyết định đến sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nhìn
chung, vốn chi phối toàn bộ các hoạt động và quyết định đối với việc thực hiện các
chức năng của NHTM.
1.2.2 Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng
Trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, vốn có các vai trò sau đây:
1.2.2.1 Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh đợc thì phải có
vốn, bởi vì vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Riêng
đối với ngân hàng, vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của
mình. Nói cách khác, ngân hàng không có vốn thì không thể thực hiện đợc các nghiệp
vụ kinh doanh. Bởi lẽ, với đặc trng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phơng
tiện kinh doanh chính mà còn là đối tợng kinh doanh chủ yếu của NHTM. Ngân hàng
là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trờng tiền tệ (thị trờng vốn ngắn
hạn) và thị trờng chứng khoán ( thị trờng vốn dài hạn). Những ngân hàng trờng vốn là
những ngân hàng có nhiều thế mạnh trong kinh doanh. Do đó, ngoài vốn ban đầu cần
thiết, tức là đủ vốn điều lệ theo luật định, thì ngân hàng phải thờng xuyên chăm lo tới
việc tăng trởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình.
1.2.2.2 Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân
hàng
Vốn của ngân hàng quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lợng tín
điều kiện để bổ sung thêm vốn tự có của ngân hàng, tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật
và quy mô hoạt động của ngân hàng trên mọi lĩnh vực.
Hơn nữa, vốn lớn sẽ giúp ngân hàng có đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa
năng trên thị trờng, không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn mở rộng các hình thức liên
doanh liên kết, dịch vụ thuê mua (leasing), mua bán nợ (factoring), kinh doanh trên thị
trờng chứng khoán, góp phần phân tán rủi ro và tạo thêm vốn cho ngân hàng đồng thời
tăng sức cạnh tranh của ngân hàng trên thơng trờng...
1.2.3 Nội dung và tính chất vốn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Vốn của NHTM bao gồm:
- Vốn tự có
- Vốn huy động
- Vốn đi vay
- Vốn khác
Mỗi loại vốn đều có một tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của
NHTM.
1.2.3.1 Vốn tự có
Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng tự tạo lập
nên bằng vốn góp của chủ sở hữu và đợc bổ xung từ kết quả hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
Vốn tự có chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng (thờng
chiếm từ 7 đến 12%), song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập ngân hàng.
Vốn tự có của ngân hàng thuộc sở hữu của ngân hàng, bởi vậy vốn tự có của ngân
hàng có tính chất thờng xuyên và ổn định giúp cho ngân hàng có thể chủ động sử dụng
vào các mục đích khác nhau nh: trang bị cơ sở vật chất, mua sắm tài sản cố định (văn
phòng, kho tàng, trang thiết bị) phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay và đặc biệt
là tham gia đầu t, góp vốn liên doanh.
Mặt khác, với chức năng bảo vệ, vốn tự có đợc coi nh tài sản đảm bảo gây dựng
lòng tin đối với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trờng hợp ngân hàng
gặp thua lỗ. Nó còn là một trong những căn cứ quyết định đến khả năng và khối lợng
vốn huy động của ngân hàng. Nh vậy, quy mô sự tăng trởng của vốn tự có sẽ quyết
chỉ có quyền sử dụng không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi
khi đến hạn (tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn (tiền gửi không kỳ
hạn). Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của
NHTM.
Vốn huy động luôn biến động, nên ngân hàng không đợc phép sử dụng hết số
vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh
toán.
Vốn huy động bao gồm:
- Tiền gửi: Tiền gửi không kỳ hạn, Tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm.
- Các nguồn huy động khác: phát hành các công cụ nợ: chứng chỉ tiền gửi, kỳ
phiếu, trái phiếu. Với hình thức huy động này các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so
với lãi suất tiền gửi. Nghiệp vụ này chỉ đợc tiến hành khi ngân hàng thiếu vốn mà vốn
tự có và vốn huy động tiền gửi không đủ. Nh vậy, khi thực hiện huy động vốn dới các
hình thức này, các NHTM phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối lợng, mức lãi
suất và thời hạn huy động, cũng nh phơng pháp huy động. Vốn này chỉ đợc huy động
trong một thời gian nhất định, khi đã huy động đủ khối lợng vốn theo dự kiến các
NHTM sẽ ngừng việc huy động (bán) giấy tờ có giá.
Tóm lại: Vốn huy động là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh của các
NHTM. Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng
(thờng trên 80%), giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đồng
thời các NHTM phải tôn trọng các giới hạn về mức huy động vốn theo quy định. Tại
VN trớc đây là 20 lần so với vốn tự có.
Mặc dù phạm vi sử dụng vốn huy động bị hạn chế so với vốn tự có, song nếu
các ngân hàng sử dụng tốt các nguồn vốn này thì không những nguồn lợi của ngân
hàng tăng lên mà còn tạo cho ngân hàng có đợc uy tín ngày càng cao. Qua đó, tạo cho
ngân hàng mở rộng đợc vốn và góp phần mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của
mình.
1.2.3.3 Vốn đi vay
Vốn đi vay l quan hệ vay vốn giữa NHTM và NHTW, hoặc giữa các NHTM với
nhau hay giữa các NHTM với các tổ chức tín dụng khác.