TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI SẢN
PHẨM CHO VAY DU HỌCTẠI ACB- ĐÀ NẴNG
2.1 SƠ LƯỢC VỀ NH ACB- CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển.
2.1.1.1 Quá trình ra đời và phát triển của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
(ACB)-chi nhánh Đà Nẵng:
Ngân hàng Á Châu là ngân hàng thương mại cổ phần được thành lập và hoạt
động vào ngày 04/06/1993 theo giấy phép hoạt động số 0032/NH-CP ngày 24/04/1993
của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam. Thời hạn hoạt động của ngân hàng là 50 năm, với
vốn điều lệ ban đầu chỉ có 20 tỷ đồng, năm 1994 vốn điều lệ tăng lên 70 tỷ đồng. Năm
1996 việc nâng lên 341 tỷ đồng là một quá trình đại chúng hóa. Ngân hàng Á Châu lần
đầu tiên trong nước được phép có cổ đông nước ngoài. Đến tháng 01/02/2006 vốn điều
lệ của ngân hàng là 424 tỷ đồng, kể từ ngày 14/02/2006 vốn điều lệ của ngân hàng là
1100.047 tỷ đồng.
Ngân hàng Á Châu tên giao dịch quốc tế là Asia commercial bank (ACB) có trụ
sở chính đặt tại 442 Nguyễn Thị Minh Khai-Quận 3-TP Hồ Chí Minh. Ngân hàng đã
mở các chi nhánh tại Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Đà Nẵng, Đăk Lak, An Giang,
Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh và Cà Mau.
Ra đời trong bối cảnh đất nước mở cửa, ngân hàng có những thay đổi rất cơ bản,
từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
đến nay ngân hàng đã đạt được những thàng quả rất tốt đẹp, phát huy được sức mạnh so
sánh của mình trong việc thực hiện những các chỉ tiêu kinh tế đề ra. Với mạng lưới hoạt
động rộng khắp toàn quốc và với phương châm hoạt động “luôn mang đén sự hoàn hảo
để phục vụ khách hàng” đã thu hút được nhiều khách hàng đến đặt quan hệ với ngân
hàng, giữ vững niềm tin tưởng của khách hàng, duy trì củng cố và phát triển giá trị
thương hiệu của một ngân hàng luôn hướng đến mục tiêu phục vụ tốt nhất những nhu
cầu của khách hàng trong lĩnh vực tài chính.
Ngân hàng Á Châu là ngân hàng cổ phần (duy nhất) đươc đánh giá về độ tín
nhiệm và an toàn (cơ quan định mức tín nhiêm quốc tế Fitch năm 2001, 2002). Bằng
khen của thủ tướng chính phủ năm 2002 về thành tích kinh doanh ổn định, nâng cao
chất lượng hoạt động, chất lượng sản phẩm dịch vụ trong nhiều năm, đạt giải chất
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức:
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC
BAN GIÁM ĐỐC
Phòng
Kinh doanh
P.Giao dịch &
Ngân quỹ
P. Kế toán –
Hành chính
Bộ phận
Tín dụng
Tổ
Loan _CSR
Tổ
Pháp lý
chứng từ
Tổ
A/O
Tổ
Giao dịch
Tổ Dịch vụ
Khách hàng
Tổ
Ngân quỹ
Tổ
Kế toán
Tổ
Hành chính
Bộ phận
Thanh toán quốc tế
thực hiện các giao dịch và dịch vụ khách hàng. Gồm:
-Tổ giao dịch
-Tổ Ngân quỹ
-Tổ dịch vụ-hành chính
Phòng Kế toán –Hành chính:
+Tổ Kế toán : Có nhiệm vụ quản lý các khoản tiền gửi của chi nhánh tại
NHTM địa phương và các tổ chức tín dụng khác, năm tình hình nguồn vốn và
sử dụng vốn, quản lý, kiểm tra và tổ chức hạch toán thu nhập, chi phí cũng như
tài sản khác của chi nhánh. Bên cạnh đó, tổ kế toán còn thực hiện chế độ báo cáo
kế toán, thống kê theo quy định của NHTM và của Ngân hàng Á Châu.
+ Tổ Hành chính-Tổ chức: Quản lý nhân sự của chi nhánh, kết hợp với bộ
phận kế toán quản lý và xem xét những nhu cầu chi mua sắm trang thiết bị,
phương tiện làm việc của chi nhánh.
Phòng giao dịch: hướng dẫn, giao dịch với khách hàng khi khách hàng đến chi
nhánh.
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của ACB trong 2 năm 2006-2007.
2.1.2.1 Tình hình huy động vốn:
Năm 2006 Năm 2007 Chênh lệch
GT TT% GT TT% GT TĐ%
1. Huy động cá nhân
566,42
8 96 880,129 97 313,701 55
TGTT cá nhân 47,420 8 68,765 8 21,345 45
TGTK cá nhân 519,008 88 811,364 89 292,356 56
2. Huy động doanh nghiệp 23,808 4 30,597 3 6,789 29
Huy động VND 22,601 4 29,249 3 6,648 29
Huy động ngoại tệ 1,207 0,2 1,348 0,2 141 12
Tổng
590,23
6 100 910,726 100 320,490 54
với mức tăng 62% và Khối cá nhân tăng 33% với mức dư nợ t ăng là 76.147 triệu đồng.
Năm 2007 là năm có nhiều sự biến động của thị trường vốn vì vậy các NHTM
đang đua nhau đưa ra các chiến lược nhằm tăng thị phần của mình trên thị trường.
Trước tình hinh đó ACB-ĐN cũng không ngừng nổ đ ể đạt được các chỉ tiêu do Hội sở
ACB giao. Với đội ngũ nhân viên tín dụng nhiệt tình, nắm vững nghiệp vụ và trung
thực trong công việc cùng với đội ngũ PFC(nhân viên tư vấn tài chính cá nhân) mới
được thành lập và bước đầu đã có dấu hiệu khả quan trong việc phát triển dư nợ cá
nhân.
Cuối năm 2007 ACB đã cho ra đời sàn giao dịch vàng đây có thể nói là sản
phẩm tiên phong và là sản độc quyền của ACB hiện nay trên thị trường Ngân hàng.
Việc ra đời sàn vàng phần nào nào đã đem lại sắc màu mới các nhà đầu tư rút vốn khỏi
thị trường chứng khoán chuyển sang kinh doanh vàng. Điều này đã góp phần làm tăng
kênh huy động cho ACB và tăng dư nợ Khối cá nhân một cách đáng kể với mức tăng
33% với số tuyệt đối là 76.147 triệu đồng.
Tuy nhiên mức tăng này vẫn còn thấp hơn so với mức tăng của Khối doanh
nghiệp là 62% với số tuyệt đối là 78.379 triệu đồng. Trong thời gian tới, với sự hỗ trợ
của đội ngũ nhân viên tư vấn tài chính cá nhân PFC là đội ngũ đi tiếp thị trực tiếp bên
ngoài, ACB-ĐN sẽ có những bước tăng trưởng mạnh hơn trong việc tăng dư nợ của
Khối cá nhân
2.1.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh:
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007
Chênh lệch
GT TĐ%
1. Thu nhập 30,268 49,963 19,695 65
Thu hoạt động kinh doanh 21,412 38,344 16,932 79
Thu khác 8,856 11,620 2,764 31
2.Chi phí 24,025 39,487 15,462 64
Chi hoạt động kinh doanh 14,664 26,382 11,718 80
Chi khác 9,361 13,105 3,744 40
3. Lợi nhuận 6,243 10,476 4,233 68
sổ tiết kiệm, chứng từ có giá trị…
Tại hầu hết các ngân hàng cho vay du học được áp dụng theo hình thức cho vay
thông thường, sau khi ngân hàng hoàn tất việc thẩm định, bao gồm thẩm định mục đích
sử dụng vốn vay, khả năng thu nhập đảm bảo trả nợ, tài sản thế chấp.
Ngân hàng sẽ xét duyệt và giải ngân vào lúc vay. Việc xét duyệt cho vay và sau
đó giải ngân đều phải có căn cứ trên giấy tờ chứng minh chi phí du học sinh sử dụng
trong quá trình du học như giấy thông báo học phí của nhà trường, giấy thông báo hay
hóa đơn chi phí kí túc xá, chi phí ăn, ở sinh hoạt…
Về phương thức trả tiền vay và lãi, khách hàng có thể trả lãi định kì hàng tháng
còn tiền vốn có thể hoàn trả định kì hàng tháng, 3 tháng hay 6 tháng..tuỳ vào khả năng
thu nhập và điều kiện phù hợp với mình. Tiền lãi tính trên dư nợ bình giảm dần (tiền lãi
sẽ giảm theo nợ gốc, giảm dần theo mỗi đợt trả).
Bình quân chi phí du học tự túc ở nước ngoài khá cao, khoảng 10.000 USD/năm
hay có thể đến 20.000 USD/năm. Để có khả năng cho con du học, phần đông phải là
các gia đình có thu nhập cao và ổn định. Vì vậy có khá đông các bậc cha mẹ tìm đến
ngân hàng vay vốn phục vụ cho mục đích này.
2.2.1.3 Vai trò và ý nghĩa của cho vay du học:
Đây là một sản phẩm nhằm nỗ lực đáp ứng nhu cầu các bậc cha mẹ muốn lo cho
con em mình đi du học, mở mang tầm hiểu biết, tiếp thu những kiến thức mới, đồng
thời giúp học sinh giỏi bộc lộ năng lực và tính độc lập cao muốn được học tập tại nước
ngoài vì tương lai sự nghiệp của mình. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong thời đại tri
thức ngày nay.
Cho vay du học không chỉ mang lại nguồn lợi nhuận cho ngân hàng mà nó còn
có ý nghĩa rất lớn trong điều kiện hiện nay. Từ khi có hoạt động này đã giúp cho đại bộ
phận khách hàng có nhu cầu cho con em mình du học tự túc nước ngoài, sang các nước
tiên tiến mở mang tầm hiểu biết, tiếp thu những kiến thức mới, tinh hoa tri thức của
nhân loại, phục vụ cho sự nghiệp đổi mới và phát triển của đất nước.
2.2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay du học:
a. Nhân tố thuộc về ngân hàng:
Điều kiện cho vay du học của các ngân hàng còn khó khăn, thời gian làm thủ
2.2.2.2 Phân tình hình hình cho vay du học qua 2 năm 2006 -2007:
Cho vay du học là một sản phẩm truyền thống và đặc trưng của ACB-ĐN . Nhìn
chung từ khi triển khai hoạt động này đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho Chi
nhánh và đã có những bước phát triển thuận lợi, cụ thể như sau :
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Chênh lệch
GT TĐ
1. Doanh số cho vay 18,510 23,137 4,627 25
2. Doanh số thu nợ 7,670 8,897 1,227 16
3. Dư nợ 10,434 21,478 11,044 106
4. Nợ quá hạn 0 0 0 0
Dư nợ cho vay du học cuối năm 2007 là 21.478 triệu đồng tăng 11.044 triệu
đồng với mức tăng là 106% so với cuối năm 2006. Dư nợ tăng một mặt thể hiện nhu
cầu du học của học sinh sinh viên trên địa bàn ngày càng cao, mặt khác cho thấy sự nổ
lực rất lớn của Chi nhánh, mở rộng cho vay trên nguyên tắc đảm bảo chất lượng, chủ
động tìm kiếm khách hàng mới và củng cố phát triển khách hàng cũ.
Với quan điểm “Ngân hàng tìm đến khách hàng” trong năm 2007 ACB thường
xuyên tham gia các chương trình quảng cáo, triểm lãm giáo dục kết hợp với các trung
tâm tư vấn du học. ACB đã khẳng định được vị trí là Ngân hàng hàng đầu trong việc
cung cấp các dịch vụ hỗ trợ tài chính cho du học sinh với các thủ tục nhanh gọn.
Và điều đó đã được thể hiện rõ thông qua sự tăng trưởng doanh số cho vay du
học. Cụ thể năm 2006 doanh số cho vay du học của ACB-ĐN là 18.510 triệu đồng
nhưng đến năm 2007 doanh số cho vay đã tăng 4.627 triệu đồng và đạt mức 23.137
triệu đồng.
Xét về chỉ tiêu nợ quá hạn qua 2 năm 2006, 2007 và kể từ khi triển khai sản
phẩm cho vay du học tỷ lệ nợ quá hạn luôn bằng không. Điều đó cho thấy tình hình cho
vay của Chi nhánh có chiều hướng tốt không những đạt được chỉ tiêu quy mô tín dụng
mà chất lượng tín dụng cũng đạt được đảm bảo an toàn và hiệu quả
2.2.3 Những cơ hội và thách thức từ môi trường kinh doanh của hoạt động cho vay
du học tại ACB-Đà Nẵng.
2.2.3.1 Môi trường pháp lý: