KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BHXH VÀ QUỸ BHXH - Pdf 76

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BHXH VÀ QUỸ BHXH
I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN BHXH
1. Sự tồn tại khách quan của BHXH
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở và
đi lại v.v... Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao
động để làm ra những sản phẩm cần thiết. Khi sản phẩm được tạo ra
ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy đủ và hoàn
thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Như vậy, việc thoả mãn những
nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính
khả năng lao động của họ. Nhưng trong thực tế, không phải lúc nào
con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện
sinh sống bình thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn bất
lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất
thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm
đau hay bị tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả
năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm v.v... Khi rơi vào
những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì
thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm
một số nhu cầu mới như: cần được khám chứa bệnh và điều trị ốm
đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi dưỡng
v.v... Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội
loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác
nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ công đồng; đi vay, đi
xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước v.v... Rõ ràng, những cách
đó là hoàn toàn thụ động và không chắc chắn.
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công
trở nên phổ biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động,
nhưng về sau đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho người làm thuê có
một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cu thiết yếu khi
không may bị ốm đau, tại nạn, thai sản v.v... Trong thực tế, nhiều khi
các trường hợp trên không xảy ra và người chủ không phải chi ra một

BHXH đã có từ lâu và thực sự trở thành hoạt động mang tính xã
hội từ đầu thế kỷ 19. Bộ luật đầu tiên về chế độ bảo hiểm được hình
thành ở Anh vào năm 1819 với tên gọi "Luật nhà máy" và tập trung
vào bảo hiểm cho người lao động làm việc trong các xưởng thợ. Vào
năm 1883, luật bảo hiểm ốm đau hình thành ở Đức. Cũng tại Đức, một
số các luật khác được hình thành, sau đó chẳng hạn luật tai nạn lao
động hình thành năm 1884; luật bảo hiểm người già và tàn tật do lao
động hình thành năm 1889. Đến nay BHXH được thực hiện trên rất
nhiều nước và trở thành một bộ phận quan trọng trong hoạt động của
Liên hợp quốc. Một tổ chức quốc tế lớn nhất thế giới hiện nay. Trong
tuyên ngôn của Liên hợp quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948
có ghi: "Tất cả mọi người, với tư cách là thành viên của xã hội, có
quyền hưởng BHXH. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền
về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển
con người".. Để thể chế hoá tinh thần đó, tổ chức lao động quốc tế
ILO (một tổ chức cơ cấu trong liên hợp quốc) đã đưa ra Công ước 102
quy định về tiêu chuẩn tối thiểu của BHXH và những khuyến nghị các
nước thành viên về việc thực hiện các tiêu chuẩn này.
2.2. Khái quát về sự hình thành và phát triển chính sách BHXH
ở Việt Nam
Như ở phần trên, BHXH phát triển gắn liền với sự phát triển của
nền kinh tế hàng hoá, ở Việt Nam trong gần một thế kỷ cai trị, bọn
thực dân Pháp hầu như không đề ra được những gì để bảo vệ các
quyền cơ bản của con người. Không thực hiện được chế độ chính sách
về BHXH đối với người lao động Việt Nam. Ngay sau cách mạng
tháng 8 thành công trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh quy
định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên
chức Nhà nước (có Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947; Sắc lệnh 76/SL
ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950). Cơ sở pháp lý

phần thực hiện công bằng và sự tiến bộ xã hội, góp phần làm lành
mạnh hoá thị trường lao động và đồng thời đáp ứng được sự mong mỏi
của đông đảo người lao động trong các thành phần kinh tế của cả
nước.
II. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA BHXH
1. Khái niệm BHXH
Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội quan trọng
của Đảng và Nhà nước. Chính sách BHXH đã được thể chế hoá và
thực hiện theo Luật. BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ
nhằm bảo vệ người lao động khi họ không còn khả năng làm việc.
"Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần
thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập
từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc
làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một
quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp
phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ,
đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội". Chính vì vậy, đối tượng
của BHXH chính là thu nhập của người lao động bị biến động giảm
hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của
những người lao động tham gia BHXH.
Đồi tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử dụng
lao động. Tuy vậy, tuỳ theo sự phát triển kinh tế – xã hội cuả mỗi
nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người
lao động nào đó.
Dưới giác độ pháp lý, BHXH là một loại chế độ pháp định bảo vệ
người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động,
người sử dụng lao động và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ
cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị
giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy

có điều kiện để phát triển và mở rộng hơn.
2.3. Xác định đúng đắn mức tối thiểu của các chế độ BHXH
Vấn đề này có quan hệ trực tiếp đến các khía cạnh có liên quan
đến việc thiết kế các chính sách và nội dung cụ thể của từng chế độ
BHXH. Mức tối thiểu của các chế độ BHXH là mức đóng định kỳ
(hàng tháng), mức thời gian tối thiểu để tham gia và được hưởng các
chế độ BHXH cụ thể. Các mức tối thiểu này, khi thiết kế thường dựa
vào tiền lương tối thiểu, tiền lương bình quân, quảng đời lao động
v.v... Mặt khác, mức tối thiểu còn phải tính đến giá trị của các chế độ
BHXH mà người tham gia được hưởng. Nguyên tắc này liên quan trức
tiếp đến việc tạo nguồn, xây dựng quỹ BHXH, và khuyến khích người
lao động và các tầng lớp xã hội tham gia.
2.4. BHXH phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức
tham gia và thời gian thức hiện, đảm bảo quyền lợi của người lao
động
Nguyên tắc này đảm bảo sự thích hợp của BHXH trong cơ chế thị
trường, trong đó sự di chuyển và biến động lao động có thể xảy ra,
thậm trí mang tính thường xuyên. Sự thay đổi nơI làm việc và thay đổi
hợp đồng lao động cả vể nội dung đối, tác v.v… tạo ra những giai
đoạn có thể vệ thời gian và không gian của quá trình làm việc. Điều
này có thể xảy ra trong cả các quan hệ về BHXH. Việc đảm bảo cho
người tham gia BHXH có thể duy trì quan hệ một cách liên tục theo
thời gian có tham gia và thống nhất về các chế độ sẽ tạo ra sự linh
hoạt cần thiết và thuận tiên cho người lao động tham gia vào các quan
hệ BHXH tốt hơn, đầy đủ và tích cực hơn. Do vậy, mức tham gia và
thời gian thực tế tham gia là căn cứ chủ yếu nhất đẻ duy trì quan hệ
BHXH đối với người lao động.
2.5. Công bằng trong BHXH
Đây là nguyên tắc rất quan trọng songcũng rất phức tạp trong
chính sách BHXH. Quan hệ BHXH được thực hiên trong một thời gian

họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc
làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn
chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp... Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn
toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản v.v.... Đồng thời những biến cố
đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
- Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp
phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn
quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia
BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà
nước.
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu
của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất
việc làm. Mục tiêu này đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể
hoá như sau:
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để
đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khoản và chống bệnh tật.
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các
nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.
Với những mục tiêu trên, BHXH đã trở thành một trong những
quyền con người và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và
ghi vào Tuyên ngôn Nhân quyền ngày 10/12/1948 rằng: "Tất cả mọi
người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng bảo hiểm
xã hội, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh
tế, xã hội và văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển con
người".
Ở nước ta, BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo
đảm xã hội. Ngoài BHXH, chính sách bảo đảm xã hội còn có cứu trợ

được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vào các điều
kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng quy định.
Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ,
tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những
người tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao động
mà cả những người sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải đóng
góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người lao
động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lượng những
người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những người tham
gia đóng góp. Như vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực
hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân
phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao và thấp, giữa
những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải
nghỉ việc v.v... Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần
thực hiện công bằng xã hội.
- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất
nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội.
Khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, người lao động được chủ
sử dụng lao động trả lương hoặc tiền công. Khi ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu
nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được đảm
bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, người lao động luôn yên tâm, gắn
bó tận tình với công việc, với nơi làm việc. Từ đó, họ rất tích cực lao
động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Chức
năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động
nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động
xã hội.
- Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động,
giữa người lao động với xã hội. Trong thực tế lao động sản xuất,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status