Lý luận chung về kế toán thành phẩm,tiêu thụ
thành phẩm và xác định kết quảtiêu thụ
trong doanh Nghiệp sản xuất
I. ý nghĩa và sự cần thiết của kế toán thành phẩm, tiêu thụ
thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ trong doanh
nghiệp sản xuất.
1. Thành phẩm và yêu cầu quản lý thành phẩm.
Theo quy luật tái sản xuất quá trình hoạt động trong doanh nghiệp sản
xuất bao gồm: cung ứng, sản xuất, tiêu thụ, các giai đoạn này diễn ra một cách
thờng xuyên liên tục. Sản phẩm của giai đoạn sản xuất đó chính là thành phẩm
và nửa thành phẩm, trong đó thành phẩm chiếm đại bộ phận. Thành phẩm trong
doanh nghiệp là những sản phẩm đợc gia công chế biến xong ở bớc công nghệ
cuối cùng của quy trình công nghệ sản xuất, sản phẩm đợc kiểm tra kỹ thuật
đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định, đợc nhập kho hoặc tiêu thụ ngay.
Còn nửa thành phẩm là những sản phẩm mới kết thúc một hoặc một số công
đoạn trong quy trình công nghệ sản xuất (trừ công đoạn cuối cùng) đợc nhập
kho hoặc chuyển giao để tiếp tục chế biến hoặc có thể bán ra ngoài. Khi đó nó
cũng có ý nghĩa nh thành phẩm. Vì vậy khái niệm giữa nửa thành phẩm và
thành phẩm là những khái niệm chỉ xét trong phạm vi một doanh nghiệp bởi
thành phẩm của doanh nghiệp này có thể là nửa thành phẩm của doanh nghiệp
khác và ngợc lại. Do đó việc xác định đúng đắn thành phẩm trong từng doanh
nghiệp là vấn đề hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Nó phản ánh toàn
bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp về quy mô, trình độ
tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý.
Bất kỳ loại thành phẩm nào cũng biểu hiện trên hai mặt: số lợng và chất
lựơng. Mặt số lợng phản ánh quy mô, thành phần mà đơn vị tạo ra nó và đợc đo
bằng đơn vị kg, mét...Chất lợng của thành phẩm phản ánh giá trị sử dụng của
thành phẩm và đợc xác định bằng tỷ lệ tốt, xấu hoặc phẩm cấp của sản phẩm. Đây
là hai mặt độc lập của một thể thống nhất và có quan hệ biện chứng với nhau. Đó
là nguyên nhân giải thích tại sao khi nghiên cứu, quản lý và hạch toán thành phẩm
ta luôn phải đề cập tới hai mặt này.
Tiêu thụ thành phẩm là giai đoạn tiếp theo của quá trình sản xuất và là giai
đoạn cuối cùng của vòng tuần hoàn vốn trong doanh nghiệp. Đây chính là quá
trình thực hiện quan hệ trao đổi thông qua các phơng tiện thanh toán để thực hiện
giá trị của sản phẩm, hàng hoá trong đó doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm,
hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng, đợc khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận trả.
Quá trình tiêu thụ kết thúc khi cả hai điều kiện sau đợc bảo đảm:
- Doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm cho ngời mua.
- Đơn vị mua trả tiền hoặc chấp nhận trả.
Điều đó có nghĩa là trong quá trình tiêu thụ phải có sự thoả thuận giữa hai
ngời mua và bán, phải có sự thay đổi quyền sở hữu về sản phẩm và cả hai bên đều
thực hiện quá trình chuyển đổi giữa hàng và tiền.
Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ
và kết thúc một vòng luân chuyển vốn. Có tiêu thụ đợc sản phẩm mới có vốn để
tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh vòng quay của vốn nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn đồng thời góp phần thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Trong nền kinh tế thị trờng, điều quan trọng và là sự quan tâm hàng đầu của
các doanh nghiệp là làm thế nào để sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của mình tiêu thụ
trên thị trờng, đợc thị trờng chấp nhận về các phơng diện chất lợng, giá cả, mẫu
mã... Đó là vấn đề sống còn quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các doanh
nghiệp. Sau quá trình tiêu thụ, doanh nghiệp không những bù đắp đợc chi phí liên
quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mà còn thực hiện đợc giá trị thặng d. Đây
là tiền đề quan trọng mở rộng quy mô sản xuất, tăng thu nhập cho doanh nghiệp,
nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên và tăng ngân sách nhà nớc.
Với các doanh nghiệp bạn có quan hệ sản xuất trực tiếp với doanh nghiệp,
việc cung cấp sản phẩm kịp thời, đúng hạn, đúng quy cách phẩm chất, đúng yêu
cầu số lợng sẽ giúp doanh nghiệp hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất đề ra trên cơ
sở đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nh vậy, xét trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thực hiện tốt khâu tiêu thụ
thành phẩm là cơ sở cho sự cân đối giữa sản phẩm và tiêu dùng, tiền và hàng đồng
thời cũng đảm bảo sự cân đối sản xuất trong từng ngành. Mặt khác, trong điều
mẵn nhu cầu của ngời tiêu dùng. Thu nhập từ tiêu thụ thành phẩm trang trải các
chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thực hiện tái sản xuất giản đơn
và tái sản xuất mở rộng. Một doanh nghiệp có các kênh tiêu thụ phong phú với
các chính sách khuyến khích việc tiêu thụ thành phẩm, hàng hoá tốt sẽ giúp doanh
nghiệp tiêu thụ đợc nhiều, thu hồi vốn nhanh, tăng nhanh tốc độ vòng quay của
vốn, tiết kiệm vốn lu động, hiện đại hoá sản xuất cả về tốc độ lẫn trình độ kỹ
thuật... từ đó giúp doanh nghiệp dễ dàng thực hiện đợc các mục tiêu tối thiểu hoá
chi phí và tối đa hoá lợi nhuận.
Để biết đợc trong kỳ kinh doanh của mình có đạt đợc các mục tiêu đó
không doanh nghiệp cần phải có những thống kê về các khoản doanh thu, các
khoản chi phí và tính toán kết quả của các hoạt động kinh doanh trong kỳ. Kết
quả của quá trình tiêu thụ đánh giá một cách chính xác hiệu quả của toàn bộ quá
trình sản xuất kinh doanh, có vai trò quyết định đến sự tồn tại, phát triển hay suy
thoái của đơn vị. Dựa vào kết quả tiêu thụ doanh nghiệp có thể phân tích đợc mặt
hàng nào, sản phẩm nào có kết quả cao và xu hớng nh thế nào để từ đó có thể đầu
t mở rộng sản xuất kinh doanh chúng hoặc chuyển hớng sang sản xuất kinh doanh
mặt hàng khác.
Nh vậy xác định kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng
quan trọng. Nó giúp cho chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, các
cơ quan chủ quản, quản lý tài chính, thuế... nắm bắt đợc tình hình sản xuất kinh
doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp để từ đó lựa chọn phơng án kinh
doanh có hiệu quả, giám sát việc chấp hành chính sách, chế độ kinh tế tài chính.
Xuất phát từ vai trò và ý nghĩa của nó, việc xác định kết quả tiêu thụ phải
thực hiện yêu cầu sau:
- Thờng xuyên kiểm tra công việc và tình hình thực hiện hợp đồng bán
hàng, tính toán xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phân tích những nguyên nhân, xác định mức độ ảnh hởng của các nhân tố
đến tình hình biến động lợi nhuận.
-Tổ chức phân tích báo cáo kết quả kinh doanh, t vấn cho chủ doanh nghiệp
và giám đốc lựa chọn phơng án kinh doanh có hiệu quả.
nhà nớc và xác định đợc chính xác kết quả tiêu thụ. Ngợc lại tổ chức tốt kế toán
tiêu thụ sẽ tạo điều kiện cho kế toán thành phẩm thực hiện tốt nhiệm vụ của
mình. Do vậy hoàn thiện quá trình hạch toán nghiệp vụ thành phẩm, tiêu thụ
thành phẩm và xác định kết quả tiệu thụ là một vấn đề rất cần thiết và có ý nghĩa
quan trọng. Để làm tốt nghiệp vụ này, kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm
cần thực hịên các yêu cầu sau:
-Tổ chức theo dõi, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời, giám sát chặt chẽ
về tình hình hiện có và sự biến động của từng loại thành phẩm trên cả hai mặt số
lợng và giá trị.
-Theo dõi, phản ánh và giám đốc chặt chẽ quá trình tiêu thụ, ghi chép kịp
thời, đầy đủ chi phí liên quan đến việc bán hàng, thu nhập bán hàng.
- Xác định chính xác kết quả của từng loại hoạt động trong doanh nghiệp,
phản ánh và giám đốc tình hình phân phối kết quả, đôn đốc thực hiện nghĩa vụ với
nhà nớc.
Thực hiện tốt các yêu cầu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc quản
lý chặt chẽ thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ. Tuy
nhiên để phát huy đợc vai trò và thực hiện tốt các yêu cầu đó đòi hỏi phải tổ chức
kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ thật khoa
học hợp lý, đồng thời cán bộ kế toán phải nắm vững nội dung của việc tổ chức
công tác kế toán đó.
II.nội dung Kế toán thành phẩm.
1. Yêu cầu của công tác kế toán thành phẩm:
Thành phẩm của các doanh nghiệp thờng rất đa dạng và phong phú về
chủng loại, mẫu mã, việc tổ chức một cách khoa học công tác kế toán thành phẩm
là việc làm rất cần thiết và không thể thiếu đợc đối với một doanh nghiệp sản
xuất. Để đảm bảo đợc điều đó kế toán cần phải thực hiện các yêu cầu sau:
- Tổ chức kế toán thành phẩm theo từng loại, từng thứ thành phẩm, theo
từng đơn vị sản xuất theo đúng số lợng và chất lợng thành phẩm.Từ đó làm cơ sở
để xác định kết quả kinh doanh của từng đơn vị, từng phân xởng...và có số liệu để
so sánh với các chỉ tiêu kế hoạch.
quân cả kỳ dự trữ Số lợng thực tế TP tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Phơng pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ tuy đơn giản, dễ làm nhng độ
chính xác không cao. Hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng gây ảnh h-
ởng đến công tác quyết toán nói chung.
Giá đơn vị bình Trị giá thực tế TP tồn kho đầu kỳ ( hoặc cuối kỳ trớc)
quân cuối kỳ trớc Số lợng thực tế TP tồn kho đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trớc)
Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập
=
Trị giá thực tế
TP nhập
Số lợng
nhập
=
x=
=
Trị giá thực tế TP tồn trớc khi nhập
Số lợng TP tồn trớc khi nhập
+
+
Phơng pháp này mặc dầu khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến
động thành phẩm trong kỳ nhng không chính xác vì không tính đến sự biến động
của giá thành phẩm nhập kho.
Phơng pháp giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập khắc phục đợc nhợc
điểm của cả hai phơng pháp trên: vừa chính xác, vừa cập nhật. Nhng nó có nhợc
điểm là tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần thờng chỉ áp dụng ở doanh nghiệp
số lần nhập kho trong tháng ít, số lợng nhập lớn.
2.1.2. Giá thực tế nhập trớc xuất trớc (FIFO).
Theo phơng pháp này doanh nghiệp giả định rằng số thành phẩm nào nhập
trớc thì xuất trớc, xuất hết số nhập trớc mới đến số nhập sau theo giá thành thực tế
của từng số hàng xuất. Nói cách khác, cơ sở của phơng pháp này là giá thực tế
2.2. Giá hạch toán:
Giá hạch toán là giá do doanh nghiệp quy định, nó có tính chất ổn định và
lâu dài. Giá hạch toán chỉ dùng để ghi sổ kế toán thành phẩm hàng ngày chứ
không có tác dụng giao dịch với bên ngoài, có thể lấy giá kế hoạch hoặc một loại
giá ổn định trong kỳ và nó quy định cụ thể cho từng loại thành phẩm. Mục đích
của việc sử dụng giá hạch toán là nhằm làm đơn giản cho công tác kế toán trong
doanh nghiệp có các nghiệp vụ nhập, xuất kho thành phẩm nhiều, thờng xuyên,
giá thành thực tế biến động lớn.
Theo phơng pháp này thành phẩm nhập kho đợc ghi theo giá hạch toán
và thực tế, thành phẩm xuất kho trong kỳ ghi theo giá hạch toán cuối kỳ tiến
hành điều chỉnh từ giá hạch toán về giá thực tế thông qua hệ số giá thành phẩm.
Hệ số này đợc tính cho từng loại hoặc từng nhóm TP.
Giá hạch toán Số lợng thành phẩm Đơn giá
thành phẩm xuất kho xuất kho hạch toán
Trị giá thực tế thành phẩm xuất trong kỳ
Trị giá hạch toán thành phẩm xuất kho
Hệ số giá
=====
x
Hệ số giá
=
Trị giá thực tế TP tồn đầu kỳ
Trị giá thực
tế TP nhập trong kỳ
Trị giá hạch toán TP nhập trong kỳ
Trị giá hạch toán TP tồn đầu kỳ
+
+
Khi dùng phơng pháp giá hạch toán việc hạch toán chi tiết thành phẩm trên
các chứng từ nhập, xuất, các sổ (thẻ) kế toán chi tiết thành phẩm đợc ghi theo giá
+ Nguyên tắc:
-ở kho: Thủ kho ghi chép sự biến động nhập, xuất, tồn của thành phẩm về
hiện vật trên thẻ kho.
-ở phòng kế toán: Kế toán thành phẩm ghi chép sự biến động nhập, xuất,
tồn của thành phẩm cả về hiện vật và giá trị trên sổ chi tiết thành phẩm.
+ Trình tự ghi sổ(Sơ đồ số 1)
-ở kho: Căn cứ vào chứng từ phiếu nhập hoặc xuất kho thành phẩm thủ kho
thực hiện nhập và xuất thành phẩm sau đó vào thẻ kho ở cột nhập và xuất tơng
ứng. Mỗi chứng từ ghi một dòng vào thẻ kho, thẻ kho đợc mở cho từng loại thành
phẩm. Cuối tháng thủ kho phải tiến hành tổng cộng số nhập, xuất, tính ra số tồn
kho về mặt lợng theo từng loại, thờng xuyên kiểm tra đối chiếu giữa số tồn thực
tế với số tồn trên thẻ kho.
Hàng ngày hoặc định kỳ sau khi ghi song thẻ kho, thủ kho chuyển chứng từ
phiếu nhập, xuất cho kế toán thành phẩm.
-Tại phòng kế toán: Định kỳ sau khi nhận đợc chứng từ do thủ kho chuyển
đến kế toán thành phẩm ghi đơn giá tính bằng tiền cho từng phiếu nhập và xuất.
Kế toán thành phẩm mở sổ chi tiết thành phẩm cho từng loại thành phẩm t-
ơng ứng với thẻ kho đợc mở ở kho, sổ này có nội dung tơng tự nh thẻ kho chỉ khác
là theo dõi cả về mặt giá trị, vào sổ chi tiết thành phẩm cho từng loại thành phẩm
cả về hiện vật và giá trị.
Cuối tháng kế toán thành phẩm tính ra số tồn cả về hiện vật và giá trị cho
từng loại thành phẩm trên sổ chi tiết, lập kế hoạch đối chiếu với thủ kho về hiện
vật, nếu có chênh lệch phải tìm nguyên nhân và điều chỉnh kịp thời. Kế toán
thành phẩm đối chiếu với kế toán tổng hợp về giá trị, sau đó lập bảng tổng hợp
nhập- xuất - tồn trên cơ sở số liệu của sổ chi tiết là mỗi loại thành phẩm ghi
một dòng.
* Ưu, nhợc điểm của phơng pháp ghi thẻ song song.
+ Ưu điểm:
- Đơn giản, dễ làm, dễ hiểu, dễ đối chiếu.
- Cung cấp thông tin thờng xuyên, kịp thời cho ngời quản lý
thủ kho chuyển đến kế toán thành phẩm ghi đơn giá tính thành tiền, phân loại
chứng từ là phiếu nhập thành phẩm và phiếu xuất thành phẩm. Dựa trên cơ sở
phiếu nhập thành phẩm lập bảng kê nhập thành phẩm cả về hiện vật và giá trị, dựa
trên cơ sở phiếu xuất thành phẩm lập bảng kê xuất thành phẩm cả về hiện vật và
giá trị.
Cuối tháng kế toán thành phẩm lấy số liệu trên bảng kê nhập và bảng kê
xuất vào sổ đối chiếu luân chuyển cột nhập và xuất cho từng loại thành phẩm tơng
ứng đồng thời tính ra số tồn về hiện vật và giá trị cho từng loại thành phẩm trên sổ
đối chiếu luân chuyển. Số tồn cuối tháng này là số tồn của đầu tháng tiếp theo.
Cuối tháng kế toán thành phẩm lập kế hoạch đối chiếu với thủ kho về
hiện vật, đối chiếu với kế toán tổng hợp về giá trị. Nếu có chênh lệch phải tìm
nguyên nhân và điều chỉnh.
* Ưu, nhợc điểm của phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển:
+ Ưu điểm:
-Tránh đợc việc ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán
-Cung cấp đợc thông tin cả về hiện vật và giá trị cho ngời quản lý.
+ Nhợc điểm:
-Công việc kế toán dồn vào cuối tháng do đó thờng lập báo cáo kế toán
chậm.
Sơ đồ 2: Sơ đồ hạch toán chi tiết thành phẩm theo
phơng pháp ghi sổ đối chiếu luân chuyển
Phiếu nhập kho
Bảng kê
nhập
Thẻ kho
Phiếu xuất
kho
Sổ đối chiếu luân chuyển
Kế toán
tổng hợp
theo phơng pháp sổ số d
Phiếu nhập kho
Phiếu giao nhận
chứng từ nhập
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Phiếu giao nhận
chứng từ xuất
Bảng kê luỹ kế NXT kho TP
Kế toán tổng hợp
Sổ số
d
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
* Ưu, nhợc điểm của phơng pháp:
+ Ưu điểm:
-Tránh đợc việc ghi trùng lặp giữa kho và phòng kế toán.
-Cung cấp thông tin tổng giá trị nhập - xuất - tồn theo định kỳ.
+ Nhợc điểm:
- Nếu có nhầm lẫm sai sót thì khó phát hiện, khó kiểm tra do đó chỉ thích
hợp ở doanh nghiệp nhân viên kế toán và thủ kho có trình độ và tay nghề thành
thạo.
5. Hạch toán tổng hợp thành phẩm:
5.1. Hạch toán tổng hợp thành phẩm theo phơng pháp kê khai thờng xuyên:
Phơng pháp kê khai thờng xuyên là phơng pháp theo dõi tình hình hiện
có,biến động tăng, giảm thành phẩm một cách thờng xuyên liên tục. Giá trị thành
phẩm tồn kho có thể xác định ở bất cứ thời điểm nào.
Tài khoản sử dụng:
- TK 155- Thành phẩm: TK này phản ánh sự biến động nhập - xuất -tồn kho
Bên có: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
Kết chuyển giá thực tế thành phẩm gửi bán tồn cuối kỳ.
Giá thực tế thành phẩm xuất tiêu thụ trong kỳ.
Tài khoản này cuối kỳ không có số d.
Trình tự hạch toán(Sơ đồ số 5)
III. nội dụng kế toán tiêu thụ thành phẩm.
1. Các khái niệm liên quan đến tiêu thụ thành phẩm:
Tuỳ thuộc vào phơng pháp tính thuế GTGT, nội dung của các chỉ tiêu liên quan
đến chi phí, doanh thu và kết quả có sự khác nhau. Đối với các doanh nghiệp tính
thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ trong chi phí không bao gồm số thuế GTGT
đầu vào. Tơng tự chỉ tiêu doanh thu bán hàng, chiết khấu, giảm giá, doanh thu
hàng bán bị trả lại là giá bán hoặc thu nhập cha có thuế GTGT(kể cả các khoản
phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán- nếu có). Ngợc lại đối với các cơ sở tính
thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp hoặc đối với các đối tợng không chịu thuế
GTGT, trong chi phí bao gồm cả thuế GTGT đầu vào và trong doanh thu bao gồm
cả thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt đầu ra (kể cả các khoản phụ
thu, phí thu thêm- nếu có). Vì thế các chỉ tiêu về doanh thu bán hàng, chiết khấu,
giảm giá, doanh thu hàng bán bị trả lại... đều bao gồm cả thuế GTGT đầu ra.
Sơ đồ 4: Trình tự hạch toán thành phẩm theo
phơng pháp kê khai thờng xuyên.
TK 154 TK 155 TK 632
Sx hoặc thuê ngoài gia Xuất bán, trả lơng, thởng
công, chế biến nhập kho biếu tặng
TK 157,632 TK 157
Thành phẩm gửi bán, ký gửi Xuất gửi bán,ký gửi
hoặc hàng đã bán bị trả lại
TK 642,3381 TK 642,1381
Thành phẩm thừa khi Thành phẩm thiếu khi
kiểm kê kiểm kê
TK 412 TK128,222
+ Doanh nghiệp có khả năng là sẽ thu đợc lợi ích kinh tế từ giao dịch.
+ Chi phí giao dịch có thể đợc tính toán một cách chắc chắn.
- Chiết khấu bán hàng: là số tiền tính trên tổng số doanh thu trả cho khách
hàng do đã thanh toán tiền hàng trớc thời hạn qui định (chiết khấu thanh toán).
- Giảm giá hàng bán: là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hoá đơn hay
hợp đồng cung cấp lao vụ dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt nh hàng kém phẩm
chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời hạn, địa điểm trong hợp
đồng...(do chủ quan của doanh nghiệp). Ngoài ra, tính vào các khoản giảm giá
hàng bán còn bao gồm khoản thởng cho khách hàng do trong một khoảng thời
gian nhất định đã tiến hành mua một khối lợng lớn hàng hoá (hồi khấu) và khoản
giảm trừ trên giá bán thông thờng vì mua khối lợng lớn hàng hoá trong một đợt
(bớt giá)- chiết khấu thơng mại.
- Hàng bán bị trả lại: số hàng đã đợc coi là tiêu thụ (đã chuyển giao quyền
sở hữu, đã thu tiền hay đợc ngời mua chấp nhận) nhng bị ngời mua từ chối trả lại
do ngời bán không tôn trọng hợp đồng kinh tế đã ký kết nh không phù hợp yêu
cầu, tiêu chuẩn, quy cách kỹ thuật, hàng kém phẩm chất, không đúng chủng loại...
Tơng ứng với hàng bán bị trả lại là giá vốn của hàng bán bị trả lại, doanh thu của
hàng bán bị trả lại và thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng bán bị trả lại (nếu có)
và đều đợc tính theo giá vốn, doanh thu, thuế khi bán.
- Doanh thu thuần: là khoản doanh thu còn lại của doanh thu bán hàng sau
khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu (giảm giá hàng bán, doanh thu hàng
bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu).
- Giá vốn hàng bán: là trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ
đã tiêu thụ trong kỳ. Đối với thành phẩm đó là giá thành sản xuất (giá thành công
xởng) hay chi phí sản xuất thực tế.
- Lợi nhuân gộp: là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn hàng
bán. Lợi nhuận gộp còn gọi là lãi thơng mại hay lợi tức gộp hoặc lãi gộp.
- Chi phí bán hàng: là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh có liên quan đến
hoạt động tiêu thụ bao gồm chi phí nhân viên bán hàng (lơng và các khoản trích
theo lơng của nhân viên bán hàng) chi phí vận chuyển, bao bì đóng gói, chi phí
Lợi nhuận trớc thuế
Thuế thu
nhập DN
Lợi nhuận
sau thuế
Phơng thức tiêu thụ trực tiếp:
Là phơng thức giao hàng cho ngời mua trực tiếp tại kho (hay trực tiếp tại
các phân xởng không qua kho) của doanh nghiệp. Số hàng khi bàn giao cho