THỰC TRẠNG TỔ CHỨC BỘ MÁY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM - Pdf 76

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC BỘ MÁY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI
VIỆT NAM
2.1. Những quy định Pháp lý liên quan tới tổ chức bộ máy kiểm toán độc lập ở
Việt Nam
Để có thể tổ chức kiểm toán, các chủ thể kiểm toán độc lập phải dựa vào các
hệ thống chính sách kế toán, kiểm toán hiện hành.Vì thế, để xem xét kiểm thực
trạng tổ chức kiểm toán, trước hết chúng ta cần nghiên cứu đánh giá hệ thống
chính sách kế toán kiểm toán trong quá trình đổi mới quản lí kinh tế ở nước ta làm
cơ sở cho hoạt động kiểm toán.
2.1.1 Hệ thống chính sách kế toán làm cơ sở cho hoạt động kiểm toán
Kiểm toán độc lập ở Việt Nam hiện nay chủ yếu thực hiện kiểm toán báo cáo
tài chính cho các doanh nghiệp. Mặt khác, việc xác minh báo cáo tài chính phải
dựa trên hệ thống pháp lý về kế toán được ban hành, cụ thể như Luật kế toán, các
Quy định nghiệp vụ và các Chuẩn mực kiểm toán,... Do đó, chế độ kế toán có ảnh
hưởng rất lớn tới hoạt động kiểm toán, mỗi khi chế độ kế toán thay đổi sẽ kéo theo
sự thay đổi trong công tác kiểm toán.
Các văn bản kế toán chủ yếu được ban hành từ năm 1986 đến nay bao gồm:
Pháp lệnh Kế toán và Thống kê (20/05/1988), Điều lệ Tổ chức kế toán Nhà nước
ban hành theo Nghị định số 25/HĐBT (18/03/1989) của Hội đồng Bộ trưởng,
Quyết định số 1141/TC/QĐ/CĐKT (01/11/1995) của Bộ Tài chính về việc ban
hành “Chế độ kế toán doanh nghiệp”,... Năm 2003, chế độ kế toán của Việt Nam
có bước tiến quan trọng khi Luật Kế toán chính thức được thông qua và ban hành
theo Nghị quyết số 03/2003/QH11 ngày 17/06/2003 của Quốc hội khóa XI. Và gần
đây hệ thống chính sách kế toán trong các doanh nghiệp được thay đổi theo Quyết
định số 15/2006/QĐ-BTC (20/03/2006) về chế độ kế toán doanh nghiệp mới, sửa
đổi bổ sung trong thông tư số 161/2007/TT-BTC (31/12/2007). Bên cạnh đó không
thể không nhắc tới hệ thống các chuẩn mực kế toán Việt Nam, bao gồm:
1. Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC (31/12/2001) về việc ban hành công bố 4
chuẩn mực kế toán Việt Nam (đợt 1), Thông tư số 89/2002/TT-BTC (09/10/2002)
hướng dẫn thực hiện 4 chuẩn mực kế toán ban hành đợt 1.
2. Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC (31/12/2002) về việc ban hành công bố 6

chế Kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân, Thông tư số 107/2000/TT-BTC
ngày 25/10/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn đăng ký hành nghề kiểm toán (thay
thế Thông tư 04/TC/CDKT ngày 12/01/1999),…
Ngoải các văn bản trên còn có các quyết định của Bộ Tài chính về việc ban
hành và công bố các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam:
1. Quyết định số 120/1999/QĐ-BTC công bố 4 chuẩn mực kiểm toán đợt 1
2. Quyết định số 219/2000/QĐ-BTC công bố 6 chuẩn mực kiểm toán đợt 2
3. Quyết định số 143/2001/QĐ-BTC công bố 6 chuẩn mực kiểm toán đợt 3
4. Quyết định số 28/2003/QĐ-BTC công bố 5 chuẩn mực kiểm toán đợt 4
5. Quyết định số 195/2003/QĐ-BTC công bố 6 chuẩn mực kiểm toán đợt 5
6. Quyết định số 03/2005/QĐ-BTC công bố 6 chuẩn mực kiểm toán đợt 6
7. Quyết định số 101/2001/QĐ-BTC công bố 4 chuẩn mực kiểm toán đợt 7.
Theo đánh giá trong Báo cáo tổng kết 10 năm hoạt động KTDLL 1991-2001
của Bộ tài chính, về cơ bản, hệ thống văn bản pháp lý nói trên do Nhà nước ban
hành đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của các tổ chức KTDL,
việc hình thành đội ngũ KTV, bồi dưỡng, thi tuyển cấp chứng chỉ và quản lý đội
ngũ kiểm toán viên, tạo môi trường lành mạnh cho sự hoạt động và phát triển cũng
như từng bước mở cửa và hội nhập về dịch vụ kiểm toán độc lập.
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập đối với
kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường đã
và đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay, hệ thống chính sách này đã bộc lộ một
số điểm bất cập :
Khuôn khổ pháp lí cho hoạt động kiểm toán độc lập chỉ bao gồm nghị định
của Chính phủ và các văn bản của Bộ tài chính do đó chưa tương xứng với sự phát
triển và tiềm năng của hoạt động kiểm toán độc lập hiện nay và chưa đồng bô với
các hệ thống pháp luật khác như: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam, Luật Doanh
nghiệp, Luật thuế, Pháp lệnh về Ngân hàng và các tổ chức tài chính chứng khoán.
Tính bao quát của các văn bản làm cơ sở cho hoạt động kiểm toán còn hạn chế
nhiều nội dung cần thiết chưa được đề cập đến một số nội dung đã đề cập chưa
được cụ thể rõ ràng và thiếu tính pháp lí.Các văn bản đã được ban hành còn thiếu

doanh nghiệp niêm yết và phát hành chứng khoán, bao gồm Quyết định số
105/2004/NĐ-CP (30/03/2004) và Nghị định số 133/2005/NĐ-CP (31/10/2005)
ngoài ra còn có Quyết định số 89/2007/QĐ-BTC (24/10/2007) về việc ban hành
Quy chế lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán được chấp thuận kiểm toán cho tổ chức
phát hành, tổ chứ niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán. Theo các quy định
này, để có thể được cung cấp dịch vụ kiểm toán cho các công ty niêm yết, các công
ty kiểm toán phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định như sau:
• Về vốn điều lệ.Các công ty kiểm toán trong nước phải có vốn điều lệ ít nhất
là 2 tỷ VNĐ, còn các công ty nước ngoài phải có mức vốn điều lệ tối thiểu là
300,000 USD.
• Về nhân sự. Yêu cầu phải có ít nhất 7 kiểm toán viên thực hành. Kiểm toán
viên tham gia kiểm toán công ty niêm yết phải được đăng ký trong danh sách kiểm
toán viên có chứng chỉ của Hiệp hội kiểm toán viên công chứng Việt Nam
(VACPA).Nếu kiểm toán viên đó là người Việt Nam cần phải có ít nhất 2 năm
trong hoạt động kiểm toán hoặc đã có chứng chỉ kiểm toán viên. Nếu kiểm toán
viên là người nước ngoài thì cần trải qua ít nhất 2 năm kinh nghiệm làm kiểm toán
ở Việt Nam. Bên cạnh đó họ còn phải tuyệt đối độc lập với khách thể được kiểm
toán theo yêu cầu của Điều 8 khoản 2 Quyết định 89/2007/QĐ-BTC.
• Về thời gian hoạt động. Tối thiểu là tròn 3 năm tính từ ngày thành lập đến
ngày nộp Đơn đăng ký tham gia kiểm toán. Trường hợp các doanh nghiệp kiểm
toán phải chuyển đổi loại hình theo quy định của Nghị định 105/2004/NĐ-CP ngày
30/3/2004 của Chính phủ về kiểm toán độc lập và Nghị định 133/2005/NĐ-CP
ngày 31/10/2005 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 105/2004/NĐ-CP thì ngày thành lập là ngày ghi trong Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh trước khi chuyển đổi. Trường hợp doanh nghiệp kiểm toán
hoạt động tại Việt Nam từ tròn 6 tháng đến dưới 3 năm tính từ ngày thành lập đến
ngày nộp Đơn đăng ký tham gia kiểm toán thì 7 kiểm toán viên hành nghề phải có
ít nhất tròn 3 năm kinh nghiệm kiểm toán sau ngày được cấp Chứng chỉ kiểm toán
viên và đáp ứng các quy định tại khoản 1 Điều 8 khoản 2 Điều 8 Quyết định
89/2007/QĐ-BTC.

Theo báo cáo đến ngày 31/12/2007 Danh sách các công ty kiểm toán độc lập
đăng ký hoạt động với Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam gồm:
• 3 Công ty là doanh nghiệp nhà nước (AASC, AISC và AAC)
• 4 công ty 100% vốn nước ngoài(E&Y, PWC, KPMG và Deloitte)
• 15 công ty hợp danh
• 95 công ty TNHH
• 9 công ty cổ phần
Trong năm 2006 đã thành lập mới 40 công ty, trong đó có 3 công ty hợp danh,
37 công ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên. Như vậy, cùng với sự phát triển của
nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán độc lập đã hình thành và phát triển,
ngày càng trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất
lượng quản lý của doanh nghiệp.
Trải qua hơn 17 năm hoạt động, phát triển, hoạt động kiểm toán độc lập đã đạt
được một số thành công khá cơ bản và đáng khích lệ.
• Một là: Nhận thức về kiểm toán nói chung, kiểm toán độc lập nói riêng, nhận
thức vai trò, vị thế của kiểm toán độc lập ngày càng được khẳng định trong nền
kinh tế thị trường Việt Nam.
• Hai là: Hoạt động kiểm toán độc lập đã góp phần tạo lập môi trường đầu tư
thông thoáng, thuận lợi, thúc đẩy đầu tư, đặc biệt đầu tư nước ngoài.
• Ba là: Kiểm toán độc lập phát triển nhanh, mạnh cả về chất và lượng.
• Bốn là: Đã hình thành đội ngũ kiểm toán viên hành nghề với chất lượng
ngày càng nâng cao.
• Năm là: Với tư cách là hoạt đông dịch vụ trong lĩnh vực tài chính, kiểm toán
độc lập đã góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển thị trường dịch vụ tài chính,
tiền tệ mở cửa và hội nhập.

Số liệu thông kê các công ty kiểm toán trong năm 2007


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status