LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - Pdf 76

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH
KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
A - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC TIÊU THỤ THÀNH PHẨM
VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH.
I. CÔNG TÁC TIÊU THỤ THÀNH PHẨM.
1. Khái niệm thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm.
a. Khái niệm thành phẩm
Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc giai đoạn chế biến cuối cùng của
qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm do các bộ phận sản xuất kinh doanh chính
và phụ của đơn vị tiến hành, được kiểm nghiệm đáp ứng mọi yêu cầu tiêu chuẩn kỹ
thuật quy định và được nhập kho hoặc giao trực tiếp cho khách hàng.
Ngoài ra, được coi là thành phẩm còn bao gồm cả những sản phẩm thuê ngoài
gia công chế biến đã hoàn thành.
b. Tiêu thụ thành phẩm
Bán hàng hay tiêu thụ sản phẩm là quá trình trao đổi để thực hiện giá trị của
hàng (thành phẩm), tức là chuyển hoá vốn của doanh nghiệp từ hình thái hiện vật
(hàng) sang hình thái giá trị (tiền).
Thông qua quá trình tiêu thụ, nhu cầu của người tiêu dùng về một giá trị sử
dụng nhất định được thoả mãn và giá trị hàng hoá được thực hiện.
Xét theo góc độ kinh tế, tiêu thụ là quá trình chuyển giao hàng hoá, lao vụ, dịch
vụ cho khách hàng và nhận về một lượng giá trị tương tương. Nếu theo nghĩa đó
thì quá trình tiêu thụ có thể chia ra làm 2 giai đoạn:
*Giai đoạn 1: Đơn vị bán căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết để xuất giao
thành phẩm hàng hoá cho đơn vị mua. Về phương diện pháp lý thành phẩm gửi bán
vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, chỉ khi nào đơn vị mua đồng ý trả tiền
hoặc xác nhận trả tiền về số thành phẩm gửi đi thì số thành phẩm đó mới được coi
là tiêu thụ và nó thuộc quyền sở hữu của đơn vị mua, khi đó kết thúc giai đoạn 2.
*Giai đoạn 2: đơn vị mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.Đây là giai đoạn doanh
nghiệp đã tiêu thụ thành phẩm và đã thu tiền (hoặc sẽ thu được tiền). Kết thúc giai
đoạn này cũng là lúc hoàn tất quá trình tiêu thụ.
2. Đặc điểm

doanh nghiệp sản xuất
a. Hạch toán thành phẩm theo phương pháp kê khai thường xuyên
Thành phẩm nhập, xuất, tồn kho được phản ánh theo giá thành thực tế. Đối với
thành phẩm do các bộ phận sản xuất kinh doanh chính và sản xuất kinh doanh phụ
h oàn thành nhập kho, giá thành thực tế chính là giá thành công xưởng thực tế
(giá thành sản xuất thực tế ). Trường hợp thành phẩm thuê ngoài gia công, giá
thành thực tế bao gồm toàn bộ các chi phí liên quan đến việc gia công như: chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí thuê gia công và các chi phí khác liên quan đến
việc thuê ngoài gia công (vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt…)
Để tính giá thành thực tế thành phẩm xuất kho, có thể sử dụng một trong các
phương pháp hạch toán như: phương pháp giá đơn vị bình quân, Phương pháp
nhập trước xuất trước, phương pháp nhập sau xuất trước,…
Tuy nhiên, do việc tính giá thành thực tế của thành phẩm nhập kho thường thực
hiện vào cuối kỳ hạch toán (cuối tháng, cuối quý,…), nên để theo dõi chi tiết tình
hình biến động thành phẩm trong kỳ, kế toán có thể sử dụng giá hạch toán. Giá
hạch toán thành phẩm có thể là giá thành kế hạch hoặc giá nhập kho thống nhất
quy định. Cuối tháng, sau khi tính được giá thành thực tế thành phẩm nhập kho, kế
toán tiến hành điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế. Đồng thời, xác định giá
thành thực tế thành phẩm xuất bán trong kỳvà tồn kho cuối kỳ theo công thức sau:
Trong đó:

Như vậy, khi dùng phương pháp giá hạch toán, việc hạch toán chi tiết thành
phẩm trên các chứng từ nhập, xuất, các sổ (thẻ ) kế toán chi tiết thành phẩm được
Giá thực tế thành phẩm Giá hạch toán thành phẩm Hệ số giá
Xuất bán trong kho = xuất bán trong kỳ x thành
(hoặc tồn kho cuối kỳ) (hoặc tồn kho cuối kỳ) phẩm
Hệ số giá Giá thực tế thành phẩm tồn kho đầu kỳ và nhập kho trong kỳ
thành =
phẩm Giá hạch toán thành phẩm tồn kho đầu kỳ và nhập kho trong kỳ
ghi theo giá hạch toán; còn việc hạch toán tổng hợp thành phẩm nhất thiết phải ghi

Phương thức tiêu thụ qua đại lý.
Theo phương pháp này doanh nghiệp không trực tiếp bán hàng mà chuyển hàng
cho đơn vị kinh doanh nhận làm đại lý cho hợp đồng đã ký kết. Đại lý thực hiện
khâu bán sản phẩm góp phần mở rộng thị phần của doanh nghiệp
Phương thức bán hàng đại lý phải được tiến hành giữa hai bên:
- Bên A : Đơn vị có hàng gửi đại lý
- Bên B : Đơn vị nhận làm đại lý.
Tại bên A khi xuất kho thành phẩm chưa được coi là tiêu thụ, số thành phẩm này
vẫn được theo dõi như hàng gửi bán. Khi bên đại lý báo bán được hàng tức là
thành phẩm được tiêu thụ thì lúc này mới phản ánh giá vốn và doanh thu.
Ngay khi xác định là hàng đã bán doanh nghiệp phải trích một phần doanh số
cho bên nhận đại lý theo phần trăm thoả thuận gọi là hoa hồng bán hàng.
Khi xuất kho doanh nghiệp lập phiếu “Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ”
làm cơ sở thanh toán và lập 3 liên : liên 1 lưu, liên 2 giao khách hàng, liên 3 thủ
kho giữ và sau đó chuyển lên phòng kế toán.
Bên B thực chất là bên bán thuê, số tiền nhận được coi là doanh thu. Số hàng
nhận bán đại lý được coi là giữ hộ, bán hộ. Doanh thu của bên B có thể xác định
ngay thời điểm tiêu thụ hoặc khi thanh toán với bên A, điều này được thoả thuận
trong hợp đồng đại lý.
 Phương thức bán hàng trả góp.
Đây là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần. Số tiền thu được của khách
hàng bao gồm doanh thu gốc ( giá bán) và phần lãi xuất trả chậm. Phương thức này
được áp dụng khá phổ biến nhằm phục vụ và đáp ứng kịp thời nhu cầu của người
tiêu dùng ngay cả khi họ không đủ tiền thanh toán tại thời điểm mua hàng.
c. Hạch toán tiêu thụ theo phương pháp kê khai thường xuyên ở các doanh
nghiệp tính thuế GTGT trực tiếp hoặc đối với các đối tượng không chịu VAT
Trong những doanh nghiệp tính VAT theo phương pháp trực tiếp hoặc đối với
các đối tượng không chịu VAT, việc hạch toán giá vốn hàng tiêu thụ cũng tương tự
như doanh nghiệp tính VAT theo phương pháp khấu trừ nhưng chỉ khác: giá thực tế
vật tư xuất dùng cho sản xuất kinh doanh bao gồm cả VAT đầu vào. Đối với bán

qua ngân hàng và có thủ tục phí cho ngân hàng. Sau khi bàn giao hàng xong bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status