TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ
TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TẠI CÔNG TY DỆT KIM ĐÔNG XUÂN HÀ NỘI
1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÔNG TY.
1.1. Quá trình hình thành và cơ sở vật chất của Công ty.
Công ty dệt Kim Đông Xuân Hà Nội, địa chỉ 67 Ngô Thì Nhậm - Hà Nội là
một Doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Công nghiệp. Là một thành viên của
Tổng Công ty Dệt - May Việt Nam, Công ty Dệt kim Đông Xuân có nhiệm vụ sản
xuất, xuất nhập khẩu trực tiếp các sản phẩm dệt kim hoặc gia công sản phẩm tuỳ
theo yêu cầu của khách hàng.
Được thành lập ngày 13/4/1959 với tên ban đầu là Nhà máy Dệt kim Đông
Xuân và là nhà máy dệt kim tròn đầu tiên ở nước ta, nhiệm vụ ban đầu của nhà máy
là sản xuất các sản phẩm dệt kim đáp ứng nhu cầu nội địa. Lúc đó cơ sở vật chất của
nhà máy còn nghèo nàn, địa chỉ chật hẹp, trang thiết bị dây chuyền sản xuất từ khâu
dệt, xử lý vải đến cắt may chỉ gồm 37 loại với 180 máy móc được chế tạo tại Trung
Quốc, Anh, Tiệp Khắc. Từ năm 1963 Nhà máy được giao thêm nhiệm vụ làm hàng
xuất khẩu sang các nước thuộc khu vực I như: Liên xô (cũ), Hungari, Ba Lan, Mông
cổ, Lào ... nhưng với số lượng còn hạn chế. Đến năm 1970 - 1980, trang thiết bị già
cỗi lại cộng thêm nhu cầu mở rộng xuất khẩu, Nhà nước quyết định đầu tư mở rộng
nhà máy, cải tạo qui trình công nghệ - dệt - nhuộm may với số tiền 5 triệu Rúp. Năm
1980, một số lớn thiết bị của Nhà máy được đổi mới theo phương án đầu tư mở rộng
tại quyết định 213 ngày 01/7/1980 . Lúc này thị trường tiêu thụ sản phẩm của nhà
máy đã thay đổi về cơ bản, từ chủ yếu tiêu thụ nội địa sang lấy thị trường nước
ngoài làm thị trường chính. Năm 1975 sản lượng xuất khẩu chiếm 30% giá trị tổng
sản lượng của nhà máy, hiện nay là trên 90%, sản phẩm tiêu thụ nội địa chủ yếu
là sản phẩm xuống loại không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu hoặc theo những đơn đặt
hàng nhỏ, đơn lẻ. Từ năm 1987 trở lại đây việc cải tạo và mở rộng nhà máy
được tiến hành với tốc độ nhanh và trên quy mô rộng lớn. Từ
chỗ chỉ có 5.620m
2
đến nay tổng diện tích đất xây dựng đã lên tới 21.740 m
2
- Xí nghiệp xử lý hoàn tất
- Các xí nghiệp may: 1, 2, 3.
* Xí nghiệp dệt: Là đơn vị đầu tiên trong dây chuyền sản xuất, có nhiệm vụ
dệt ra các loại vải phù hợp với yêu cầu thị trường hoặc của người đặt hàng về số
lượng, chủng loại. Sản phẩm của xí nghiệp dệt là nguyên liệu của xí nghiệp xử lý
hoàn tất.
* Xí nghiệp xử lý hoàn tất: Là đơn vị kế tiếp trong dây chuyền, có nhiệm vụ
xử lý vải như tẩy trắng, nhuộm màu, in hoa ... theo các yêu cầu khác nhau của
khách hàng. Giữ vai trò trọng yếu trong toàn bộ dây chuyền.
* Ba xí nghiệp may: Là khâu cuối cùng của dây chuyền có nhiệm vụ cắt,
may các loại sản phẩm, đóng gói sản phẩm theo đúng quy cách cũng như chất
lượng mà khách hàng yêu cầu.
Tuy sản phẩm của Công ty được chế biến chủ yếu tại các xí nghiệp trên
nhưng để duy trì được tính hiệu quả và liên tục được quá trình sản xuất có sự đóng
góp không thể thiếu của xí nghiệp cơ khí sửa chữa. Là xí nghiệp phụ trợ nhưng nó
đóng góp phần đảm bảo các điều kiện sản xuất cho các xí nghiệp sản xuất chính
bao gồm các bộ phận: Lò hơi, cấp nước, làm lạnh, nén khí, tổ nguội - tiện - phay-
bào... để sửa chữa, gia công chế tạo các phụ tùng cho dây chuyền.
Quy trình công nghệ sản xuất của Công ty được khái quát theo sơ đồ sau:
1. 3. Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý.
Bộ máy quản lý của Công ty được áp dụng theo hình thức trực tuyến chức
năng nhằm đáp ứng kịp thời thông tin, số liệu cho các cấp lãnh đạo và ngược lại
các chỉ thị mệnh lệnh từ lãnh đạo sẽ được truyền đạt trực tiếp và nhanh chóng đến
những người tổ chức thực hiện.
Đứng đầu bộ máy là Ban lãnh đạo gồm 3 người, Tổng giám đốc và 2 Phó
tổng giám đốc.
- Tổng giám đốc: Là người có quyền cao nhất, quyết định và chỉ đạo mọi
hoạt động sản xuất - kinh doanh của Công ty và trực tiếp chịu trách nhiệm trước
Công ty, Bộ công nghiệp và Nhà nước.
- Phó tổng giám đốc điều hành kỹ thuật - thương mại: Phụ trách kỹ thuật
ty.
- Đảng uỷ, Công đoàn, đoàn thanh niên: Giáo dục công tác tư tưởng của
quần chúng, phát động phong trào thi đua để đẩy mạnh sản xuất, thực hiện hoàn
thành sản xuất kinh doanh, bảo vệ quyền lợi mà công nhân viên được hưởng đồng
thời duy trì nghĩa vụ của các thành viên.
Ngoài ra Công ty còn có một số bộ phận khác như: y tế, nhà ăn, nhà trẻ... để
duy trì các hoạt động thường xuyên, góp phần phát triển sản xuất.
Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty đuợc khái quát ở trang sau:
1.4. Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán.
1.4.1. Tổ chức bộ máy kế toán.
Bộ máy kế toán tại Công ty dệt kim Đông Xuân Hà Nội được tổ chức theo
hình thức tập trung với phòng kế toán là trung tâm thực hiện toàn bộ công tác kế
toán từ khâu thu nhận, xử lý và luân chuyển chứng từ đến khâu lập báo cáo, phân
tích hoạt động kinh tế và hướng dẫn kiểm tra kế toán trong toàn bộ đơn vị.
* Nhiệm vụ cụ thể của từng phần hành kế toán như sau:
- Kế toán trưởng: Là người chịu trách nhiệm chung về toàn bộ công tác kế
toán tài chính của Công ty, là người theo dõi quản lý và tổ chức điều hành bộ máy
Công ty trước Tổng giám đốc. Kế toán trưởng phân công nhiệm vụ cho từng phần
hành và có trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ của mình mà điều lệ tổ chức kế toán
đã ban hành.
- Hai phó phòng có nhiệm vụ hỗ trợ và đôn đốc các thành viên trên nguyên
tắc là người giúp việc cho kế toán trưởng.
- Kế toán thanh toán: Hạch toán chi tiết và tổng hợp tình hình thu, chi, tồn
quỹ tiền gửi ngân hàng của Công ty. Làm thủ tục thanh toán với khách hàng trong
và ngoài nước đồng thời theo dõi chi tiết công nợ.
- Kế toán nguyên vật liệu: Hạch toán chi tiết, tổng hợp nguyên vật liệu, công
cụ, dụng cụ, theo dõi sự biến động, xuất, nhập, tồn sai hỏng vật tư trong Công ty.
- Kế toán tiền lương và bảo hiểm xã hội (BHXH): Thanh toán tiền lương,
BHXH cho cán bộ công nhân viên trong Công ty.
- Kế toán giá thành: Tập hợp các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất
cùng yêu cầu về trình độ quản lý và kế toán cao, nên việc áp dụng hình thức sổ kế
toán Nhật ký - chứng từ là phù hợp. Bao gồm:
Chứng từ gốc và bảng phân bổ
Nhật ký-Chứng từ Số (thẻ) kế toán chi tiếtBảng kê
Bảng tổng hợp chi tiếtSổ cái
Báo cáo tài chính
- Sổ kế toán chi tiết: Sổ chi tiết về TSCĐ, vật liệu, chi phí kinh doanh, thanh
toán với người mua, người bán, sổ chi tiết doanh thu bán hàng, bảng tính và phân
bổ khấu hao, bảng phân bổ NVL- CCDC, bảng tính lương và BHXH...
- Sổ kế toán tổng hợp:
+ NK-CT số: 1,2,4,5,7,8,9,10.
+ Bảng kê số: 1,2,4,5,7,8,9,10,11.
+ Sổ cái các tài khoản mà Doanh nghiệp đã đăng ký sử dụng.
* Trình tự luân chuyển, ghi sổ kế toán tại Công ty.
Chú thích:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu kiểm tra
2. THỰC TRẠNG KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TẠI CÔNG
TY.
2.1. Đặc điểm của nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm.
Công ty Dệt kim Đông Xuân là một trong những Doanh nghiệp làm ăn
tương đối có hiệu quả của ngành Dệt - May Việt Nam. Sản phẩm của Công ty
không chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, mà còn đáp ứng nhu cầu của
nhiều khách hàng nước ngoài.
Điều đó đã khẳng định phần nào chất lượng sản phẩm của Công ty trong sự
cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường. Cùng với các đơn vị khác trong ngành
như Dệt Minh Khai, Dệt 8-3... cùng các sản phẩm dệt - may nhâp khẩu khác,
nhưng Công ty vẫn vươn lên khẳng định mình bằng chính chất lượng sản phẩm.
Do đặc điểm thành phẩm của Công ty chủ yếu là hàng tiêu dùng nên nó
Với các phương thức tiêu thụ phong phú sẽ giúp công ty mở rộng thị trường
tiêu thụ đẩy mạnh lượng hàng bán ra, nâng cao doanh thu và thị phần của Công ty
trên thị trường.
* Về phương thức thanh toán:
Công ty Dệt kim Đông Xuân cho phép hàng có thể thanh toán theo những
phương thức khác nhau sau đây:
- Thanh toán trực tiếp: Khách hàng nhận đủ số hàng cần mua và thanh toán
đầy đủ, trực tiếp số tiền hàng. Phương thức này chủ yếu áp dụng với các khách
hàng mua trực tiếp với số lượng ít và không thường xuyên.
- Khách hàng mua chịu: thường xảy ra với những khách hàng truyền thống,
có quan hệ mua bán lâu dài với Công ty. Thông thường thời gian chậm trả từ 10-15
ngày sau khi giao hàng. Đến khi khách hàng trả hết nợ cho Công ty thì quá trình
tiêu thụ mới coi là kết thúc.
- Khách hàng ứng trước tiền hàng: thường áp dụng với những khách hàng
lần đầu mua sản phẩm của Công ty.
- Phương thức hàng đổi hàng: sản phẩm của Công ty được tiêu thụ để đổi về
các sản phẩm khác của đơn vị mua, có thể là NVL, MMTB... có giá trị tương
đương đã thoả thuận giữa Công ty và đơn vị đó.
Ngoài ra để mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả kinh doanh Công
ty chấp nhận cho khách hàng trả lại hàng đã tiêu thụ do kém phẩm chất, không
đúng quy cách, chủng loại... đã ghi trong hợp đồng. Công ty còn thực hiện các biện
pháp khác như: giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại...
Tóm lại, bằng các phương thức thanh toán nhanh gọn, các chính sách giá cả
mềm dẻo, linh hoạt cùng những phương thức tiêu thụ hợp lý, Công ty Dệt kim
Đông Xuân đã thu hút được một số lượng lớn khách hàng trong và ngoài nước,
đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay với doanh số bán
hàng không ngừng tăng lên, đủ bù đắp các chi phí và có lãi, nâng cao thu nhập cho
Công ty , cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên trong đơn vị.
* Phương pháp tính giá vốn hàng bán ở Công ty.
Công ty áp dụng phương pháp tính giá thực tế bình quân gia quyền. Căn cứ
24.540+9.615
Giá thực tế của áo GHERUNING
XL xuất trong kỳ
= 32.155x10.200 = 327.981.000
2.2. HẠCH TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TẠI CÔNG TY.
2.2.1. Hạch toán ban đầu.
Trong công tác hạch toán tiêu thụ thành phẩm, Công ty Dệt kim Đông Xuân
sử dụng các loại chứng từ sau:
* Phiếu xuất kho:
Hiện nay Công ty đang sử dụng 3 mẫu chứng từ sau dùng cho nghiệp vụ
xuất kho thành phẩm đó là: "Phiếu xuất kho" được lập trong trường hợp xuất thành
phẩm để bán, "Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ" được lập trong trường hợp
xuất thành phẩm để bán, "Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ" được lập trong
trường hợp Công ty chuyển thành phẩm vào kho cửa hàng giới thiệu sản phẩm, cửa
hàng thời trang chờ tiêu thụ và "Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý" được lập trong
trường hợp thành phẩm của Công ty được chuyển vào kho của đại lý chờ tiêu thụ.
Cả 3 chứng từ trên đều do thủ kho ở các xí nghiệp lập khi phát sinh nghiệp
vụ xuất kho.
- Phiếu xuất kho được lập làm 3 liên:
Liên 1: Lưu tại quyển gốc
Liên 2: Thủ kho giữ để ghi thẻ kho
Liên 3: Người nhận giữ để ghi sổ kế toán bộ phận sử dụng.
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ được lập làm 3 liên:
Liên 1: Lưu tại quyển
Liên 2: Giao cho người vận chuyển
Liên 3: Dùng thanh toán nội bộ.
- Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý được lập làm 3 liên:
Liên 1: Lưu tại quyển
Liên 2: Giao cho khách hàng
Liên 3: Dùng để thanh toán.
(Ký, dấu)
Đơn vị thu hộ
(Ký, dấu)
Ngoài ra để theo dõi số lượng hàng bán cũng như doanh thu bán hàng thì tại
cửa hàng giới thiệu sản phẩm, cửa hàng thời trang, cửa hàng đại lý Công ty có yêu
cầu nhân viên bán hàng tại các cửa hàng ghi bảng kê bán lẻ hàng hoá cho từng
ngày. Mỗi một tờ bảng kê được ghi cho từng ngày riêng biệt, mỗi một mặt hàng
trên bảng kê phải ghi rõ cả số lượng, đơn giá của mặt hàng đó. Mẫu bảng kê bán lẻ
hàng hoá, dịch vụ như sau: