Những ông trùm tài chính - Pdf 77

Giới thiệu
- 1 -

NHỮNG

ÔNG TRÙM TÀI CHÍNH
NHỮNG ÔNG TRÙM TÀI CHÍNH
- 2 -
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Chúng tôi luôn mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của quý vị độc giả
để sách ngày càng hoàn thiện hơn.

Góp ý về sách, liên hệ về bản thảo và bản dịch:
Liên hệ về dịch vụ bản quyền:

 
 
 
 


NHỮNG ÔNG TRÙM TÀI CHÍNH
Bản quyền tiếng Việt © 2010 Công ty Sách Alpha

Không phần nào trong xuất bản phẩm này được phép sao chép hay phát hành dưới bất kỳ hình thức hoặc phương tiện nào mà
không có sự cho phép trước bằng văn bản của Công ty Sách Alpha.

Bìa: Nguyễn Ngọc Thùy
Biên tập viên Alpha Books: Bùi Thu Hà
Giới thiệu
- 3 -
 
LIAQUAT AHAMED NHỮNG ÔNG TRÙM
TÀI CHÍNH

Phương Lan – Kim Ngọc dịch
Trương Đức Hùng - hiệu đính


Lords of Finance
mà chúng tôi
lấy tiêu đề là
Những ông trùm tài chính
đưa ra một cái nhìn mới về bản
chất của cuộc khủng khoảng toàn cầu và còn là lời nhắc nhở chúng ta về
những tác động to lớn tiềm ẩn từ các quyết định của một số ít chủ ngân
hàng, sai lầm của họ, và về những hậu quả khủng khiếp có thể xảy ra ảnh
hưởng đến cả nhân loại.
NHỮNG ÔNG TRÙM TÀI CHÍNH
- 6 -
Các ông trùm tài chính tạo nên nhan đề cuốn sách này là bốn ông chủ
ngân hàng trung ương chi phối thời kỳ sau chiến tranh: Benjamin Strong của
Cục Dự trữ Liên Bang Hoa Kỳ tại New York; Montagu Norman, lãnh đạo lâu
đời của Ngân hàng nước Anh; Émile Moreau của Ngân hàng nước Pháp; và
Hjalmar Schacht, lãnh đạo Ngân hàng Quốc gia Đức. Vào những năm 1920,
bốn nhân vật này mang trong mình đầy những bí ẩn và danh tiếng; đôi khi
họ được mô tả như là “câu lạc bộ độc quyền nhất của thế giới.”
Cuộc kh
ủng hoảng vừa qua năm 2008-2009 được so sánh với cuộc Đại
suy thoái 1929-1933 với nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có vài sự
khác biệt. Cuộc khủng hoảng hiện tại năm 2008-2009 càng làm cho
người ta quan tâm nhiều hơn tới cuộc Đại suy thoái trong quá khứ. Cuộc
Đại suy thoái tạo ra sự tàn phá đặc biệt nghiêm trọng. Như Liaquat
Ahamed viết: “Trong suốt 3 năm khủng hoảng đó, GDP thực tế trong
những n
ền kinh tế lớn đã giảm 25%, một phần tư nam giới trong độ tuổi
lao động mất việc làm… Suy thoái kinh tế đã tạo ra sự khốn khó chưa từng
thấy ở khắp nơi trên thế giới, từ những thảo nguyên bao la ở Canada tới
những thành phố đông đúc chật chội ở Châu Á.”

1929 là một ví dụ điển hình.
Không giống như bất cứ một sự biến động kinh tế nào đang diễn ra ngày
nay, cuộc đại khủng hoảng và cột mốc 1929 vẫn được xem là bước ngo
ặt
lớn của biến động tài chính thế giới. Một câu chuyện kể đầy lôi cuốn, hấp
dẫn với những sự kiện rất ít người biết đến, nhưng câu chuyện hậu trường
của nền tài chính thế giới –
Những ông trùm tài chính
là môt lời nhắc nhở
hiệu nghiệm về những tác động to lớn của những quyết định của các chủ
ngân hàng, về sự sai lầm của họ, và về những hậu quả khủng khiếp có thể
xảy ra ảnh hưởng đến cả nhân loại.
Những ông trùm tài chính
của Ahamed được viết dựa trên những công
trình nghiên cứu của các kinh tế gia danh tiếng như Milton Friedman, Anna
Schwartz, Charles Kindleberger, Barry Eichengreen và Peter Temin. Nhưng
Ahamed khác biệt ở chỗ ông chỉ ra những con người, những cá nhân cụ thể
và những lực lượng chính trị đã gây ra cuộc khủng hoảng.
Không giống như hầu hết các tác phẩm viết về nguyên nhân của cuộc
đại khủng hoảng 1929, “
Những ông trùm tài chính
được đông đảo độc giả
đón nhận bởi tình tiết lịch sử hiện thực nhưng vẫn đậm tính văn học” như
lời Niall Ferguson viết. Không những thế,
Những ông trùm tài chính
còn
kể lại câu chuyện mang tính bi kịch của 4 ông trùm tài chính, những
người không thể nhìn xa hơn khuôn khổ thông thường của thời kỳ đó.
Cuốn sách là một bức tranh lịch sử đầy cuốn hút, đẹp đẽ…
Xin trân trọng giới thiệu với độc giả một tác phẩm đồ sộ và chi tiết về

2.
Người ₫àn ông kỳ dị và cô ₫ộc ........................................................................................... 38
3. Vị phù thủy trẻ tuổi.............................................................................................................. 52
4. Đôi tay tin cậy ..................................................................................................................... 65
5. Vị thanh tra tài chính ........................................................................................................... 82
6. Những thống chế tiền tệ...................................................................................................... 96 Phần II.
SAU TRẬN ĐẠI HỒNG THỦY 1919 - 1923
7.
Những cảm hứng ₫iên rồ ....................................................................................................124
8. Chú Shylock ........................................................................................................................160
9. Di sản man rợ .....................................................................................................................189

NHỮNG ÔNG TRÙM TÀI CHÍNH
- 10 -
Phần III.
GIEO CƠN GIÓ MỚI 1923 - 1928
10.
Cây cầu nối giữa hỗn loạn và hy vọng .............................................................................216
11. Khởi ₫ầu Dawes ................................................................................................................232
12. Vị bộ trưởng vàng.............................................................................................................260
13. Cuộc chiến ................................................................................................................................288
14.
Những ₫ợt gió dữ ₫ầu tiên ...............................................................................................321
15. Một hớp nhỏ whisky......................................................................................................... 346

Phần IV.
MỘT CƠN BÃO KHÁC 1928 — 1933

chịu nhiều áp lực nặng nề trong những tháng vừa qua. Theo
lời khuyên của bác sĩ, ông đã tạm gác lại công việc và đi nghỉ ở nước
ngoài để thay đổi không khí.” Vị thống đốc đó là Montagu Collet
Norman, D.S.O – không như mọi người vẫn lầm tưởng, ông đã nhiều
lần từ chối vinh h
ạnh được phong tước, vậy nên, ông chẳng phải là Hầu
tước Montagu Norman hay Huân tước Norman gì hết. Dẫu vậy, ông vẫn
tự hào được mang mấy chữ D.S.O sau tên mình – Distinguished Service
Order – Huân chương Công trạng Xuất sắc, huân chương cao quý thứ
nhì của quân đội trao thưởng cho một quân nhân vì lòng dũng cảm
vượt bậc.
Norman vốn chán ghét báo giới đến tận cổ và nổi tiếng vì những gì ông
sẵn sàng làm để thoát khỏi con mắt tọc mạch của các phóng viên – đ
i du
lịch bằng tên giả; nhảy xe lửa; thậm chí trong một lần, ông còn trèo qua
thành một chiếc tàu biển trên thang dây giữa lúc sóng to gió lớn. Tuy
nhiên, trong dịp này, khi chuẩn bị lên con tàu
Duchess of York
để tới
Canada, ông đã bày tỏ một thái độ cởi mở đến không ngờ. Với năng lực nói
năng tuyệt khéo được trời phú cho những con người thuộc tầng lớp của
ông và những người sinh ra ở nước Anh, ông tuyên bố với các phóng viên
đang bu kín trên cảng rằng, “Tôi cảm thấy mình cần nghỉ ngơi chút ít bởi
thời gian qua tôi đã gặp nhiều chuyện căng thẳng. Do sức khỏe vẫn ch
ưa
được hồi phục hoàn toàn nên tôi nghĩ một chuyến du lịch trên con tàu
xinh đẹp này sẽ tốt cho mình.”
N
NHỮNG ÔNG TRÙM TÀI CHÍNH
- 14 -

(Banque de France) đã hợp thành bộ tứ bốn thống đốc ngân hàng Trung
ương đảm nhận sứ mệnh tái thiết guồng máy tài chính thế giới sau Chiến
tranh Thế giới thứ Nhất.
Song đến giữa năm 1931, chỉ còn Norman là thành viên duy nhất của bộ
tứ trụ lại. Strong đã mất năm 1928 ở tuổi 55, Moreau nghỉ hưu năm 1930,
và Schacht từ chức n
ăm 1930 do xung đột với bộ máy chính phủ và quay
sang ve vuốt Adolf Hitler và đảng Đức Quốc xã. Do vậy trọng trách lãnh
đạo thế giới tài chính đã được đặt trọn lên vai người đàn ông Anh quốc
Giới thiệu
- 15 -
tính tình màu mè nhưng bí ẩn này, con người có nụ cười “tinh nghịch,”
phong thái hư hư thực thực đầy chất kịch, với bộ râu của Van Dyke
1
, và
trang phục kín đáo: chiếc mũ rộng vành, tấm áo choàng dài, và chiếc kim
cài cà vạt bằng ngọc lục bảo lấp lánh.
Đối với vị thống đốc ngân hàng quyền lực nhất thế giới thì việc bị suy
nhược thần kinh trong khi nền kinh tế toàn cầu đang phải trải qua năm
thứ hai của một cuộc suy thoái chưa từng có tiền lệ trước đó quả là một
điều b
ất hạnh thật sự. Nền sản xuất ở hầu hết các quốc gia đều đã sụp đổ -
ở hai quốc gia bị thiệt hại nặng nề nhất, Mỹ và Đức, quy mô sản xuất đã
thu hẹp tới 40%. Các nhà máy trên khắp thế giới công nghiệp - từ những
xưởng lắp ráp ô tô tại Detroit cho đến những xưởng thép ở Ruhr, từ những
xưởng dệt lụa ở Lyons cho
đến những xưởng đóng tàu ở Tyneside - đều
đóng cửa im ỉm, nếu không thì cũng chỉ hoạt động cầm chừng. Đứng trước
mức cầu sụt giảm, các doanh nghiệp đã phải cắt giảm giá thành sản phẩm
tới 25% tính từ thời điểm kinh tế bắt đầu suy thoái.

nghèo đói đang bủa vây các thành phố để lên đường hòng tìm ki
ếm một
loại – bất kỳ loại – công việc nào.
Thất nghiệp dẫn đến bạo lực và nổi loạn. Ở Mỹ, những cuộc cướp bóc
lương thực, thực phẩm xảy ra như cơm bữa ở Arkansas, Oklahoma, và
khắp các bang ở miền Trung và Tây Nam. Ở Anh, công nhân mỏ tổ chức
biểu tình, rồi đến công nhân xưởng bông và các thợ dệt. Berlin gần như rơi
vào tình trạng nội chiế
n. Trong suốt các cuộc bầu cử vào tháng Chín 1930,
đảng Đức Quốc xã, lợi dụng sự sợ hãi và chán nản cùng cực của dân thất
nghiệp và chiêu bài buộc tội tất cả những lực lượng khác – từ quân Đồng
minh đến những người cộng sản và dân Do Thái – vì đã gây ra bao đau
khổ cho nước Đức, đã giành được gần 6,5 triệu phiếu bầu, nhờ đó tăng số
ghế của đảng này trong Qu
ốc hội Đức từ 12 lên 107 ghế và đưa nó thành
đảng phái lớn thứ hai góp mặt tại Quốc hội sau đảng Dân chủ Xã hội.
Trong khi đó trên các đường phố, các nhóm người theo đảng Đức Quốc xã
và các nhóm người cộng sản đụng độ, xô xát với nhau hàng ngày. Còn ở
Bồ Đào Nha, Brazil, Argentina, Peru và Tây Ban Nha, đảo chính là tình
trạng phổ biến.
Mối đe dọa kinh tế lớn nhất hiện nay đến từ hệ thống ngân hàng đ
ang
sụp đổ. Tháng Chín năm 1930, Bank of United States (dù mang tên như
vậy song đây là một ngân hàng tư nhân không có vị thế chính thức nào)
sụp đổ, trở thành vụ phá sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ,
làm đóng băng khoảng 200 triệu đô-la trong các tài khoản tiền gửi.
Tháng Năm năm 1931, ngân hàng lớn nhất nước Áo, Creditanstalt, ngạc
nhiên thay, chính là sở hữu của gia tộc Rothschild, với giá trị tài sản lên
tới 250 triệu đô-la, cũ
ng đành đóng cửa. Ngày 20 tháng Sáu, tổng thống

và rằng trật tự xã hội hiện thời của chúng ta sẽ không thể tồn tại qua giai
đoạn này.” Nhà sử học Arnold Toynbee, ngườ
i có kiến thức sâu sắc về sự
thịnh suy của các nền văn minh, đã viết trong bài bình luận thường niên về
các sự kiện trong năm cho Học viện Hoàng gia về sự vụ quốc tế như sau,
“Vào năm 1931, đàn ông và phụ nữ trên khắp thế giới đã suy ngẫm nghiêm
túc và bàn luận thẳng thắn rằng hệ thống xã hội phương Tây có thể sẽ sụp
đổ và ngừng hoạt
động.”
Suốt mùa hè năm ấy, một lá thư được Montagu Norman viết từ vài
tháng trước đó để gửi đến vị đồng nghiệp của ông tại Ngân hàng Trung
ương Pháp là Clément Moret, đã được đăng tải trên mặt báo. “Trừ phi có
sự can thiệp của những biện pháp cứu nguy quyết liệt, bằng không hệ
thống tư bản trên khắp thế giới văn minh sẽ đổ vỡ chỉ trong một nă
m,”
Norman tuyên bố, đế thêm chất giọng cay độc ông “ưu ái” dành riêng cho
NHỮNG ÔNG TRÙM TÀI CHÍNH
- 18 -
người Pháp, “Tôi mong rằng lời tiên đoán này sẽ được lưu lại để phục vụ
công tác khảo cứu trong tương lai.” Người ta còn đồn đại rằng trước ngày
lên đường sang Canada nghỉ dưỡng, ông đã đề xuất việc in sổ lương thực
trong trường hợp đất nước phải quay về với nền kinh tế hàng đổi hàng do
tác động từ sự sụp đổ tiền tệ trên khắp châu Âu.
Trong nhữ
ng thời điểm khủng hoảng, các thống đốc ngân hàng Trung
ương đều tin rằng việc làm khôn ngoan hơn cả là tuân theo lời răn mà các
bà mẹ vẫn khuyên bảo con cái mình suốt bao thế kỷ qua: “Biết thì thưa
thốt, không biết thì dựa cột mà nghe.” Cách làm này giúp tránh được tình
thế tiến thoái lưỡng nan xảy ra như cơm bữa với các viên chức ngành tài
chính đang phải ứng phó với trạng thái hoảng sợ - họ có thể đưa ra những

điểm của ông về nhiều vấn đề. Kể từ ngày chiến tranh kết thúc, ông đã
luôn là người kịch liệt phản đối việc đo đếm chi li từng khoản bồi thường
chiến tranh mà nước Đức phải trả. Trong suốt nhữ
ng năm 1920, ông còn
liên tục báo động rằng thế giới đang thiếu hụt nguồn dữ trự vàng. Và từ
những ngày đầu tiên, ông cũng đã bày tỏ lo ngại về hiểm hoạ từ bong bóng
thị trường chứng khoán ở Mỹ.
Song vẫn có một vài tiếng nói đơn lẻ khăng khăng cho rằng chính ông
và các chính sách mà ông theo đuổi, nhất là niềm tin cứng nhắc, gần như
mang màu sắc thần học c
ủa ông về những lợi ích của chế độ bản vị vàng, là
nguyên nhân dẫn đến thảm họa kinh tế đang tàn phá phương Tây. Một
trong số những con người kể trên là John Maynard Keynes. Một người
khác nữa là Winston Churchill. Chỉ một vài ngày trước khi Norman lên
đường sang Canada trong chuyến nghỉ bất đắc dĩ, Churchill, người đã mất
gần hết số tiền tiết kiệm trong vụ sụp đổ Phố Wall hai năm về trướ
c, đã
viết thư từ Biarritz gửi cho người bạn đồng thời là cựu thư ký của mình,
Eddie Marsh, như sau, “Tất cả những người tôi gặp dường như đều lờ mờ
cảm thấy có điều gì đó khủng khiếp sắp xảy ra trên thị trường tài chính...
Nếu điều này trở thành sự thật, tôi hy vọng chúng ta sẽ treo cổ gã Montagu
Norman lên ngay tức khắc. Chắc chắn tôi sẽ
tố cáo y chính là kẻ đồng loã
với mình.”
SỰ SỤP ĐỔ của nền kinh tế thế giới kéo dài từ năm 1929 đến năm 1931
- ngày nay chỉ được gọi bằng cái tên ngắn gọn Cuộc Đại suy thoái - là sự
kiện kinh tế có ảnh hưởng sâu sắc nhất trong thế kỷ XX. Không có đất
nước nào thoát khỏi nanh vuốt của nó; trong suốt hơn mười năm ròng,
tình trạng bất ổn mà nó gây ra từ những ngày kh
ởi đầu đã bao trùm khắp

nước Mỹ trỗi dậy với sức mạnh kinh tế ngày càng dồi dào hơn.
Thời ấy các chính phủ đều tin rằng tốt hơn hết là giao các vấn đề tài
chính cho các thống đốc ngân hàng Trung ương giải quyết; do vậy sứ mệnh
khôi phục nền tài chính thế giới đã rơi vào tay của bốn ngân hàng Trung
ương thuộc bốn đất nước v
ới tiềm lực khả dĩ nhất: Anh, Pháp, Đức và Mỹ.
Cuốn sách này sẽ lần lại những nỗ lực của các thống đốc ngân hàng
Trung ương kể trên nhằm tái thiết hệ thống tài chính thế giới sau Chiến
tranh Thế giới thứ nhất. Nó mô tả làm thế nào mà chỉ trong một giai đoạn
ngắn ngủi giữa thập kỷ 1920, cố gắng của họ đã tỏ ra có kế
t quả: tiền tệ thế
giới đã được bình ổn, dòng vốn bắt đầu luân chuyển tự do khắp toàn cầu, và
tăng trưởng kinh tế hồi phục trở lại. Nhưng ẩn bên dưới cái vỏ ngoài thịnh
vượng của các thành phố giàu có, những vết rạn nứt bắt đầu xuất hiện
trong chế độ bản vị vàng, thứ được mọi người tin tưởng sẽ là chi
ếc ô che chở
cho trạng thái ổn định hóa ra chỉ là một manh áo bó chật ních. Những
chương cuối cùng của cuốn sách sẽ mô tả những nỗ lực gắng gượng điên
cuồng và vô ích sau chót của các thống đốc ngân hàng Trung ương khi họ
Giới thiệu
- 21 -
vật lộn để kéo nền kinh tế thế giới khỏi trượt sâu vào vòng xoáy sụt giảm
của cuộc Đại suy thoái.
Những năm 1920 là thời đại mà các thống đốc ngân hàng Trung ương
được đặt vào tay quyền lực khổng lồ và uy tín to lớn, rất giống ngày nay.
Đặc biệt là bốn nhân vật thống trị hoàn toàn câu chuyện này: tại Ngân
hàng Trung ương Anh quốc là một Montagu Norman bí ẩn và dễ bị kích
động; tại Ngân hàng Trung ương Pháp là một Émile Moreau, đầ
u óc sặc
mùi bài ngoại và hoài nghi; tại Ngân hàng Trung ương Đức là một

- 22 -
ra lệch tông so với một nước Đức thất trận yếu đuối mà ông là người đại
diện, song có lẽ ông cũng chỉ đơn thuần bộc lộ một sự thật được giấu kín
về tâm trạng thực của đất nước này đang ẩn sâu bên trong mà thôi.
Còn có gì đó thật chua xót trong sự đối nghịch giữa quyền lực mà bốn
người đàn ông này đã từng thâu tóm và thực tế r
ằng họ đã gần như biến
mất hoàn toàn khỏi những trang sử. Một thời được báo chí xưng tụng như
“Câu lạc bộ độc nhất vô nhị trên thế giới,” bốn cái tên đã từng vang dội đến
thế, bị vùi lấp dưới đống gạch vụn của thời gian, giờ đã không còn chút ý
nghĩa nào đối với mọi người.
Thập kỷ 1920 là quãng thời gian của s
ự chuyển đổi. Tấm màn hạ xuống
báo hiệu một thời đại đã khép lại và một thời đại mới đã mở ra. Các ngân
hàng Trung ương vẫn còn thuộc sở hữu tư nhân, mục tiêu chủ chốt của họ
là bảo toàn giá trị tiền tệ và dập tắt những cuộc hoảng loạn liên quan đến
hệ thống ngân hàng. Họ mới chỉ bắt đầu nghiêng theo ý niệm rằ
ng chính
họ là lực lượng nắm giữ trọng trách bình ổn nền kinh tế.
Trong suốt thế kỷ XIX, các thống đốc của Ngân hàng Trung ương Anh
quốc và Ngân hàng Trung ương Pháp là những nhân vật đứng trong bóng
tối, nổi danh trong giới tài chính song lại gần như vô hình trong con mắt
người đời. Trái lại, vào thập kỷ 1920, cũng khá giống thời nay, thống đốc
các ngân hàng Trung ương trở thành tâm điểm chú ý của công luận.
Những lời đồ
n đại về các quyết sách và cuộc họp kín của họ đăng nhan
nhản trên các tờ nhật báo trong khi họ phải đối mặt với vô vàn sự vụ và
vấn đề kinh tế khá giống với những gì mà những người kế tục họ đang phải
giải quyết ngày nay: biến động trên các thị trường chứng khoán, đồng tiền
bất ổn, và các dòng vốn ồ ạt chảy từ một trung tâm tài chính này sang m

ối dự phần vào một khoản vay
dành cho nước Đức dựa trên luận điểm người Đức là “thứ dân hạng hai”
hoặc phản đối việc bầu người Do Thái hoặc người Thiên Chúa giáo vào Ủy
ban Giám thị Harvard vì “một gã Do Thái thì trước nhất là một người
Do Thái, thứ nhì mới là người Mỹ, còn một kẻ theo Thiên Chúa giáo
La Mã, tôi e rằng, thường sắm vai con chiên xong rồi mới sắm đến vai
người Mỹ.” Trên lĩnh vực tài chính, trong suố
t quãng thời gian từ cuối thế
kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, dù ở London hay New York, Berlin hay Paris,
đều có một sự phân chia rành rõ. Một bên là các hãng ngân hàng của dân
Anglo-Saxon: J.P. Morgan, Brown Brothers, Barings; bên kia là các hãng
ngân hàng có dính dáng tới dân Do Thái: bốn chi nhánh ngân hàng của gia
tộc Rothschild, Lazards, hệ thống ngân hàng Do Thái Đức hùng mạnh của
Warburgs và Kuhn Loeb, và những thành phần không theo phe nào như
Ngài Ernest Cassel. Mặc dù dân Anglo-Saxon theo đạo Tin lành, giống như
nhiều người thời nay, thường ghét dân Semite
2
như xúc đất đổ đi, song hai

2
Người Semite là những người thuộc nhóm các chủng tộc nói tiếng Semitic bao gồm người
Do Thái, người A Rập, người Aramean, người Cathaginia, người Ethiopia và người Phoenicia.
NHỮNG ÔNG TRÙM TÀI CHÍNH
- 24 -
lực lượng này vẫn đối đãi nhau bằng một lòng tôn trọng dè dặt. Nói gì thì
nói, giới này cũng toàn những nhà trưởng giả coi khinh giới con buôn như
rơm như rác. Đó là một xã hội có thể trở nên thiển cận và tự mãn, thờ ơ
với những vấn đề như thất nghiệp và nghèo đói. Chỉ ở Đức – và đó cũng là
một phần trong câu chuyện của chúng ta – thì những dòng chảy định ki
ến

suốt cuộc Đại khủng hoảng, việc cần làm trước nhất là hiểu
được thế nào
là một ngân hàng Trung ương và trang bị thêm một chút kiến thức về
Giới thiệu
- 25 -
phương thức vận hành của nó. Các ngân hàng Trung ương là những tổ
chức tài chính cực kỳ bí ẩn, chi tiết đầy đủ về các hoạt động bên trong lòng
những tổ chức này tinh vi bí hiểm tới mức rất ít người ngoài, ngay cả các
nhà kinh tế học, có thể hiểu hết được. Nói một cách cô đọng nhất thì ngân
hàng Trung ương là một ngân hàng được trao độc quyền đối với việc phát
hành tiền tệ.
3
Quyền lực đó cho phép ngân hàng Trung ương kiểm soát giá
tín dụng - chính là lãi suất - do đó có thể quyết định lượng tiền luân
chuyển trong nền kinh tế.
Mặc dù đóng vai trò là những tổ chức quốc gia quyết định chính sách
tín dụng của cả đất nước, song ở thời điểm năm 1914, hầu hết các ngân
hàng Trung ương đều thuộc sở hữu tư nhân. Vì vậy các ngân hàng này
chiếm cứ một địa h
ạt phức hợp kỳ dị, về cơ bản nó có nghĩa vụ giải trình
trước các giám đốc, chủ yếu là những người cũng hoạt động trong ngành
ngân hàng, chịu trách nhiệm trả cổ tức cho các cổ đông, nhưng lại được
ban cho những quyền lực tối thượng để phục vụ các mục đích hoàn toàn
phi lợi nhuận. Tuy nhiên, không giống như ngày nay, khi nhiệm vụ của các
ngân hàng Trung ương
được luật pháp quy định rõ là bảo đảm sự bình ổn
giá cả và nỗ lực đạt đến trạng thái toàn dụng nhân công, vào năm 1914,
một mục tiêu tối quan trọng, thực chất là là quan trọng hơn tất thảy, của
các tổ chức này là bảo toàn giá trị tiền tệ.
Ở thời điểm đó, tất cả những đồng tiền chủ chốt đều dựa trên chế độ


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status