ĐÁP ÁN
HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Câu 1 (4Đ): Làm rõ nhận định: “ Hầu hết các cách tiếp cận, định nghĩa của Hồ Chí
Minh về chủ nghĩa xã hội được diễn đạt, trình bày một cách dung dị, mộc mạc, dễ hiểu
và mang tính phổ thông, đại chúng”. (Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh- NXB Chính trị
quốc gia Hà Nội – 2005, trang 57).
Nội dung trả lời Điểm
* Giải thích nhận định:
Hồ Chí Minh luôn nói, viết về CNXH (một xã hội mà cả nhân loại cũng như dân
tộc ta đang hướng tới) bằng những từ ngữ hết sức gần gũi và dễ hiểu. Chính điều đó đã
làm cho đa số nhân dân dễ dàng hiểu được CNXH là gì? Bản chất của CNXH? Vì sao
nước ta phải đi theo con đường XHCN?
* Nguyên nhân:
- Do trình độ nhận thức của người dân Việt Nam lúc bấy giờ:
+Trình độ nhận thức của người dân Việt Nam dưới chế độ phong kiến thuộc địa hết
sức thấp kém (Do chính sách ngu dân của thực dân Pháp, lấy dẫn chứng) Nếu dùng
những từ ngữ khoa học, những thuật ngữ khó hiểu thì đại đa số nhân dân không thể tiếp
thu được => Bác đã diễn đạt về CNXH bằng những từ ngữ hết sức gần gũi, dung dị, dễ
hiểu, mộc mạc.
+ Nhân dân là đối tượng nhận thức chủ yếu mà chủ tịch Hồ Chí Minh muốn truyền
đạt về chủ nghĩa xã hội. Chính vì thế các từ ngữ mà Bác sử dụng phải mang tính nhân
dân, mang tính đại chúng để cho mọi người đều có thể hiểu về CNXH một cách dễ
dàng nhất.
- Do những nhân tố chủ quan của chủ tịch Hồ Chí Minh:
+ Trình độ nhận thức: Bác sinh ra trong một gia đình trí thức, ngay từ nhỏ đã được
đi học để tiếp thu những tri thức mới của văn hoá Đông, Tây làm cho trình độ nhận
thức của Bác ngày càng cao. Nhờ quá trình học hỏi ở trường lớp, đặc biệt là quá trình
tự học khi Bác bôn ba ở nước ngoài đã giúp Bác có tầm hiểu biết ngày càng sâu rộng.
Vì vậy, Bác rất dễ dàng hiểu và diễn đạt lại những tri thức khô cứng trong sách vở cho
mọi người hiểu.
0,5 Đ
+ Ai làm chủ…
+ Nền tảng của khối đại đoàn kết (tư tưởng đoàn kết rộng rãi, thể hiện rõ tính giai
cấp).
(3,5Đ)
1,0 Đ
- Về kinh tế: CNXH có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện
đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, không ngừng nâng cao đời sống nhân
dân. (thể hiện rõ sự vận dụng quy luật về sự phù hợp của QHSX- LLSX…)
- Về văn hoá: CNXH là một xã hội phát triển cao về văn hoá, đạo đức, người với
người là bạn bè, đồng chí, mọi người dân được giải phóng và phát triển toàn diện. (Vì
con người)
- Về xã hội: CNXH là một xã hội công bằng hợp lý. Các dân tộc đều đoàn kết, bình
đẳng, miền núi tiến kịp miền xuôi. (thể hiện một xã hội văn minh, tiến bộ)
- Lực lượng xây dựng xã hội: CNXH là công trình tập thể, của nhân dân, do nhân
dân tự xây dựng lên dưới sự lãnh đạo của Đảng. (đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên
minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam).
Kết luận:
Những đặc trưng bản chất trên là hình thức thể hiện một hệ thống giá trị vừa kế thừa
di sản của quá khứ, vừa được sáng tạo mới trong qua trình xây dựng CNXH. => mang
tính hiện thực và nhân đạo.
2. Đảng và Nhà nước ta vận dụng và phát triển quan điểm của Hồ Chí Minh về
đặc trưng của CNXH.
- Ngay từ đầu Đảng ta đã xác định: Hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân,
đưa cả nước quá độ lên CNXH và luôn giương cao ngọn cờ “độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH”. Trong các kỳ đại hội của Đảng đều ít nhiều đề cập đến đặc trưng của CNXH.
Tuy nhiên đến đại hội VII với cương lĩnh xây dựng đất nước năm 1991 Đảng ta đã Nhận
thức rõ hơn về chủ nghĩa xã hội và đưa ra 6 đặc trưng bản chất của CNXH. Các đại hội
VIII, IX, X tiếp tục khẳng định và phát triển những đặc trưng đó.
- 6 Đặc trưng của CNXH theo Đại hội Đảng lần thứ VII:
+ CNXH do nhân dân lao động làm chủ
chứng, nhân cách và phẩm chất cáo đẹp.
2. Giải thích tại sao chủ nghĩa Mác- Lê nin là nguồn gốc lý luận trực tiếp quyết
định bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ rất nhiều nguồn gốc khác nhau được
phân chia thành: nguồn gốc lý luận, nguồn gốc thực tiễn; nguồn gốc trực tiếp, nguồn
gốc gián tiếp; nguồn gốc chủ quan và khách quan. Trong đó nguồn gốc lý luận là tinh
hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là chủ nghĩa Mác- Lênin.
- Chủ nghĩa Mác- Lênin là một hệ thống thế giới quan và phương pháp luận khoa
học về các lĩnh vực của thế giới. Nó bao gồm các bộ phận: Triết học Mác- Lênin, kinh
tế chính trị Mác- Lênin và CNXH khoa học. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã học tập và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Bác đã nắm bắt
1,0 Đ
3,0 Đ
cái hồn, cái cốt lõi của chủ nghĩa Mác- Lênin, học phương pháp làm việc biện chứng
của nó. Bác dặn: “Hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa”.
Chủ nghĩa Mác- Lênin chính là cơ sở, nền tảng cho thế giới quan và phương pháp luận
Hồ Chí Minh, quyết định bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Khi đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, ở Hồ Chí Minh đã có sự thay đổi mang tính
chất bước ngoặt (chuyển biến từ: người yêu nước sang người cộng sản, từ chủ yêu nước
sang chủ nghĩa quốc tế vô sản) làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh theo hệ tư tưởng của chủ
nghĩa Mác- Lênin.=> tìm ra con đường đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam tới thắng lợi
(lấy dẫn chứng cụ thể).
Câu 4 (4Đ): Phân tích nguyên tắc xác định bước đi và biện pháp xây dựng chủ nghĩa
xã hội của Hồ Chí Minh. Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng những nguyên tắc này như
thế nào trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay ?
Nội dung trả lời Điểm
1. Phân tích hai nguyên tắc để xác định bước đi và biện pháp xây dựng CNXH của
Hồ Chí Minh.
- Nguyên tắc 1: xây dựng CNXH là một hiện tượng phổ biến mang tính quốc tế, cần
quán triệt nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin về xây dựng chế độ mới, có thể
qua nhiều chiến tranh, tàn dư phong kiến vẫn còn…Đảng và Nhà nước ta đã xác định xoá
bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp để xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Mặc dù đầu những năm 90, CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ nhưng
đãng và nhà nước ta vần kiên trì đi theo con đường CNXH và quyết tâm đi theo con đường
ấy bằng lối đi riêng mang bản sắc Vịêt Nam. Bên cạnh đó chúng ta cũng không quên học
hỏi các nước anh em như Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba…để đưa ra những đường lối đúng
đắn hơn. Sở dĩ chúng ta không từ bỏ mục tiêu XHCN vì nó phù hợp với nguyện vọng của
đại đa số nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ, giúp đỡ.
Thành tựu kinh tế xã hội sau 15 năm đổi mới đã chững minh cho tính đúng đắn của
con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Có được điều đó là do chúng ta đã biết vận
dụng đúng nguyên tắc xây dựng bước đi và biện pháp xây dựng CNXH của Hồ Chí Minh.
2,0 Đ
Câu 5 ((4Đ). Phân tích luận điểm: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn ở các
nước đang đấu tranh giành độc lập dân tộc” của Hồ Chí Minh. Đảng và Nhà nước ta đã
vận dụng quan điểm này như thế nào trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam hiện nay ?
Nội dung trả lời Điểm
1. Phân tích luận điểm
- Chủ nghĩa dân tộc chân chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa yêu nước
và tinh thần dân tộc chân chính gắn với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, khác với chủ nghĩa
dân tộc hẹp hòi, sô vanh…
- Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn ở các nước đang đấu tranh giành độc lập
dân tộc vì:
+ Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Mác- Lênin: đấu tranh giữa giai cấp bị trị và
thống trị là một động lực phát triển của xã hội có giai cấp.
+ Người phân tích mối quan hệ giai cấp trong xã hội thuộc địa và kết luận:
Ở các nước thuộc địa mâu thuẫn cơ bản, bao trùm nhất là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa
đế quốc + bè lũ tay sai với toàn thể nhân dân thuộc địa.
=>Các giai cấp vẫn có sự tương đồng lớn, dù là địa chủ hay nông dân đều chịu
Nội dung trả lời Điểm
1. Phân tích tính sáng tạo của Hồ Chí Minh trong luận điểm
- Quan điểm của Quốc tế cộng sản: “Chỉ có thể thực hiện được hoàn toàn công
cuộc giải phóng các nước thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước
chính quốc”. (Mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải
phóng dân tộc ở thuộc địa là mối quan hệ chính (CMVS chính quốc)- phụ (CMGPDT
thuộc địa) =>Làm giảm tính chủ động, sáng tạo của cách mạng thuộc địa).
- Quan điểm của Hồ Chí Minh:
+ Do nhận thức được các dân tộc thuộc địa và giai cấp vô sản ở chính quốc đều có
kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc (con đỉa 2 vòi) nên có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Đó là quan hệ bình đẳng chứ không phải là quan hệ chính - phụ mà là quan hệ
bình đẳng, ngang hàng => Cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa cần tiến hành chủ
động, không nên phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc.
+ Do nhận thức được vai trò và vị trí chiến lược của cách mạng giải phóng dân tộc
thuộc địa: Ở thuộc địa mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn dân tộc với chủ nghĩa đế quốc.
Ở đó chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn, nhân dân các nước thuộc địa có khả năng
cách mạng to lớn và có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. (Nếu
xem thường cách mạng thuộc địa là muốn đánh chết rắn ở đằng đuôi…).
=> Kết luận: Do nhận thức được vai trò và vị trí chiến lược của cách mạng thuộc
địa, đánh giá đúng sức mạnh dân tộc, Bác đã khẳng định: “cách mạng giải phóng dân
0,5 Đ
2,0 Đ
tộc ở các nước thuộc địa có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc”.
Đây là một quan điểm hết sức sáng tạo và đúng đắn.
2. Chứng minh tính đúng đắn của quan điểm đó trong thực tiễn cách mạng Việt
Nam
- Giữa thế kỷ 19 khi thực dân Pháp sang xâm lược Việt Nam đất nước ta đã trở
thành nửa thuộc địa, nửa phong kiến. Nhân dân ta trở thành những người dân nô lệ bị
mất nước. Đã có rất nhiều phong trào đấu tranh của nông dân, công nhân và các tầng
lớp sĩ phu yêu nước nổ ra để đòi lại độc lập tự do cho đất nước tuy nhiên đều thất bại.
- Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng cộng sản Việt Nam phù hợp với quy luật
phát triển của xã hội vì Đảng không có mụch đích tự thân, ngoài lợi ích của giai cấp công
nhân, của nhân dân lao động, lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam và nhân dân tiến bộ
thế giới, Đảng không có lợi ích gì khác.
- Đảng không ngừng tự đổi mới, chỉnh đốn và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu…
- Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tính quyết định hàng đầu từ sự lãnh
đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam đã được thực tiễn lịch sử chứng minh, không
có tổ chức chính trị nào thay thế được.
* Về mặt thực tiễn
- Trước khi có Đảng lãnh đạo: ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều phong trào yêu nước,
nhiều tổ chức chính trị chống Pháp: Cần Vương, Yên Thế, Đông Du, Đông Kinh nghĩa
thục, Tâm tâm xã, Việt Nam quốc dân Đảng….do bị hạn chế bởi ý thức hệ phong kiến, tư
tưởng tư sản và tiểu tư sản nên không đề ra được đường lối và phương pháp cách mạng
đúng đắn, không tập hợp được lực lượng to lớn của cả dân tộc, không gắn được cách
mạng Việt Nam với cách mạng thế giới làm cho mọi cuộc đấu tranh đều bị thất bại.
- Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời:
+ Sự ra đời của Đảng với hệ thống tổ chức chặt chẽ và cương lĩnh cách mạng đúng
đắn đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng lãnh đạo kéo dài suốt mấy chục năm đầu thế kỷ
XX.
+ Đảng ra đời làm cho cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của
cách mạng thế giới.
+ Sự ra đời của Đảng là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên quyết định những thắng lợi to
lớn của cách mạng Việt Nam. Như: Cách mạng tháng Tám, Chiến thắng Điện Biên Phủ
1954, Chiến thắng mùa xuân năm 1975…
=> Kết luận: Sự ra đời của Đảng cộng sản là một bước ngặt vĩ đại trong lịch sử cách
2,5 điểm
mạng Việt Nam. “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu đảm bảo thắng lợi
của cáh mạng Việt Nam” (Cương lĩnh xây dựng đất nước 1991 của ĐCS VN).
2. Để xứng đáng vai trò lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam, Đảng ta
chốt”.
- Đảng ta đang phấn đấu nâng cao cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bằng
cách xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cả về số lượng và chất lượng.
Những năm gần đây số lượng đảng viên ngày càng tăng lên (khoảng 3 triệu đảng
viên), chất lượng đảng viên ngày càng được nâng cao về cả năng lực, trình độ và
phẩm chất đạo đức…
- Với vai trò vừa là người lãnh đạo cách mạng vừa là người đầy tớ trung thành của
nhân dân, Đảng ta không xa rời, không đứng trên và cùng không nằm ngoài nhân
dân. Hầu hêt mọi nơi trên mọi miền của Tổ quốc, thậm chí ở những xã vùng cao, xã
xôi cũng có mặt của những đồng chí cán bộ đảng viến là cán bộ xã, hoặc công an,
hoặc giáo viên và bộ độ biên phòng…Dó chính là những hạt nhân tích cực đưa đường
lối chính sách của Đảng tới nhân dân, đồn thời phản ánh lại tình hình địa phương với
các cơ quan của Đảng và Nhà nước…….
- Liên hệ ở địa phương sinh viên (làng, xã, huyện, tỉnh)…
Câu 8 (10Đ): Phân tích nguyên tắc xây dựng đạo đức mới: “Nói đi đôi với làm, phải
nêu gương về đạo đức”của Hồ Chi Minh. Tại sao Hồ Chí Minh khẳng định: “Hơn bất
kỳ một lĩnh vực nào khác, trong lĩnh vực đạo đức đặc biệt phải chú trọng đạo làm
gương”? Liên hệ thực tế.
Biểu
điểm
Ý Nội dung
1,0 điểm
2,0 điểm
1
a
b
Nguyên tắc đạo đức: “Nói đi đôi với làm”.
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng tuyệt vời về nói đi đôi với làm. Người quan
tâm đặc biệt, hàng đầu tới vấn đề đạo đức. Ở Hồ Chí Minh, vấn đề đạo đức không
chỉ dừng lại ở bài viết, bài nói mà quan trọng hơn là Người thực hiện trước hết,
đặc biệt phải chú trọng đạo làm gương”.
- Tầm quan trọng của việc nêu gương trong giáo dục đạo đức …
- Việc cần thiết phải bồi dưỡng, phát hiện những gương người tốt, việc tốt
Tại sao trong lĩnh vực đạo đức phải đặc biệt chú trọng đến đạo làm gương?
- Nét đặc thù của đạo đức:
+ Điều chỉnh hành vi của con người bằng sức mạnh của dư luận xã hội (đồng
tình, ủng hộ cái tốt, lên án cái xấu…). Trên cơ sở các chuẩn mực đạo đức con
người tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức.
+ Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nó có khả năng tác động tích cực trở
lại, cải biến tồn tại xã hội. Giá trị tinh thần một khi được con người tiếp nhận tự
giác sẽ biến thành một sức mạnh vật chất rất lớn.
+ Những tấm gương thực hiện đúng các chuẩn mực đạo đức được xã hội đồng
tình, ủng hộ và có tác dụng giáo dục rất lớn đối với xã hội.
2,0 điểm
1,5 điểm
3
(Bằng những tấm gương người tốt việc tốt (những tấm gương “sống”) đối
tượng giáo dục đạo đức sẽ có niềm tin (thái độ) vào các giá trị đạo đức, tự nguyện
thực hiện hành vi đạo đức. Nếu chỉ nói suông chưa chắc người nghe đã tin và
không tin thì không làm theo, nếu có làm theo họ cũng không phục (Một tấm
gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền).
+ Một người khi tự nguyện thực hiện hành vi đạo đức, tình cảm đạo đức ở họ
dần hình thành và được củng cố thêm , họ sẽ ủng hộ cái thiện, lên án cái xấu, cái
ác…
- Việc bồi dưỡng, nêu gương người tốt việc tốt là vô cùng quan trọng và cần
thiết, không được xem thường…
- Việc bồi dưỡng, nêu gương người tốt việc tốt cần phải chú trọng đến tính chất
phổ biến của nó…
- Nêu gương người tốt việc tốt phải chú ý đến cấp độ, phạm vị, hình thức,
phương pháp cho phù hợp với người với việc…