BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
----------
---------- LÊ THỊ OANH NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NẤM THÁN THƯ
SAU THU HOẠCH VÀ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM CARNAUBA
TRONG BẢO QUẢN QUẢ XOÀI CÁT CHU
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
Mã số : 60.54.10
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY LÂM
cứu kiểm tra chất lượng nông sản thực phẩm - Viện Cơ điện nông nghiệp và
Công nghệ sau thu hoạch đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài.
Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn
bè và đồng nghiệp những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập và thực hiện bản luận văn này.
Hà Nội, ngày 08 tháng 10 năm 2009
Tác giả Lê Thị Oanh
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp……………….
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục đồ thị vii
1. MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ xoài trên thế giới và trong nước 4
2.2 Kỹ thuật thu hái, phân loại và bao gói 6
2.3 Các loại bệnh sau thu hoạch thường gặp ở xoài và biện pháp xử lý 8
2.4 Các phương pháp bảo quản xoài 12
2.5 Bảo quản xoài bằng kỹ thuật tạo màng phủ bề mặt 17
trong bảo quản
49
4.4.1 Ảnh hưởng của chế phẩm đến hàm lượng chất rắn hòa tan tổng số 49
4.4.2 Ảnh hưởng của chế phẩm đến sự biến đổi hàm lượng axit tổng số 50
4.4.3 Ảnh hưởng của chế phẩm đến hàm lượng vitamin C 52
4.5 Ảnh hưởng của chế phẩm đến tỷ lệ thối hỏng 53
4.6 Kết quả đánh giá chất lượng cảm quan của quả xoài Cát Chu sau
bảo quản
55
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 62
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp……………….
v
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang4.1 Các chỉ tiêu cơ lý của quả xoài Cát Chu khi thu hoạch 32
4.2 Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hóa học của quả xoài Cát Chu 33
4.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ xử lý đến tỷ lệ (TLB) và chỉ số bệnh
(CSB) của các mẫu xoài
35
4.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ xử lý đến các chỉ tiêu cơ lý 37
4.14 Ảnh hưởng của chế phẩm Carnauba đến hàm lượng chất rắn hòa
tan tổng số
49
4.15 Ảnh hưởng của chế phẩm Carnauba đến hàm lượng axit hữu cơ
tổng số 51
4.16 Ảnh hưởng của chế phẩm Carnauba đến hàm lượng vitaminC 52
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp……………….
vi
4.17 Ảnh hưởng của chế phẩm Carnauba đến tỷ lệ thối hỏng xoài Cát
Chu ở nhiệt thường (28
0
C±2) 53
4.18 Ảnh hưởng của chế phẩm Carnauba đến tỷ lệ thối hỏng xoài Cát
Chu ở nhiệt độ lạnh (14
0
C±1) 53
4.19 Bảng đánh giá chất lượng cảm quan của quả xoài Cát Chu trong
bảo quản
56Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp……………….
vii
DANH MỤC ðỒ THỊ
STT Tên đồ thị Trang
Ở nước ta, xoài là một trong những cây ăn quả nhiệt đới quan trọng đã
được nhân dân ta trồng từ lâu đời. Nhân dân ta đã có kinh nghiệm trồng và
thâm canh cây xoài, từ đó đã hình thành nhiều vùng trồng xoài truyền thống,
chọn lọc và lai tạo ra được những giống xoài ngon nổi tiếng như xoài Cát Chu
(Đồng Tháp), Cát Hòa Lộc (Tiền Giang), xoài Thanh Ca (Khánh Hòa, Bình
Định), xoài tròn Yên Châu (Sơn La) [12].
Trồng xoài nói riêng và cây ăn quả nói chung còn thu lợi nhuận kinh tế
rất lớn. Một hec ta trồng xoài mỗi năm thu được 30-110 triệu đồng [11]. Do
đó, hiện nay ở nhiều địa phương đã chú ý phát triển cây xoài với diện tích
ngày càng mở rộng. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, ở Việt Nam đến
năm 2001 có 40 tỉnh trồng xoài với diện tích là 49.550ha, chiếm 8,12% tổng
diện tích cây ăn quả trong cả nước với sản lượng 180.259 tấn. Tuy nhiên, sản
lượng xoài xuất khẩu chỉ chiếm một lượng nhỏ so với sản lượng xoài hàng
năm, ví dụ năm 1998 xoài xuất khẩu qua Lạng Sơn chỉ có 1.399 tấn. Có nhiều
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp……………….
2
nguyên nhân dẫn đến tình trạng phát triển cây xoài còn chậm, chưa phù hợp
với tiềm năng sản xuất và xuất khẩu của các địa phương. Trong đó có cả việc
chúng ta còn thiếu công nghệ bảo quản và chế biến xoài thích hợp. Ở nước
ta, tuy chưa có số liệu cụ thể nào nói về tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch của xoài,
nhưng tỷ lệ hư hỏng rau quả nói chung lên đến 25-30% [7].
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu và áp dụng các phương pháp bảo
quản rau quả tươi như bảo quản ở nhiệt độ thấp, bao gói khí điều biến, phủ
màng bề mặt, v.v... Trong đó, bảo quản bằng công nghệ phủ màng là
phương pháp bảo quản được đánh giá là phù hợp với điều kiện của các
nước còn nghèo như Việt Nam vì có chi phí thấp, dễ áp dụng và không nhất
thiết phải bảo quản lạnh. Cơ sở của phương pháp này là tạo ra lớp màng
phủ trực tiếp trên bề mặt quả từ các vật liệu polime. Lớp màng này có tác
dụng hạn chế sự thoát hơi nước, làm giảm hô hấp, làm chậm chín, ngăn cản
sự phát triển của vi sinh vật gây hư hỏng rau quả, duy trì chất lượng và
Chu”.
1.2 Mục ñích và yêu cầu của ñề tài
1.2.1 Mục ñích
- Hạn chế sự phát triển của nấm thán thư hại xoài.
- Đánh giá hiệu quả bảo quản của màng Carnauba đối với quả xoài Cát
Chu sau thu hoạch.
1.2.2 Yêu cầu
- Theo dõi và đánh giá sự phát triển của nấm thán thư hại xoài.
- Đánh giá sự biến đổi chất lượng quả xoài sau khi xử lý và phủ quả bằng
chế phẩm Carnauba.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp……………….
4
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ xoài trên thế giới và trong nước
2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ xoài trên thế giới
Xoài là cây ăn quả nhiệt đới có sản lượng lớn.
Sản lượng xoài hàng
năm đạt trên dưới 23 triệu tấn, chiếm khoảng 37% tổng sản lượng quả nhiệt
đới. Theo thống kê của FAO, hiện có 87 quốc gia đang canh tác cây xoài với
tổng diện tích hơn 2,3 triệu ha, tập trung chủ yếu ở các nước châu Á, châu Mỹ
và châu Phi. Trong đó, vùng sản xuất lớn nhất là châu Á - Thái Bình Dương
với sản lượng khoảng 18,5 triệu tấn chiếm 79% sản lượng xoài trên thế giới,
các nước còn lại ngoài khu vực này chỉ chiếm có 4,9 triệu tấn chiếm 21%. Chỉ
tính riêng “vương quốc xoài” Ấn Độ đã có trên 1.100 loại giống với diện tích
trên 1 triệu ha và sản lượng chiếm 70% của thế giới. Mỗi năm Ấn Độ sản xuất
13 triệu tấn xoài, chiếm tới hơn một nửa tổng nguồn cung xoài trên thế giới
nhưng chỉ có khoảng 1% sản lượng được xuất khẩu, chiếm 19% tổng kim
nội địa. Tính bình quân đầu người còn rất thấp 3,4 kg/người/ năm, trong đó
các tỉnh Miền Bắc là một thị trường lớn, phần lớn xoài tiêu thụ ở đây là từ các
tỉnh Miền Nam đưa ra. Do phải vận chuyển từ xa, phương tiện vận chuyển và
bao gói thô sơ nên tỷ lệ hao hụt và hư hỏng cao do đó đẩy giá thành lên cao.
Thêm vào đó, chúng ta chưa có hệ thống cung ứng trực tiếp, việc mua bán
thường qua nhiều khâu trung gian làm cho sự chênh lệch về giá bán tại vườn
và giá bán cho người tiêu dùng rất lớn nên không khuyến khích chủ vườn cải
tiến sản xuất [9].
Theo số liệu thống kê của Viện Nghiên cứu cây ăn quả Miền Nam
(SOFRI) thì xoài của nước ta chủ yếu vẫn chỉ xuất sang Hồng Kông, Úc,
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp……………….
6
Singapo với số lượng rất hạn chế là 57,8 tấn/năm với giá 942 USD/tấn. Xoài
xuất khẩu qua Lạng Sơn theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc cũng với
một số lượng nhỏ. Việc xuất khẩu quả tươi của ta còn gặp nhiều khó khăn do
hạn chế kỹ thuật từ khâu chọn giống, bảo quản cho đến khâu chào hàng, tiếp
thị sản phẩm. Nhận định về tiềm năng xuất khẩu quả xoài của Việt Nam cho
thấy: Xoài chỉ có thể cạnh tranh ở thị trường toàn cầu nếu như cải thiện được
giống, bao gói, đồng thời thực híện hệ thống xử lý có hiệu quả [6].
2.2 Kỹ thuật thu hái, phân loại và bao gói
2.2.1 Thời gian và kỹ thuật thu hái
Xoài thường được thu hái ở giai đoạn chín sinh lý và được làm chín
đến độ tốt nhất [8]. Xoài nên thu hoạch từ lúc còn ương. Độ chín thu hoạch
thường là 12-15 tuần sau khi đậu quả. Cách tốt nhất để theo dõi độ chín ở xoài
là dựa vào màu sắc của thịt quả khi nó chuyển từ màu kem sang vàng nhạt và
theo dõi độ cứng của hột.
Quả được hái bằng tay hoặc bằng máy. Việc thu hái xoài nên thực hiện
vào buổi sáng, quả được đặt vào các khay nhựa và để trong bóng râm. Không
nên để quả rơi xuống đất vì các quả bị tổn thương sẽ làm lây hỏng sang các
quả khác trong quá trình đóng gói và tồn trữ. Quả được thu hoạch với phần
cũng thấy như tiết kiệm gỗ và liên quan đến môi trường.
Giấy vụn và báo cũ được sử dụng làm vật lót cần thiết khi đóng gói quả
để tránh cho chúng không bị thâm và bị tổn thương trong khi bảo quản và vận
chuyển. Lớp lót polyethylene (LDPE) cũng có tác dụng duy trì độ ẩm, làm
giảm mức độ hao hụt ở quả khi bảo quản. Việc bọc từng quả bằng giấy báo và
gói trong loại giấy có dạng như cấu trúc tổ ong sẽ giúp đạt được độ chín tốt
nhất và giảm bớt sự hư hỏng [5, 11, 13].
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp……………….
8
2.3 Các loại bệnh sau thu hoạch thường gặp ở xoài và biện pháp xử lý
2.3.1 Các bệnh nấm thường gặp ở quả xoài sau thu hoạch
Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum gloeosporioides, bệnh có khả
năng tiềm ẩn trong quả ở giai đoạn còn xanh cho nên quả bị nhiễm vẫn còn
nguyên vẹn ở giai đoạn thu hoạch, nhưng lại bắt đầu thối ở giai đoạn tồn trữ
và tiêu thụ. Đây là bệnh quan trọng nhất đối với xoài. Quả lúc đầu chỉ xuất
hiện các chấm nâu nhỏ, sau đó phát triển thành các đốm thối đen lõm trên mặt
vỏ quả, quả bị chín ép hoặc thối khi bảo quản [33].
Bệnh thối quả do nấm Diplodia natalensis, bệnh gây hại nặng trong
điều kiện nóng ẩm của mùa mưa. Bệnh hại quả trong thời kỳ bảo quản và vận
chuyển làm thối phần thịt quả chỗ gần cuống hoặc ở chỗ vỏ bị xây xát hay
bầm giập. Quả hái không mang theo cuống cũng dễ bị bệnh xâm nhập và lây
lan sau 2 - 3 ngày. Phòng bệnh tốt nhất là lúc hái tránh làm bầm giập, xây xát
quả. Quả sau khi thu hoạch được xử lý bằng cách: nhúng vào nước ấm 55
o
C
chứa 0,06 - 0,1% Benlate để ngăn ngừa bệnh thối quả và thán thư. Cũng có
thể nhúng cuống quả hay cả quả vào thuốc gốc đồng hay dung dịch Borax
(hàn the) pha loãng nồng độ 0,6% [33].
Ngoài ra bệnh thối Alternaria do nấm Alternaria alternate và bệnh thối
Aspergillus (còn gọi là bệnh thối đen) do nấm Aspergillus spp gây ra khi quả
Xử lý hơi nước nóng được dùng để xử lý cho quả á nhiệt đới, đặc biệt là
xoài và đu đủ, quả được đặt trong hơi nước nóng bão hòa. Đây là phương pháp
di chuyển nhiệt, nhiệt được truyền thông qua sự ngưng đọng hơi nước nóng
trên bề mặt lạnh của sản phẩm. Nhiệt độ tốt nhất để xử lý quả là 46–47
o
C. Xử
lý hơi nước nóng trên xoài làm tăng khả năng chống chịu với sâu bệnh, qua đó
làm giảm ảnh hưởng của tổn thương lạnh. Xoài Baneshan xử lý với hơi nước
nóng khi chín có màu đẹp hơn làm tăng được khả năng thương mại của trái.
Tuy nhiên, đối với quả chín, xử lý hơi nước nóng sẽ gây ra tổn thương bên
trong quả và có thể làm cho quả bị hỏng. Nguyên nhân là do lượng oxy bên
trong bị cạn kiệt tạo điều kiện thuận lợi cho các phản ứng lên men phát triển,
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp……………….
10
do đó không tốt cho sản phẩm [32].
b) Xử lý bằng không khí nóng
Quả được đặt trong không khí nóng. Không khí nóng được thổi qua
khối quả và nhiệt của không khí nóng thẩm thấu qua lớp vỏ quả đi vào tâm
quả. Khi xử lý bằng phương pháp này, vỏ quả phải luôn khô ráo và độ ẩm của
không khí phải thấp hơn 30%. Phương pháp này rất phát triển ở Mỹ để xử lý
kiểm dịch thực vật xoài. Xử lý không khí nóng có tác dụng làm giảm sự xâm
nhiễm của nấm, đôi khi xử lý không khí nóng có điều chỉnh cũng được sử
dụng để khử trùng rau quả nhằm tiêu diệt ruồi đục quả. Phương pháp này có
tốc độ xử lý chậm hơn phương pháp xử lý bằng nước nóng và hơi nước nóng
[32].
Nhiệt độ xử lý là 38-46
o
C. Người ta đã chứng minh rằng khi xử lý hoa
quả bằng không khí nóng ở nhiệt độ lớn hơn 47
o
o
C trong 5 phút [25]. Khoa Nông nghiệp trường Đại học Cần Thơ
khuyến cáo nước nóng 48
o
C
có chứa 1.000 ppm thuốc trừ nấm Benomyl và
14% CaCl
2
trong 5 phút có thể giữ được giống xoài Cát Hòa Lộc và xoài
Thơm trong 18 ngày ở 30
o
C, hạn chế rất tốt bệnh thán thư và bệnh thối gốc
cuống trái, ở 55
o
C có thể làm đổi màu vỏ trái xoài Cát Hòa Lộc và xoài Thơm
[30].
2.3.2.2 Phương pháp xử lý hoá chất
Dùng các chất hóa học được phép sử dụng để tiêu diệt hay ức chế các vi
sinh vật, côn trùng gây hư hỏng, ức chế các quá trình sinh l ý bất lợi và ngăn
cản quá trình oxy hóa, hạn chế hô hấp và kéo dài thời gian bảo quản rau quả.
Một trong những cách như vậy là dùng dung dịch CaCl
2
. Nhúng xoài bằng
dung dịch CaCl
2
ở nồng độ 2-8% trong điều kiện 32Kpa và 115 Kpa cho kết
quả bảo quản quả tốt. Cơ chế cơ bản của Ca là làm giảm quá trình hô hấp,
giảm sự tổng hợp ethylen và hạn chế phân giải chlorofil, tăng cường kháng cự
nhiều nước. Chất này được dánh giá ít độc hại, thời gian cách lý cho xoài chỉ
3 ngày trước thu hoạch. Nồng độ tối đa cho phép trong quả xoài là 2 ppm.
Philipin đã cho phép sử dụng Azoxystrobin trong xử lý bệnh nấm trước bảo
quản đối với quả xoài [31].
Tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO) và tổ chức y tế thế
giới (WHO) cho phép tồn dư hóa chất sau khi xử lý rau quả là 10 ppm. Với
lượng tồn dư này, rau quả sau khi xử lý đảm bảo được tính an toàn thực phẩm
cho người tiêu dùng.
2.4 Các phương pháp bảo quản xoài
2.4.1 Nguyên nhân gây hư hỏng
Tổn thất sau thu hoạch đối với rau quả tươi vẫn còn rất cao, trong đó có
xoài. Quả sau khi thu hoạch vẫn tiếp tục quá trình chuyển hoá, đặc biệt là với
những quả hô hấp đột biến như quả xoài. Quá trình này làm cho quả nhanh
già, nhanh chín, nhũn và hư hỏng. Khí etylen - một sản phẩm hô hấp khác
cũng góp phần làm tăng các diễn biến bất lợi đó. Mặt khác, vi sinh vật nhiễm
trên quả trước, trong và sau thu hoạch cũng là một trong những nguyên nhân
lớn làm hỏng cấu trúc và gây thối quả. Ngoài ra, các tác dụng vật lý cơ học
cũng là một trong những nguyên nhân gây hư hỏng quả như sự va chạm, làm
bẩn, dập nát... Chính vì vậy, tất cả các biện pháp bảo quản nhằm duy trì số
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp……………….
13
lượng cũng như chất lượng của quả xoài có ý nghĩa rất quan trọng nhằm khắc
phục các nguyên nhân gây hỏng nêu trên [4].
2.4.2 Các biến ñổi trong quá trình bảo quản
2.4.2.1 Biến ñổi sinh lý
Sinh lý trong quá trình chín của quả xoài bao gồm nhiều hoạt động trao
đổi chất làm giảm trọng lượng, đặc biệt là sự thay đổi màu sắc vỏ và thịt quả,
giảm độ cứng quả. Thay đổi các tính chất vật lý dẫn đến một vài thay đổi thành
phần hóa học, như giảm axit, tinh bột, và chất khô hòa tan theo chiều hướng tốt
nhưng tăng đường tổng số và hình thành hương thơm đặc trưng [14].
Tất cả lượng nhiệt sinh ra trong quá trình bảo quản quả là do hô hấp, 2/3
lượng nhiệt thải ra môi trường xung quanh, còn 1/3 được dùng vào các quá
trình trao đổi chất bên trong tế bào, quá trình bay hơi và một phần dự trữ ở
dạng năng lượng hoá học. Sự sinh nhiệt là một yếu tố bất lợi trong quá trình
bảo quản. Sự sinh nhiệt phụ thuộc vào nhiệt độ, nhiệt độ càng cao sự sinh
nhiệt càng lớn. Nhiệt độ tăng, kích thích quả hô hấp mạnh, hoạt động sinh lý
tăng lên, độ ẩm tăng. Đó là điều kiện thích hợp cho vi sinh vật phát triển và
làm quả hỏng một cách nhanh chóng. Vì vậy, trong quá trình bảo quản quả
phải khống chế điều kiện bảo quản tối ưu để sinh nhiệt là ít nhất [14].
2.4.2.2 Biến ñổi hoá học
Trong quá trình bảo quản, hầu hết các thành phần hoá học của quả đều bị
biến đổi do tham gia hô hấp hoặc do hoạt động của enzim [14,15].
ðường
Trong quá trình bảo quản quả, các loại đường đã dần dần bị thuỷ phân
thành đường đơn giản. Sau đó, các đường đơn này tham gia vào quá trình hô
hấp để tạo năng lượng duy trì sự sống của quả. Chính vì lẽ đó mà đường tiêu
hao rất lớn trong quá trình bảo quản. Tuy nhiên, do xoài là quả hô hấp đột
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp……………….
15
biến nên khi bảo quản mặc dầu tham gia vào quá trình hô hấp nhưng lượng
đường chẳng những không giảm mà còn tăng. Đó là do khi quả chín lượng
tinh bột chuyển thành đường với tốc độ cao hơn với tốc độ giảm đường do hô
hấp làm cho quả có vị ngọt và góp phần tạo hương thơm đặc trưng cho quả.
Hợp chất pectin
Trong quá trình chin quả thường chuyển từ trạng thái cứng sang trạng
thái mềm. Sự thay đổi trạng thái này là do sự thuỷ phân protopectin thành các
pectin hoà tan hoặc sự phá vỡ liên kết giữa hợp chất pectin với các thành phần
khác của thành tế bào dưới tác dụng của enzim.
2.4.3 Các phương pháp bảo quản phổ biến ñối với quả xoài
2.4.3.1 Bảo quản lạnh
đặc trưng như chín bình thường [27].
2.4.3.2 Bảo quản bằng khí ñiều biến (MA) và kiểm soát khí (CA)
Phương pháp MA và CA đều dựa trên nguyên tắc thay đổi thành phần
khí trong môi trường bảo quản, điều chỉnh sao cho hàm lượng khí CO
2
cao và
O
2
thấp để làm giảm quá trình hô hấp và chậm sự già hoá làm cho thời gian
bảo quản quả tươi được kéo dài. Hiện đã có một số nghiên cứu và công thức
thành phần khí thích hợp cho nhiều loại rau quả khác nhau. Kết quả của
Nguyễn Xuyến Như và Dong Man Kim đã cho biết bảo quản xoài bằng khí
quyển cải biến trong túi chất dẻo MA giữ được 3–4 tuần và quả vẫn giữ được
màu sắc, chất lượng tốt. Tuy nhiên, phương pháp này dễ gây ra hiện tượng hô
hấp yếm khí và làm cho quả mất khả năng chín tự nhiên. Việc áp dụng đòi hỏi
kỹ thuật cao và thường yêu cầu kết hợp với nhiệt độ thấp. Khi quả chuyển
khỏi điều kiện bảo quản MA và CA sang điều kiện không khí và nhiệt độ bình
thường, chúng rất nhanh bị giảm chất lượng. Bên cạnh các hạn chế nêu trên,
chi phí đầu tư cao vẫn là lý do chủ yếu của việc thiếu khả thi phổ cập công
nghệ này tại nhiều nước đang phát triển [29].
Một dạng khác của phương pháp này là kỹ thuật bao gói kín riêng từng
quả. Kỹ thuật bao gói bằng túi chất dẻo dán kín rất có hiệu quả chống mất
nước cho quả. Nhược điểm lớn nhất là rất dễ mắc nấm mốc gây thối hỏng, hô
hấp yếm khí. Ngoài ra, giá thành thường cao và tạo ra chất thải cho môi
trường. Hiện nay, để khắc phục hai nhược điểm trên phương pháp bảo quản
rau quả tươi bằng các chế phẩm tạo màng đang được nhiều nước nghiên cứu
và áp dụng. Trong đó, các chế phẩm tạo màng composit cũng tạo được sự
quan tâm và chú ý của các nhà khoa học trên thế giới [24].
Nghiên cứu bao gói khí điều biến bằng LDPE 0,01 mm ở nhiệt độ
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp……………….
khô đi tạo ra một lớp màng mỏng gần như trong suốt, bóng láng trên bề mặt
quả. Nhờ tính chất bán thấm điều chỉnh khí và hơi nước của màng, quả được
giữ tươi lâu hơn. Màng phủ làm giảm tổn thất khối lượng và làm chậm sự
nhăn của quả do hạn chế quá trình mất nước. Màng phủ có thể tạo ra vùng vi
khí quyển điều chỉnh xung quanh quả thuận lợi cho quá trình bảo quản. Do đó
mà kéo dài được thời gian bảo quản và hạn chế được các hiện tượng xảy ra
trong quá trình bảo quản.