“từ là từ phu tướng
Bảo kiếm sắt phong lên đàng
Vào ra luống trong tin nhạn
Ôi gan vàng quặng đau í a…”
Tôi xin mạn phép mượn những lời ai oán, thiết tha của người phụ nữ trong bài “dạ cổ hoài lang” để nói đến
người chinh phụ tội nghiệp trong “Chinh phụ ngâm” của đại thi gia Đặng Trần Côn. Xã hội phong kiến nghiệt
ngã đã vùi dập một cánh hoa đang thì xuân xanh. Bắt họ phải sống trong nỗi khắc khoải nhớ mong, muốn yêu
mà chẳng được yêu, muốn hạnh phúc mà sao mong manh quá. Điều này càng được thể hiện rõ ở đoạn trích
“Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” - Bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm.
Ngay từ những dòng đầu tiên, không gian cô đơn, lẻ loi như bao trùm tất cả. Chồng ra trận, một mình nàng
ở nhà vò võ chờ chồng. Đáng lẽ ra nàng đang đắm chìm trong hạnh phúc lứa đôi nhưng đằng này nàng đi đâu,
làm gì cũng một mình đơn bóng. Trong phòng, ngoài hiên, ngày cũng như đêm, ở bất kì đâu, trong mọi khoảnh
khắc người chinh phụ đều sống trong cô đơn, lẻ loi!
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng
Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi!
Buốn rầu nói chẳng nên lời
Hao đèn kia với bóng người khá thương.”
Sống trong cảnh lẻ loi ấy, nàng thực sự rơi vào trạng thái bồn chồn. Đã bao lâu rồi nàng chưa một lần gặp
chàng, được nghe chàng nói để thõa nổi nhớ mong. Than ôi! Nàng phải làm gì, làm gì để thôi không nhớ chàng
nữa, thôi không nghĩ đến chàng. Hết loanh quanh ngoài hiên, nàng lại vào nhà…buông rèm xuống rồi kéo rèm
lên. Nàng mong sao việc làm tưởng chừng vô nghĩa của mình sẽ làm thời gian ngắn lại hay ít ra là để thấy mình
không quá trống trải trong khoảng không gian cô đơn đến nghẹt thở. Nàng hi vọng rằng một ngày nào đó, khi
kéo tấm rèm kia lên nàng sẽ nhận được tin vui, điều tốt lành từ chú chim khách để lòng mình thôi bồi hồi, thôi
không sống trong lo âu, sợ hãi. Thế nhưng, hi vọng ấy sao mà mong manh, xa vời quá, như một kẻ cùng đường,
nàng khát khao một sự đồng cảm. Nàng chợt hỏi: đèn có biết chăng? Có hay không sự đồng cảm đến từ một
chiếc đèn vô tri vô giác? Để rồi cuối cùng nàng xót xa nhận ra rằng cà nàng và cà chiếc đèn kia đều chung một
cảnh đáng buồn: “Hoa đèn kia với bóng người khá thương”.
“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gãy ngòn đàn
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”
Đoạn thơ như vẽ lên hình ảnh người chinh phụ gượng đốt hương để mong tìm được cho mình sự thanh
thản, nhẹ ngàng nơi đáy lòng. Để nó thôi không thổn thức nhưng tâm hồn lại như mê man. Gượng soi gương để
trang điểm, để thấy mình luôn xinh đẹp tràn đầy sức sống như thởu nào. Song khi thấy dung nhan của mình
trong gương thì lại bật khóc nghẹn ngào. Gương gãy đàn cho khuây khỏa mối sầu nhaưng càng sầu thêm. Bởi
sắt cầm được ví cảnh vợ chồng thuận hòa hạnh phúc, tâm phúc tương tri. Còn nàng , nàng đang sống trong cô
đơn, gãy đàn khác nào xát muối vào vết thương bao ngày qua. Hơn bao giờ hết, nàng sợ mình làm đứt dây đàn
uyên ương. Nàng sợ định mệnh sẽ báo trước với nàng rằng hạnh phúc của nàng vốn đã mong manh nay càng trở
nên xa vời hơn…
Luôn phải sống trong cảm giác bốn chồn vì lẻ loi, sầu tư vì đợi vì chờ, nàng chợt nghĩ: nhờ gió mùa xuân
mang nỗi nhớ, tình yêu tha thiết của nàng đến chồng nơi biên ải xa xôi:
“Lòng này gửi gió đông có tiện
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên”
Nhưng nàng chợ xót xa nhận ra rằng: khoảng cách giữa nàng và chồng nàng là một không gian quá xa xôi
cách trở, nổi nhớ niềm thương vì thế mà trở nên quặng thắt:
“Non Yên dù chẳng tời miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”
Hai câu thất tiếp theo nêu lên một sự tương phản sâu sắc: trời thì quá xa, nổi nhớ thương thì đau đáu. Vì
thế mà Người nào đâu để ý, nào có thấu cho thân phận nữ nhi thường tình. Các từ láy thăm thẳm, đau đáu nghe
sao mà xót xa quá. Nàng đang tự xót xa cho thân phận mình. Ôi! “Đau đớn thay phận đàn bà- Lời rằng bạt
mệnh cũng là lời chung”. Nàng nào dám ước mơ vinh hoa phú quý, nhà cao cửa rộng. Ngay cả hạnh phúc nhỏ
nhoi nhất là hàng ngày được nhìn thấy người mà mình yêu thương, được yêu được quan tâm, chăm sóc nàng
cũng chẳng có được. Tuổi xuân của nàng không được sống trong tình yêu mà đó là những chuỗi ngày đợi chờ,
dày xé. Than ôi! Nàng biết trách ai? trách mình phận bạc, trách số phận vô duyên hay đúng hơn là xã hội phong
kiến nghiệt ngã tạo nên cảnh loạn lạc chiến tranh. Những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã tước đoạt của nàng và