Chuyện tình của tử tù Lê Quang Vịnh
Chuyện tình của tử tù Lê Quang Vịnh
Chuyện tình của tử tù Lê Quang Vịnh
Chuyện tình của tử tù Lê Quang Vịnh
Chuyện tình của tử tù Lê Quang Vịnh –
Sóng gió thời bình.
Nhiều người từng biết Lê Quang Vịnh (hiện là Trưởng ban Tôn giáo của
Chính Phủ) là học sinh xuất sắc, từng đỗ đầu kỳ thi chuyên lý toàn miền
Nam năm 1954, thủ khoa cử nhân Toán Đại học Sư phạm Sài Gòn năm
1960. Anh đã từ chối suất du học Mỹ của Quốc trưởng Bảo Đại. Nhưng
câu chuyện tình lãng mạn và đầy chất thơ của người chiến sĩ trung kiên
ấy thì ít người biết đến.
Anh hoạt động cách mạng rất sớm và bị địch bắt giam ở Côn Đảo. Phòng giam của anh
cạnh với phòng Trần Trọng Tân (nguyên Trưởng ban Tư tưởng văn hóa Trung ương).
Chứng kiến Vịnh dũng cảm phản đối chào cờ, hát quốc ca ngụy, anh Tân rất quý cậu thanh
niên này. Anh càng khâm phục hơn khi biết đó chính là người tử tù đã nói một câu nổi
tiếng khi Tòa án Quân sự đặc biệt Sài Gòn kết tội mình: "Chúng tôi rất tiếc là chưa trừng
trị được tên xâm lược Mỹ đầu sỏ ở Sài Gòn". Hai người đã trở thành bạn thân của nhau.
Một lần cao hứng, anh Tân bảo Vịnh: “Mày khá lắm, nếu còn sống được đến ngày giải
phóng có chịu làm em tao không? Tao có cô em gái xinh lắm”. Lúc ấy, ai cũng nghĩ đó chỉ
là chuyện đùa.
Tháng 9/1975, anh Vịnh đại diện cho đồng bào miền Nam ra thủ đô dự lễ Quốc khánh. Cái
lạnh miền Bắc làm bệnh hen bị nhiễm từ trong nhà tù của anh tái phát. Nằm điều trị ở bệnh
viện Hữu Nghị Việt Xô, anh được tiếp một cô gái lạ. Cô giới thiệu là em gái của Trần
Trọng Tân, nghe tin anh ở tù với anh trai ngoài Côn Đảo, muốn đến hỏi thăm tin tức. Đến
tối, cô đèo anh đi thăm Lăng Bác. Đêm hôm ấy, mặc dù bị bác sĩ phàn nàn về tội vi phạm
nội quy nhưng anh còn đủ cảm xúc làm bài thơ “Bên Lăng Bác”. Trong đó có đoạn: “Em
hát thì thầm trong đêm khuya vắng/ Anh cài một đóa hồng lên áo em tinh trắng/ Em ngả
đầu vào vai anh yên lặng...”.
Cô gái trong thơ ấy là vợ anh bây giờ, chị Trần Thị Kim Khánh. Họ đã có 2 con. Xúc
động trước khí phách hiên ngang bất khuất của Lê Quang Vịnh, một nữ họa sĩ Nga
ngày. Nói điều này ra, tôi muốn đề cập đến sự tin cậy, quí trọng của gia đình thầy Kỵ và
của riêng Như đối với tôi.
Nhưng đó là về chính trị, về đạo đức cách mạng, chứ còn về tình yêu thì tôi nghĩ thuộc về
một phạm trù hoàn toàn khác. Mặc dù tâm can nóng bỏng, nhưng tôi không dám tỏ tình,
một phần cũng vì tôi sợ bị từ chối. Bài thơ “Thư gởi người yêu” nên hiểu là “người tôi
yêu” mà thôi, nó không có nghĩa là “người yêu tôi”.
Hai là, chuyện chị Lý có tấm ảnh của tôi và đề trên tấm ảnh ấy câu “Chờ anh mãi mãi, âm
thầm chờ anh” thì mãi đến sau này khi tờ báo Giáo dục và Sáng tạo năm 2000 đăng lên
như một phụ bản bài phỏng vấn tôi của Vi Ân, tôi mới biết. Thật ra, tôi có gặp một cô Lý ở
Sài Gòn vào lúc nào thì bây giờ tôi không nhớ nổi, nhưng chắc chắn không thể quá năm
1958 được. Đến ngày giải phóng được ra Hà Nội, tôi có gặp lại chị Lý ấy và cả anh Tuấn
nữa (về sau là chồng của chị Lý).
Tôi cũng hiểu chút ít về những tình cảm đặc biệt mà chị Lý dành cho tôi, nhưng chuyện
tấm ảnh thì cả chị Lý và những người thân của tôi đã giấu kín không cho tôi biết. Tôi
không cầm được nước mắt khi viết những dòng này.
Trong thời bình, cuộc đời anh cũng không hề suôn sẻ. Có những khi nghiêm trọng đến mức
độ có người nói rằng” Lê Quang Vịnh bị án tử hình lần thứ 2!”. Anh có thể kể lại một vài
chuyện người thật việc thật với tinh thần “ôn cố tri tân”? LQV: Từ ngày miền Nam được
hoàn toàn giải phóng (1975) cho đến ngày tôi được nghỉ hưu theo chế độ (2003), cọng
chung lại là 28 năm công tác trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Tựu trung tôi đã
đảm nhiệm những chức vụ: Giám đốc Sở Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh.
Bí thư Trung ương Đoàn TNCSHCM và Chủ tịch Hội LHTNVN.
Ủy viên Đoàn chủ tịch kiêm Phó Tổng Thư ký UB Trung ương MTTQVN.
Thường vụ Đặc khu ủy Vũng Tàu- Côn Đảo, Bí thư Huyện ủy Côn Đảo.
Phó Ban Dân vận Trung ương (Đảng) và Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ.
Nói chung là tôi làm công tác quản lý – lãnh đạo. Chức năng của công tác đó là “dùng
người, xét việc” và tất yếu sẽ có người thương, người ghét đối với tôi.
Tôi xin kể về quãng thời gian tôi làm Bí thư Huyện ủy Côn Đảo. Chuyện xảy ra đã lâu rồi,
đến nay tôi chỉ còn nhớ một số khung của sự việc mà thôi.
Đầu năm 1986, tôi nhận được quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tham gia
ĐKU Vũng Tàu - Côn Đảo rằng “Đồng chí Vịnh... là đúng”.
“Bây giờ thì Trung ương đã có đủ bằng chứng để kết luận…”. Tôi còn nhớ lúc đó tự nhiên
nước mắt tôi giàn giụa, tôi đã khóc... Sau đó ít lâu, tôi được bổ nhiệm là Phó Ban Tôn giáo
Chính phủ và năm 1997, tôi được cử làm Trưởng Ban.
Có khi nào sóng gió cuộc đời trong thời bình làm anh xót xa, ân hận và nản chí?
LQV: Tôi xuất thân là một chú bé học trò dốt nát, biếng lười, nhưng nhà tù đế quốc (hay
cũng là trường học cộng sản) đã rèn luyện tôi trở thành một con người có ích cho xã hội.
Bài học đầu đời của tôi là “đi trên đường cách mạng, con người sẽ được quần chúng nhân
dân nâng đỡ, đùm bọc, nỗi bất hạnh sẽ biến thành niềm hạnh phúc”.
Tôi cũng không biết là tốt hay xấu nữa, nhà tù đã tạo ra trong tôi tính chịu đựng (có người
gọi là nhẫn nhục). Tôi tự thấy trong bất cứ công cuộc gì, tôi cũng bắt đầu bằng sự non kém,
thiếu kinh nghiệm và thất bại, nhưng tôi không bỏ cuộc, tôi vẫn tiếp tục.
Càng về sau tôi càng được sự giúp đỡ, ủng hộ của những người tốt và cuối cùng là đi tới
thành công. Tôi tin tưởng rằng vấn đề chủ yếu là rút kinh nghiệm, tìm ra được nguyên
nhân và phương pháp khắc phục, thì nhất định thất bại sẽ là mẹ của thành công.
Nếu có những lúc tôi cảm thấy xót xa, ân hận, không phải vì đã chọn lầm đường (thì
đường cách mạng là chính nghĩa, có gì mà ân hận?), mà tôi chỉ ân hận là mình tài hèn, đức
mọn, việc cần phải làm mà không dám làm, hoặc không đủ tài trí để làm cho tốt, cho được
mỹ mãn…
Xin cảm ơn anh!
NGƯỜI TỬ TÙ CÓ MỘT KHÔNG HAI BẮT ĐẦU(TRÍCH TỪ: CÔN ĐẢO – BẢN TÌNH
CA ANH HÙNG)
Nhiều người trong số chúng ta từng nghe tên Lê Quang Vịnh, một người
Cộng sản trẻ, một thanh niên trí thức hoạt động trong phong trào học
sinh sinh viên Sài Gòn- Gia Định trước ngày miền Nam giải phóng.
Anh bị toà án ngụy quyền Sài Gòn kết án tử hình năm 1962, rồi đày ra Côn Đảo cầm cố
ròng rã suốt 14 năm liền. Tên anh là một trong những cái tên đã trở thành biểu tượng của
sự quật khởi, hiên ngang trước kẻ thù của tuổi trẻ Việt Nam bất khuất.
Lê Quang Vịnh và mẹ ở Côn Đảo (năm 1971).
Nhà thơ Ngô Minh đã tiếp xúc, lắng nghe ông Lê Quang Vịnh (nay đã nghỉ hưu, về ở Huế)
với phái đẹp. Anh chỉ quen biết những người con gái gắn bó với công việc của mình. Và số
phận tử tù của anh đã làm cho những mối tình đó thành những mối tình đớn đau, nước
mắt...
Khi nghe tin giáo sư Lê Quang Vịnh và đồng đội bị chính quyền Sài Gòn tuyên án tử hình,
nữ thi sĩ Anh Thơ đã đọc báo và “nhặt” được một chi tiết rất đắt giá đăng trên báo chí lúc
đó. Thế là bài thơ Dòng nước mắt ra đời.
Bài thơ viết về tâm trạng của một cô gái có mặt trong phiên toà ngụy quyền Sài Gòn xử án
Lê Quang Vịnh và “tiểu đội” của anh đêm 23/5/1962 . Cô gái đứng lẫn trong số người đến
dự phiên toà. Cô gái khóc và không lau, để mặc cho dòng nước mắt lăn hoài trên má :
Em không lau mặc cho dòng nước mắt
Chảy dài, chảy mãi, chảy triền miên
Nhìn anh đó, hiên ngang bất khuất
Trán rạng ngời, mắt chói niềm tin!
...
Anh của em ơi người anh thi sĩ
Những ý thơ nào ru thắm tình ta
Những ý thơ nào ước mơ hạnh phúc
Cho chúng mình, cho những đôi lứa vui ca...
Gần 50 chục năm nay, không ai biết người khóc vì Lê Quang Vinh đó là ai. Tôi hỏi anh
Vịnh nhiều lần. Cũng có thể là chính anh cũng không thể biết được. Nhưng cuối cùng anh
mới rụt rè tiết lộ :
- Đó là cô Tuyết Ngọc. Năm đó Ngọc là một sinh viên, ở trong phong trào đấu tranh, là
một “cơ sở” của mình. Khi phiên toà mở, Ngọc có đến dự, nhưng mình không nhìn thấy…
- Thế làm sao anh biết đó là chị Tuyết Ngọc ?
- Chính Ngọc kể cho tôi biết. Sau giải phóng, tôi ra tù về lại Sài Gòn, Ngọc có đến thăm và
cho tôi xem bài thơ mà em đã cắt trên báo và giữ từ 15 năm qua như một kỷ vật. Lúc gặp
lại tôi, Ngọc cũng khóc ròng. Có thời gian Tuyết Ngọc làm Giám đốc Nhà văn hóa thiếu
nhi thành phố Hồ Chi Minh . Bây giờ thì em đã về hưu rồi…
- Anh có thể coi đó là một kỷ niệm về tình yêu ?
- Mình với Tuyết Ngọc cùng hoạt động nội thành, nhiều lần cùng nhau đi những chặng
này, để giữ niềm thương yêu kính trọng hương hồn người đã khuất, anh Vịnh vẫn thường
bảo với mọi người: ”Đó là mối tình đơn phương của mình”. Mối tình đơn phương ấy chỉ
còn lại là một vết sẹo hằn trong tim mỗi người.
Ngay sau khi bị tuyên án tử hình, ở trong ngục tử hình của nhà lao Chí Hoà, Lê Quang
Vịnh đã viết bài thơ “ Thư gửi người yêu” rồi tìm cách gửi ra cho Quỳnh Như. Bài thơ như
những lời trối trăng mãnh liệt gửi đến người thân yêu nhất trước pháp trường, bị hành hình
trên máy chém :
Em nhớ không ngày ấy còn trong năm sáu mốt
Còn bão tố đầy trời miền Nam đau xót
Trong một khu rừng hoa dại vàng tươi
Ta đón xuân giải phóng với bao người
Dù chẳng được nhìn nhau cho tận mặt
Dù chẳng dám hát ca vì còn kia lũ giặc...
...
Em nhớ không em vân vê tà áo mới nông dân
Màu quê hương cho em đẹp bội phần
Đêm giao thừa mình nghe thơ Tố Hữu
Nghe Bác Hồ chúc mừng xuân Tân Sửu...
...
Bên máy chém anh vẫn nhìn em bước
Cùng nhân dân đất nước hé môi cười.
Hình như gia đình ông bà Kỵ cũng biết mối tình của con gái mình với Lê Quang Vịnh, nên
bao giờ cũng có ý vun vào. Khi Lê Quang Vịnh đã nằm trong Chuồng cọp Côn Đảo, không
biết lấy được địa chỉ Vịnh ở đâu, mà bà Huệ Phương, mẹ Quỳnh Như đã viết cho Vịnh cái
thư gửi ra Côn Đảo.
Mở thư ra, Vịnh biết ngay là thư bà Kỵ vì bà ký tên thời con gái là Huệ Phương, bức thư
viết lóng để che mắt địch: “…đầu mùa hè năm ngoái, chi mai của con bị bứng đi trồng ở
lồng Thừa Phủ, đến mùa đông thì chi mai của con bị trẩy rụi rồi đem nhốt vô cũi Ba Lòng.
Giữa năm nay chi mai của con đã tháo cũi xổ lồng bay về rừng xanh núi biếc, phóng
khoáng thênh thang…”.
đọc rất rõ. Chị Như hẹn trong thư rằng, lần này chỉ gửi ảnh bé Son, còn lần sau “em sẽ
chụp tấm ảnh màu gửi cho anh, để anh biết em bây giờ ra sao!”. Sau đó anh Vịnh còn nhận
được vài lá thư nữa của Quỳnh Như.
Tháng 5/1975, khi ra tù Côn Đảo, về lại Sài Gòn, Lê Quang Vịnh có tìm đến nhà thăm mẹ
con Quỳnh Như. Chị vẫn đẹp như xưa. Nhưng đã rắn rỏi hơn, đằm thắm hơn nhiều lắm.
Có lúc Quỳnh Như cố tình xin phép ra khỏi phòng để bé Son lại. Bé Son sà vào lòng anh
Vịnh, nũng nịu :” Bác Vịnh ơi, bác có thương Son, thương mẹ Như của Son không ?”.
Anh Vịnh cảm động, vuốt tóc bé Son, nói trong nước mắt :”Bác thương mẹ Như của Son
nhất. Khi bác xuống dưới đất rồi vẫn thương Son, thương mẹ Như của Son”.
Khi Vịnh đến thăm gia đình ông bà Tôn Thất Dương Kỵ, cả hai ông bà đều xúc động,
mững rỡ. Thầy Kỵ ôm chầm lấy đứa học trò cưng nhất của mình, tay thầy cứ sờ nắn bả vai,
lưng, như kiểm tra xem bọn giặc tra tấn có làm mất đi cái xương nào của cậu học trò giỏi
nhất của mình không. Bà Kỵ rơm rớm nước mắt, đứng ngây người nhìn người tử tù thân
thương của mình, như trong một giấc mơ. Mãi lâu bà mới nhớ ra, hối hả đi giục mọi người
chuẩn bị cơm nước…
Thầy Kỵ có lần nói với Vịnh: “Từ lâu vợ chồng thầy coi em thân thiết như người nhà. Bây
giờ em đã thoát khỏi ngục tù, vợ chồng thầy mong em sẽ trở thành người nhà vĩnh viễn của
gia đình thầy…”. Lê Quang Vịnh hiểu ý muốn bé Sao, hiểu ý của thầy Kỵ, anh suy nghĩ
trăn trở bao đêm. Bây giờ nếu anh đồng ý, thì có thể Quỳnh Như sẽ “đi bước nữa” , sẽ “trở
lại” với anh.
Nhưng còn hương hồn nhà thơ liệt sĩ Trần Quang Long thì sao ? Hơn nữa lúc đó anh đã
yêu chị Khánh...Sau đó Lê Quang Vịnh ra Hà Nội học trường Nguyễn Ái Quốc. Thời gian
đó Quỳnh Như có lần ra Hà Nội thăm anh và cũng đã biết anh Vịnh đã cưới vợ.
Ba năm sau, năm 1978, anh nghe tin chị Quỳnh Như mất vì bệnh xơ gan cổ trướng. Ôi,
hình như hai người chưa được ông Tơ bà Nguyệt xe duyên, nên duyên tình chưa thể bén.
Âu cũng là cái số “hồng nhan phận bạc” ở đời!
Trong thời gian hoạt động trong phong trào học sinh sinh viên những năm 60, 61 của thế
kỷ trước. Lê Quang Vịnh còn “quen biết” một người con gái nữa , rất nổi tiếng. Đó là chị
Trần Thị Lý. Trần Thị Lý, người nữ chiến sĩ kiên cường trong bài thơ ”Người con gái Việt
Nam” của nhà thơ Tố Hữu:
Nhờ chị Lý giữ tấm ảnh, và nhờ trí nhớ tuyệt vời của Bác Đồng, các báo đến chỗ chị Lý
mượn ảnh. Nhờ đó, ảnh Lê Quang Vịnh mới được đăng lên báo, làm xúc động người đọc
cả miền Bắc. Anh Vịnh kể với phóng viên Vi Ân, báo Giáo dục và Sáng tạo của Sở Giáo
dục-Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh trong bài “Chuyện một nhà giáo tử tù” .
Vi Ân viết: “Bức ảnh ấy là ảnh anh Vịnh chụp cuối những năm 50 thế kỷ trước để làm thẻ
sinh viên. Một lần ra bưng họp, Lê Quang Vịnh có mang theo tập ảnh gia đình trong người,
trong đó có bức ảnh ấy. Anh Vịnh có đưa cho các bạn gái trong bưng xem. Tấm ảnh đó đã
bị (được?) một người “ém nhẹm” cho riêng mình mà anh không hay. Sau đó anh bị
bắt…”(số báo ra ngày 4/5/2000). Câu chuyện đó có vẻ rất khách quan và đơn phương lắm.
Nhưng điều quan trọng là chị Trần Thị Lý khi ra chữa bệnh ở Hà Nội đã giữ khư khư tấm
ảnh ấy như một báu bật của đời mình. Chị Lý đã có lần khoe với bác Phạm Văn Đồng và
cả bác Tôn Đức Thắng rằng, người trong tấm ảnh là “ giáo sư Lê Quang Vịnh, là người
yêu của cháu”. Trần Thị Lý đã đề vào sau bức ảnh kỷ niệm mối tình của mình câu: “Chờ
anh mãi mãi, âm thầm chờ anh - Đạo Tĩnh”.
Đạo Tĩnh là biệt hiệu của Trần Thị Lý khi hoạt động ở Củ Chi. Thời gian chị đề câu ấy vào
tấm ảnh là tháng 4/1961, lúc chưa bị địch bắt. Lúc đó anh Lê Quang Vịnh cũng chưa bị
bắt. Một người con gái, có thể yêu mê mệt một chàng trai nào đó, nhưng rõ ràng khi chưa
hò hẹn, thì có thể đề câu “chờ anh mãi mãi” được không ? Có lẽ đây là tình yêu của sự hò
hẹn. Và đó mới chính là vẻ đẹp của những tâm hồn trong sáng, cao thượng của những tấm
lòng cách mạng thủy chung. Đó là một “cú sốc tình cảm” lớn đối với Lê Quang Vịnh vì
anh không ngờ mình gặp lại “người đẹp quen biết cũ”, trong lúc đã có vợ sắp cưới là Trần
Thị Kim Khánh. Chị Kim Khánh còn kể cụ thể hơn rằng, trước đó chị Lý đã yêu một người
cháu của cụ Tôn Đức Thắng tên là Tuấn . Khi gặp lại tử tù Lê Quang Vịnh ở Hà Nội, thì
chị đã xin lỗi người yêu... !
Oái oăm là chị Lý lúc đó lại nằm Bệnh viện Việt Xô, ngay cạnh phòng mà anh Vịnh đang
điều trị. Ngày nào anh Tuấn cũng bới cơm cháo đến cho chị Lý, bên này, ngày nào chị
Khánh cũng mang cơm đến cho anh Vịnh. Thời gian này, tử tù Lê Quang Vịnh kiên gan
suốt 15 năm trong lao tù ngục tối của địch, đã phải hoang mang bối rối trước rắc rối tình
cảm. Anh đã có lần nói với chị Khánh rằng: “Thôi em đừng đến với anh nữa. Đàn bà rắc
rối quá !”.
Trần Thị Lý và người nói chuyện là Lê Quang Vịnh, người yêu của tôi ! Ôi, người yêu
tôi đã về!”. Rồi chị lại ngất xỉu, nước mắt giàn giụa.
Người tử tù có một không hai – P2
Lê Quang Vịnh và các anh/Tiểu đội anh hùng của tuổi xanh/Mười hai tên mạnh như
tên lửa/Chấp hết gươm treo, án tử hình/“Tiểu đội anh hùng của tuổi xanh”.
Anh Lê Quang Vịnh (phải) và nhà thơ Ngô Minh.
Đó là khổ thơ mở đầu bài thơ “Tiểu đội anh hùng” nhà thơ Tố Hữu viết sau khi nghe tin
bản tuyên án hà khắc của Tòa án quân sự đặc biệt của ngụy quyền Sài Gòn ngày 23/5/1962
đối với 12 thanh niên sinh viên học sinh yêu nước Sài Gòn- Gia Định.
Hồi đó, nhiều văn nghệ sĩ lớn ở miền Bắc như nữ thi sĩ Anh Thơ, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước,
nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ… đã có ngay những sáng tác rực lửa ca ngợi những người thanh
niên bất khuất, ca ngợi người trí thức hiên ngang Lê Quang Vịnh.
Hình ảnh giáo sư Lê Quang Vịnh hiên ngang trước tòa án binh Sài Gòn trở thành một biểu
tượng cho khí phách của tuổi trẻ miền Nam mà thanh niên miền Bắc thời đó ai cũng xúc
động, cũng nhớ nằm lòng.
Câu chuyện bắt đầu từ năm 1960. Sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt
Nam được thành lập, phong trào sinh viên trong các trường đại học Sài Gòn bị bể trong
năm 1959, nay đã được tổ chức lại. Đã hình thành được Ban cán sự Đảng và Khu đoàn ủy
Thanh niên Sài Gòn – Gia Định, cùng Ban vận động Thanh niên học sinh sinh viên (trong
đó có một chi bộ Đảng sinh viên) do các anh Trần Quang Cơ (Tám Lượng), Hồ Hảo Hớn
(Ba Lực), Lê Minh Châu, Lê Hồng Tư lãnh đạo.
Lê Quang Vịnh là Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành, Trưởng Ban cán sự sinh viên. Năm
1961, trên chủ trương đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh vũ trang để gây áp lực, hỗ trợ
phong trào đấu tranh chính trị.
Lực lượng vũ trang thanh niên, sinh viên đã tiến hành nhiều trận đánh như ném lựu đạn
MK2 vào xe tuần tiễu giết chết 8 tên lính dù ngụy; đốt cháy một kho xăng của quân đội
ngụy, ném thủ pháo vào xe chở Đại sứ Mỹ Nolting, giết hụt tên này; đánh vào cư xá Mỹ;
phục kích diệt tên đại tá cố vấn chỉ huy xây dựng phi trường Tân Sơn Nhất.v.v…
Phong trào đấu tranh vũ trang đã lôi cuốn cả những lính biệt động Sài Gòn như anh Huỳnh
Văn Chính, Nguyễn Văn Mẹo tham gia. Những trận đánh đó làm cho bọn an ninh quân đội
bòng, chúng biết anh là một người lãnh đạo phong trào sinh viên học sinh Sài Gòn…
Những ngày đó, các báo xuất bản ở Sài Gòn liên tiếp đăng tin ảnh “Bắt được hàng chục tên
Việt Cộng ngay giữa Sài Gòn”, “Giáo sư Lê Quang Vịnh, một chỉ huy Việt Cộng đã bị
bắt”.v.v...
Suốt 9 tháng sau khi bị bắt, Lê Quang Vịnh bị chuyển qua nhiều trại giam. Bị tra tấn liên
tục. Mục đích của chúng là tìm ra toàn bộ tổ chức cách mạng trong sinh viên học sinh.
Nhưng chúng không tìm ra chứng cớ gì, cuối cùng chúng ghép anh vào vụ mưu sát đại sứ
Mỹ Noltinh cùng với anh Lê Hồng Tư và 10 thanh niên học sinh khác.
Đến ngày xử án, bọn công an ngụy giam tất cả 12 người vào chung một phòng, nên anh
Vịnh có điều kiện để biết rõ thêm tên tuổi và hoàn cảnh từng người. Các anh còn bàn nhau
khi ra tòa phải thể hiện thái độ như thế nào, xưng hô như thế nào để giữ thể diện, khí tiết là
người cách mạng.
Danh sách “tiểu đội” gồm: Lê Hồng Tư, 27 tuổi, sinh viên, Lê Quang Vịnh, 26 tuổi, giáo
sư; Lê Văn Thành, 20 tuổi, học sinh; Hạ Văn Hiền, 22 tuổi, học sinh; Đỗ Văn Sinh,20 tuổi,
học sinh; Hồ Văn Ngoan, 20 tuổi học sinh; Dương Văn Bình, 27 tuổi, thư ký hãng nước
ngọt; Huỳnh Văn Chính, 27 tuổi, lính biệt động quân ngụy Sài Gòn; Nguyễn Văn Mẹo, 23
tuổi, lính biệt động quân ngụy Sài Gòn; Trần Bạch Vân, 28 tuổi, nhiếp ảnh viên; Nguyễn
Văn Cho, 30 tuổi, tài xế; Nguyễn Tấn Phát, 18 tuổi, học sinh. Những người trẻ tuổi ấy đã
làm chấn động thế giới vì đã chủ động tấn công kẻ địch ngay trước vành móng ngựa…
…
Trên ghế công tố, Lê Văn Khoa, ủy viên Chính phủ ngụy quyền, công tố viên hỏi Lê Văn
Thành:
- Thôi, anh có nhận là đã ném bom vào xe của đại sứ Nolting không?
- Thôi không cần dài dòng. Chính ta đã ném trái thủ pháo đó.
- Tại sao anh lại muốn giết đại sứ Mỹ ?
- Bởi hắn là tên xâm lược. Tôi noi gương liệt sĩ Phạm Hồng Thái đã cài bom tại Sa Diện
năm xưa … Lê Văn Khoa lại khua môi múa mép với Lê Hồng Tư:
- Chà, anh Lê Hồng Tư, mới nhìn qua tôi cũng biết anh thông minh lắm...… Chắc anh đủ
can đảm để nói rõ sự thực về mấy người lính dù bị sát hại chứ?
- Tôi nói sự thật chớ nói dối thì ích gì đây? Nhưng sự thật là thế nào nhỉ?
-Bây giờ cậu có ân hận gì không?
- Ân hận lắm !
- Ân hận thế nào?
Ông ta có vẻ tự đắc hí hửng...…
- Ân hận vì bị chết quá sớm, chưa thực hiện được chí nguyện đuổi Mỹ, lật Diệm !... Ông
Uy tái mặt trước câu trả lời của tôi.”
…
Đó là 3 đoạn trích trong hồi ức “Phiên tòa lịch sử” của Lê Quang Vịnh kể về việc đối đáp
hiên ngang giữa Lê Văn Thành, Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh với bọn quan tòa ngụy quyền
Sài Gòn tại phiên tòa đặc biệt xét xử vụ án Hội Liên hiệp Sinh viên học sinh giải phóng
miền Nam do tòa án quân sự đặc biệt Sài Gòn xử ngày 23/5/1962.
Đoạn hồi ức in trong cuốn Từ trái tim người tù yêu nước của Lê Quang Vịnh, do Nhà xuất
bản Thuận Hóa ấn hành năm 2006. Đến phiên người nào bị thẩm vấn, người đó đều đối
đáp thông minh và khí phách làm cho kẻ xử án phải bối rối, run rợ. Những người thanh
niên Sài Gòn ấy đã biến vành móng ngựa tòa án binh địch thành nơi luận tội bọn xâm lược
và bọn tay sai bán nước.
Tại phiên tòa này, bố Lê Hồng Tư và mẹ Lê Quang Vịnh cũng được những người quen
ngầm báo, nên cũng có mặt. Không được gặp nhau, nhưng qua ánh mắt nhìn, người cha,
người mẹ ấy đã truyền được sự yêu thương nồng ấm, sự tin cậy đến những đứa con yêu
quý của mình. Họ đã khóc vì thương con, nhưng họ cũng đã chứng kiến khí phách hiên
ngang, bất khuất của con mình trước kẻ thù.
Đến 12 giờ khuya hôm ấy, phiên tòa mới kết thúc. Chúng tuyên án tử hình 4 người là Lê
Hồng Tư, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Thành và Huỳnh Văn Chính, 3 án chung thân và 5 án
“tù ở” (tức tù giam) từ 5 – 15 năm.
Những người tù bị còng thành từng cặp, tay người này còng với tay người khác. Bản án
vừa tuyên xong, anh Lê Hồng Tư giơ cao cánh tay phải không bị còng thét lên:” Đả đảo
luật phát xít 10/59 của ngụy quyền miền Nam!”. Cả “tiểu đội tù” đồng thanh hô theo: ”Đả
đảo! Đả đảo! Đả đảo!…”…
Khi đoàn tù bị hiến binh kéo ra xe, tiểu đội tù bỗng bùng lên tiếng hát hào hùng: ”Vùng lên
nhân dân miền Nam anh hùng. Vùng lên xông pha vượt qua bão bùng. Thề cứu lấy nước
Cũng có Giao thừa, bốc quá, hát to: Nước mắt rưng rưng tràn má hóp/ Quốc ca ta hát vọng
ra ngoài (thơ LQV). Thế là bọn lính canh Chuồng lấy sào thọc tới tấp từ trên song sắt
xuống. Nếu còn hát tiếp, nó rắc vôi bột xuống trắng cả tóc tai. Thế mà anh em tù Chuồng
Cọp, Hầm Đá cứ Tết đến, hay ngày Quốc khánh 2/9 là đứng nghiêm trang “chào cờ tưởng
tượng”, rồi hát Quốc ca, Lãnh tụ ca.
Có lần anh em tù Hầm Đá tổ chức ăn Tết ầm ĩ quá, bọn địch dùng chày vồ mở cửa chuồng
đánh tới tấp, vẫn không chịu im, chúng dùng thủ pháo chứa hơi ngạt ném vào chuồng, làm
mọi người ngất xỉu. Có đêm Giao thừa tại Chuồng Cọp Trại 7, sư Hành Tuệ, một nhà sư
đấu tranh cho hoà bình thống nhất đất nước, bị đày ra Côn Đảo, bị giam ở cạnh chuồng anh
Vịnh.
Không biết nhà sư hỏi ai mà biết người bên kia bức tường là “giáo sư Lê Quang Vịnh”.
Đang đêm nhà sư lấy ghét bẩn trên thân thể mình vê thành hòn đất bằng lóng tay, ném sang
chuồng của anh Vịnh, rồi hô to: ”Năm mới, chào giáo sư”. Anh Vịnh hỏi người đưa cơm,
biết chuồng bên kia là sư Hành Tuệ, nên hôm sau cũng đáp lại “Chúc Tết Sư thầy”. Bọn
lính canh rầm rập chạy tới thì tất cả đã im ắng. Đó là những lời chúc năm mới hiếm hoi
trong Chuồng Cọp Côn Đảo. Năm 1972, sư Hành Tuệ do không chịu hô khẩu hiệu “Đả đảo
cộng sản Hồ Chí Minh”, đã bị bọn cai tù đánh chết trong Chuồng Cọp Mỹ.
“Chúa Đảo” quy định tiêu chuẩn cho tử tù ăn 3 tháng được 100 gam thịt, một ngày 450
gam cơm (hai dĩa). Nhưng ngày Tết chúng cho thêm trên đĩa cơm mang vào Chuồng một
hai miếng thịt. Có thể gọi đó là “Khẩu phần Tết”.
Anh em tù đi lao động khổ sai thì Tết nhất có khá hơn. Khi đi làm ở các “Sở” (tổ chức lao
động khổ sai theo nghề, như sở vôi, sở đá…) họ kiếm được con cá dưới ruộng, bông hoa
rừng, làm cho cái Tết cũng tươi hơn chút ít.
Anh Lê Quang Vịnh cho rằng, trong 8 năm biệt giam trong Chuồng Cọp, Hầm Đá và 4
năm chung thân khổ sai, có hai cái Tết ấn tượng nhất đối với anh. Đó là Tết Mậu Thân
1968 và Tết năm 1971.
Ngày mùng 2 Tết Mậu Thân, anh Vịnh đang ở Chuồng Cọp II, bỗng nhiên địch mở cửa,
tháo còng, lôi ra khỏi chuồng. Sau đó chúng đưa anh cùng các tử tù Lê Hồng Tư, Lê Minh
Châu, Trương Thanh Danh lên tàu thủy Mỹ chở về Sài Gòn. Tuy vẫn bị còng chân, nhưng
4 người tù được hít thở khí Xuân đất trời. Khi tàu vô tới Tân Cảng Sài Gòn, các anh thấy
phần là cộng sản) và tù thường phạm (có nhiều kẻ xấu). Nhờ đó anh em dễ bề hoạt động
hơn.
Có trại anh em cấm cố tổ chức “Đài phát thanh Giải phóng”. Bụm tay làm loa, cuộn tấm
nệm nằm làm loa chĩa lên trời hô lớn: ”Mỹ thua Mỹ về Mỹ. Quân đội thua quân đội về đâu
? Xin các ông nghĩ lại!”. Họ “phát thanh” liên tục, đêm nói, ngày nói, nói tháng này qua
tháng khác, làm cho bọn nguỵ quân cai tù cũng nao núng, chùn tay đàn áp...
Tết đó, Lê Quang Vịnh ở hầm số 14 trong Hầm Đá trại 3 gồm một dãy 14 hầm. Các hầm từ