GỢI Ý ĐÁP ÁN CẢI CÁCH THU TỤC HÀNH CHÍNH
CÓ THỂ THAM KHẢO THÊM TRÊN TRANG Web :
sonoivudaklak.gov.vn
Câu 1
Mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính
nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 là :
- Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh,
chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên
tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng;
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu
cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp
với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Những mục tiêu cụ thể của Chương trình CCHC là:
Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp
với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước hết là các thể chế
về kinh tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính.
Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật, khắc phục tính cục bộ trong việc chuẩn bị, soạn thảo các văn bản;
đề cao trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình xây dựng thể chế; phát
huy dân chủ, huy động trí tuệ của nhân dân để nâng cao chất lượng văn bản
quy phạm pháp luật.
Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm
rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành
chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân.
Các cơ quan trong hệ thống hành chính được xác định chức năng,
nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng; chuyển được một số công
việc và dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan nhà nước thực hiện cho
doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận.
Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc Bộ
quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế về tổ chức và
hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước.
Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan
nhà nước, của cán bộ, công chức
Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính
2. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính
Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho
phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới
Từng bước điều chỉnh những công việc mà Chính phủ, các Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương đảm
nhiệm để khắc phục những chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ.
Chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ hoặc doanh nghiệp
làm những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính
nhà nước trực tiếp thực hiện.
Đến năm 2005, về cơ bản ban hành xong và áp dụng các quy định mới
về phân cấp trung ương - địa phương, phân cấp giữa các cấp chính quyền địa
phương, nâng cao thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương,
tăng cường mối liên hệ và trách nhiệm của chính quyền trước nhân dân địa
phương. Gắn phân cấp công việc với phân cấp về tài chính, tổ chức và cán
bộ. Định rõ những loại việc địa phương toàn quyền quyết định, những việc
trước khi địa phương quyết định phải có ý kiến của trung ương và những
việc phải thực hiện theo quyết định của trung ương.
Bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ
Điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
Cải cách tổ chức bộ máy chính quyền địa phương
Cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính
các cấp
cơ chế, chính sách thực hiện chế độ tự chủ tài chính cho các đơn vị sự
nghiệp có điều kiện như trường đại học, bệnh viện, viện nghiên cứu v.v...
trên cơ sở xác định nhiệm vụ phải thực hiện, mức hỗ trợ tài chính từ ngân
sách nhà nước và phần còn lại do các đơn vị tự trang trải.
Thực hiện thí điểm để áp dụng rộng rãi một số cơ chế tài chính mới,
như :
+ Cho thuê đơn vị sự nghiệp công, cho thuê đất để xây dựng cơ sở nhà
trường, bệnh viện; chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với cán bộ,
công chức chuyển từ các đơn vị công lập sang dân lập;
+ Cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đầu tư
phát triển các cơ sở đào tạo dạy nghề, đại học, trên đại học, cơ sở chữa bệnh
có chất lượng cao ở các thành phố, khu công nghiệp;
Đổi mới công tác kiểm toán đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự
nghiệp nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả sử dụng kinh phí từ ngân
sách nhà nước, xóa bỏ tình trạng nhiều đầu mối thanh tra, kiểm tra, kiểm
toán đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.
Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch về tài chính công, tất cả các
chỉ tiêu tài chính đều được công bố công khai.
Các giải pháp chủ yếu
1.Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành
Để thực hiện được Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà
nước giai đoạn 2001 - 2010 cần có quyết tâm chính trị của các cấp lãnh đạo
cao của Đảng và Nhà nước, của những người đứng đầu các cơ quan hành
chính các cấp.
2.Thực hiện cải cách hành chính đồng bộ với đổi mới hệ thống
chính trị
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 -
2010 phải được tổ chức thực hiện đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị.
Đảng lãnh đạo toàn bộ hoạt động của Nhà nước, trong đó bộ máy hành pháp
là công cụ quan trọng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng.
Thực hiện xong về cơ bản việc phân cấp chức năng và thẩm quyền về
quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương; giữa các cấp chính quyền
địa phương;
Đổi mới cơ chế hoạt động và quản lý tài chính công đối với các cơ
quan hành chính, đơn vị sự nghiệp;
Thực hiện xong về cơ bản việc cải cách chế độ tiền lương cán bộ,
công chức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng.
Giai đoạn 2 (2006 - 2010) : Trên cơ sở các kết quả đã đạt được trong
giai đoạn 1, tiếp tục điều chỉnh, hoàn chỉnh, làm cho bộ máy của Chính phủ
và toàn bộ hệ thống quản lý hành chính nhà nước phù hợp với yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội, thực hiện được mục tiêu chung của Chương trình tổng
thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010.
Khâu được lựa chọn là khâu đột phá trong cải cách hành chính
là:
Cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá quan trọng nhưng cũng
chỉ như cải cách phần ngọn. Để chuyển từ nền hành chính quản lý sang hành
chính phục vụ chuyên nghiệp, cần thay đổi thói quen làm việc của nhân sự
biên chế trong cơ quan hành chính; phân công, phân cấp nhiệm vụ, quyền
hạn rõ ràng, rành mạch, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Và một giải pháp nằm trong tầm tay của các cơ quan dân cử là kiểm soát,
giám sát chặt chẽ việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy
phạm pháp luật, để không tạo thêm các thủ tục hành chính bất hợp lý.
Vậy Con người là khâu quan trọng nhất, khâu đột phá trong cải cách
hành chính. Muốn có một nền hành chính tiên tiến phải có con người công
bộc chuyên nghiệp và trong sạch.
Câu 2:
1. Cải cách thể chế:
Kết quả chủ yếu đã đạt được:
a. Thể chế
- Tỉnh tăng cường công tác cải cách thể chế, ban hành các văn bản quy
tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh. Thể chế hành chính đã làm rõ chức năng, nhiệm vụ,
thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan trong hệ thống hành chính để
thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao sau khi chia tách, sáp nhập,
từng bước thể hiện sự phân cấp trong quản lý, loại bỏ phần lớn chồng chéo
và trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ và bước đầu phân biệt rõ hoạt động của
cơ quan hành chính với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp dịch vụ công; các
văn bản pháp luật về công vụ, cán bộ, công chức đã quy định khá cụ thể các
quyền, nghĩa vụ của các cán bộ, công chức, tạo điều kiện cho hoạt động
đánh giá cán bộ công chức.
- Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền trên địa
bàn tỉnh cùng với các văn bản pháp quy của Chính phủ, Bộ ngành liên quan
đã tạo được một hàng lang pháp lý tương đối đầy đủ và có nhiều nét mới có
lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân. Cụ thể, Thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp trước đây từ 32% xuống còn 28% và năm 2009 đã giảm xuống
chỉ còn 25%; về thuế thu nhập cao, nhiều người nộp thuế trước đây khi
chuyển sang Luật thuế thu nhập cá nhân thì số thuế phải nộp ít hơn hoặc
không phải nộp nếu có nhiều người phụ thuộc; thời gian làm thủ tục cho 1
bộ tờ khai xuất khẩu và nhập khẩu thuộc lĩnh vực Hải quan đã giảm đáng kể
so với trước đây, thời gian trung bình cho 1 bộ tờ khai xuất khẩu luồng xanh
là 5-10 phút, luồng vàng là 10-30 phút và luồng đỏ là 60-120 phút kể từ khi
doanh nghiệp xuất trình hàng hóa để kiểm tra.
- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân được Quốc hội thông qua năm 2004 đã tạo cơ sở pháp
lý cho việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa
phương, góp phần khắc phục tình trạng tuỳ tiện trong việc soạn thảo và ban
hành văn bản, đưa công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các
cơ quan chính quyền nhà nước vào nề nếp nhằm từng bước hoàn thiện hệ
thống thể chế, tăng cường tính pháp quyền của nhà nước
đúng trình tự thủ tục, thẩm quyền, thời gian ban hành; nội dung được dựa
trên các văn bản quy định hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền, đồng
thời xem xét, đánh giá đưa ra các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ phù
hợp với thực tiễn của địa phương.
- Tỉnh tiến hành 16 đợt rà soát văn bản quy phạm pháp luật do
HĐND, UBND tỉnh ban hành. Kết quả đã rà soát 39.356 văn bản, trong đó
có 2.246 văn bản quy phạm pháp luật đã được nghiên cứu, đánh giá...Qua
đó, HĐND,UBND tỉnh đã công bố hết hiệu lực và bãi bỏ 630 văn bản, gồm :
56 Nghị quyết của HĐND và 574 văn bản của UBND, trong đó có hàng
trăm văn bản có liên quan đến thủ tục hành chính, đồng thời sửa đổi, bổ sung
hoặc thay thế đối với hàng chục văn bản khác; in hơn 3.000 tập “Văn bản
quy phạm pháp luật hiện hành của UBND tỉnh” và gần 2.000 đĩa CD Rom
“Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh” để cấp phát
cho các Sở, ngành, địa phương trong tỉnh làm cơ sở triển khai thực hiệm
nhiệm vụ được giao.
b. Đơn giản hóa thủ tục hành chính:
Trên cơ sở chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Tổ
công tác chuyên trách Thủ tướng Chính phủ, tỉnh nghiêm túc và tích cực
triển khai giai đoạn thống kê thủ tục hành chính. Giám đốc các Sở, ban,
ngành; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và các xã,
phường, thị trấn đã tập trung chỉ đạo và thực hiện tốt những nhiệm vụ trọng
tâm như: tổ chức nghiên cứu, phổ biến, quán triệt nội dung Đề án 30, các
văn bản có liên quan của Trung ương và tỉnh đến toàn thể cán bộ công chức
thuộc phạm vi quản lý, nhất là đối với các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm
thống kê, rà soát thủ tục hành chính; trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc
thực hiện Đề án 30, bố trí cán bộ, công chức có năng lực, trình độ, am hiểu
về thủ tục hành chính chịu trách nhiệm chính làm đầu mối thực hiện Đề án
30 tại cơ quan, đơn vị, địa phương theo hướng dẫn của Tổ công tác thực
hiện Đề án 30 của tỉnh, đăng ký danh sách với tổ công tác của tỉnh và chịu
trách nhiệm về kết quả thực hiện Đề án 30 ở cơ quan, đơn vị, địa phương
tướng Chính phủ. Giai đoạn 2, tỉnh đã tiến hành rà soát 1.377 thủ tục hành
chính hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các Sở, ngành và của
UBND cấp huyện, cấp xã; trong đó, tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức,
người dân và doanh nghiệp đối với 239 thủ tục hành chính thuộc 14 lĩnh vực
phức tạp, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp bằng các hình thức
như: thông qua các cuộc hội thảo tham vấn, bằng văn bản, qua các kênh
thông tin và tổ chức rà soát độc lập thủ tục hành chính… Tỉnh đã thông qua
phương án đơn giản hoá thủ tục hành chính, trong đó kiến nghị giữ nguyên
494 thủ tục (chiếm 35,87%), có 812 thủ tục kiến nghị thay thế, bãi bỏ (đạt
64,12% trên tổng số thủ tục hành chính của tỉnh có kiến nghị đơn giản hóa
các quy định về thủ tục hành chính) đảm bảo vượt chỉ tiêu của Thủ tướng
Chính phủ giao đơn giản hóa tối thiểu 30% các quy định về thủ tục hành
chính và ban hành các Quyết định thực thi Phương án đơn giản hóa thủ tục
hành chính do tỉnh quy định, được Trung ương đánh giá cao là 1 trong 10
đơn vị trên 63 tỉnh, thành triển khai thực hiện tốt Đề án 30 của Thủ tướng
Chính phủ. Tỉnh đang triển khai giai đoạn 3 thực thi các phương án đơn giản
hóa thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh.
c. Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông:
Thực hiện giai đoạn 1 của Dự án cải cách hành chính tỉnh Đắk Lắk do
Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch tài trợ, tỉnh đã chọn UBND huyện Ea
Kar, UBND huyện Krông Pắc, UBND thành phố Buôn Ma Thuột và Sở Địa
chính (nay là Sở Tài nguyên và Môi trường) thí điểm Tiểu dự án thực hiện
Cải cách hành chính theo mô hình một cửa trong cấp giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đô thị tại thành phố Buôn Ma Thuột
theo Quyết định số 3191/QĐ-UB ngày 20/11/2000 của UBND tỉnh, về việc
phê duyệt Đề án Cải cách hành chính theo mô hình “một cửa” tại UBND
thành phố Buôn Ma Thuột; Quyết định số 3192/QĐ-UB ngày 20/11/2000
của UBND tỉnh, về việc phê duyệt Đề án cải cách thủ tục hành chính theo
mô hình “một cửa” tại UBND huyện Krông Pắc; Quyết định số 992/QĐ-UB
ngày 10/4/2001 của UBND tỉnh, về việc phê duyệt Đề án Cải cách thủ tục
Ngày 22/6/2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
93/2007/QĐ-TTg, ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một
cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (gọi tắt là
Quyết định 93 thay cho Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003
của Thủ tướng Chính phủ). Trên cơ sở đó, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch
số 3360/KH-UBND ngày 11/9/2007 về việc thực hiện Quyết định 93 của
Thủ tướng Chính phủ; phê duyệt đề án cải cách hành chính theo cơ chế một
cửa trong việc cung cấp dịch vụ công tại 11 Sở và Ban quản lý các khu công
nghiệp thuộc tỉnh.
Đến nay, có 20/27 cơ quan cấp tỉnh (8 đơn vị ngành dọc) được cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt Đề án cải cách thủ tục hành chính theo mô
hình “một cửa”, trong đó có 15 Sở, 01 Ban và 4 đơn vị ngành dọc đóng trên
địa bàn tỉnh; gồm: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Thông tin và
Truyền thông, Sở Lao động - Thương binh và xã hội, Sở Giao thông vận tải,
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa
học và Công nghệ, Sở Tài chính, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch; Sở Tư
pháp, Sở Ngoại vụ, Sở Y tế, Sở Công thương, Sở Nội vụ, Ban quản lý các
khu công nghiệp, Công an tỉnh, Cục thuế tỉnh, Bảo hiểm xã hội tỉnh, Kho
bạc nhà nước tỉnh. 15/15 huyện, thành phố, thị xã và 184/184 xã, phường,
thị trấn trên địa bàn tỉnh triển khai thực hiện tiếp nhận và trả kết quả theo
quy định thống nhất về lĩnh vực, trình tự tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục
hành chính theo cơ chế một cửa tại UBND huyện, thị xã, thành phố và tại
UBND xã, phường, thị trấn, đạt 100%. Theo đó, Bộ phận tiếp nhận và trả kết
quả thuộc Văn phòng UBND cấp huyện thực hiện 88 thủ tục hành chính
gồm 8 lĩnh vực: đăng ký kinh doanh, đất đai, quản lý đô thị, đầu tư xây
dựng, hộ tịch, chứng thực, Lao động Thương binh và Xã hội, giáo dục đào
tạo; Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND cấp xã thực hiện 79 thủ tục
hành chính với 5 lĩnh vực: hộ tịch, chứng thực, đất đai, xây dựng, Lao động
Thương binh và Xã hội.
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả các cấp được bố trí 02-03 cán bộ
dân đến liên hệ giải quyết công việc, tăng cường chất lượng cung ứng dịch
vụ hành chính công, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Một số đơn vị đã ứng dụng phần mềm trong việc tiếp nhận hồ sơ, thủ tục
hành chính và mẫu hóa các loại phiếu theo đặc thù riêng của đơn vị nhưng
vẫn đảm bảo các nội dung theo hướng dẫn để theo dõi, kiểm tra và tổng hợp
như UBND thành phố Buôn Ma Thuột, Sở Giáo dục và Đào tạo. Sở Kế
hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Tư pháp
niêm yết công khai quy trình Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn
ISO 9001-2000 lĩnh vực đăng ký kinh doanh, thẩm định dự án và cấp giấy
chứng nhận đầu tư, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, cấp giấy phép hoạt động khoáng sản, cấp phép hoạt động tài
nguyên nước, cấp phép hoạt động đo đạc bản đồ, cấp phép xây dựng, thẩm
định văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Các
cơ quan, đơn vị đã áp dụng hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng trong
giải quyết dịch vụ hành chính công, tăng cường công tác phối hợp nội bộ
giữa bộ phận một cửa và các phòng chuyên môn, từng bước nâng cao chất
lượng xử lý, giải quyết các công việc cho tổ chức, công dân đem lại sự hài
lòng cho công dân, tổ chức khi đến giao dịch với cơ quan nhà nước. Các
đơn vị có sự điều chỉnh, đổi mới và áp dụng công nghệ thông tin, hệ thống
quản lý chất lượng nên đã rút ngắn quy trình, thời gian giải quyết công
việc như: Sở Khoa học và Công nghệ, rút ngắn thời gian cấp phép hoạt
động cho các cơ sở bức xạ từ 65 ngày xuống còn 30 ngày, bổ sung hồ sơ
xin cấp phép không quá 2 lần so với 4 lần trước đây; Sở Tài chính, triển
khai thực hiện một số thủ tục như: xác định đơn giá, thẩm định đầu tư -
dự toán, thẩm tra phương án từ 10 ngày xuống còn 7 ngày; Cục Hải quan
tỉnh thực hiện thông quan khai báo từ xa thông qua mạng điện tử (hồ sơ
điện tử); Công an tỉnh bố trí 4 tổ làm chứng minh nhân dân lưu động đi
xuống các huyện, xã để làm và trả chứng minh nhân dân (CMND), đến
tận nhà một số người dân có hoàn cảnh khó khăn để thực hiện thủ tục
này. Thời gian cấp phát CMND rút ngắn từ 15 ngày xuống còn 7 ngày;
sơ đăng ký tới phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư qua mạng
điện tử (Website: ), phòng Đăng ký kinh doanh
sẽ thông báo và hướng dẫn sửa đổi, bổ sung (nếu có) cho người thành lập
doanh nghiệp qua mạng điện tử.
Tuy nhiên, còn một số tồn tại: do thời gian rút ngắn chỉ còn 05 ngày,
cán bộ trực tiếp xử lý hồ sơ phải làm việc ngoài giờ để đảm bảo thời gian
theo quy định; việc giao, nhận hồ sơ giữa Tổ 1 cửa của Sở KH&ĐT và Cục
Thuế tỉnh phải thực hiện thường xuyên hàng ngày (vào lúc 16h 30) nên thời
gian người trực tiếp giao, nhận hồ sơ và chi phí (xăng xe) tăng thêm; Cục
Thuế tỉnh cấp sai mã số cho 1 số DN, dẫn đến phòng ĐKKD phải xử lý lại,
doanh nghiệp phải tốn kém thời gian, tiền bạc trong việc làm lại con dấu;
trường hợp người kinh doanh đã có mã số thuế trước khi thành lập DN, Sở
KH&ĐT nhận hồ sơ ĐKKD và chuyển đến Cục Thuế để cấp mã số doanh
nghiệp, thời gian cấp mã số DN phải phụ thuộc vào việc Chi Cục thuế quản
lý thuế trực tiếp xử lý đóng mã số thuế cũ.
Cục thuế tỉnh đã phối hợp với Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện liên thông về việc xác định
nghĩa vụ tài chính về đất đai như tiền thuê đất; thu tiền sử dụng đất (thuế
TNCN, lệ phí trước bạ).
Sở Lao động Thương binh và Xã hội đang tổ chức lấy ý kiến quy
trình giải quyết hồ sơ trong lĩnh vực chính sách ưu đãi người có công với
cách mạng theo cơ chế một cửa liên thông.
Theo đánh giá từ phía cơ quan nhà nước việc áp dụng cải cách hành
chính theo cơ chế một cửa đã tạo ra sự thống nhất trong hệ thống hành
chính; nâng cao nhận thức cho cán bộ lãnh đạo, công chức trong quá trình
giải quyết các yêu cầu của tổ chức và công dân, góp phần thay đổi hoạt động
cụ thể của cơ quan hành chính từ thụ động sang chủ động phục vụ, đem lại
sự hài lòng cho công dân, tổ chức. Tuy nhiên, đánh giá từ phía nội bộ cơ
quan nhà nước là chưa đủ, một kênh thông tin thiết thực từ người dân,
doanh nghiệp là cần thiết để kiểm soát, đánh giá những nổ lực của các cơ