Cấu trúc nhịp thơ và nhạc âm của thơ
TRẦN THIỆN KHANH
1. Cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài của nhịp
Tại sao ta xếp bài thơ này vào thể lục bát, song thất lục bát, còn bài thơ kia lại
được đặt vào thể thất ngôn, ngũ ngôn...? Sở dĩ, chúng ta nhận diện được hình
thức bên ngoài của từng lối thơ ấy, vì ta nhìn thấy qui luật ngắt nhịp, ngắt dòng
của chúng khác nhau. Tính có nhịp điệu, và sự ngắt nhịp liên tục, từ lâu đã trở
thành yếu tố nhận diện thơ khác với văn xuôi, bài thơ này khác với bài thơ kia...
Nói cách khác, tính thơ nằm ở tính có nhịp điệu và sự hiệp vần của nó.
Từ lâu, chúng ta hiểu nhịp thơ chỉ là yếu tố bên ngoài, một yếu tố của hình thức
cụ thể cảm tính. Nay hiểu thêm, nhịp thơ là một yếu tố bên trong tạo hình thức
thơ, hình thức câu thơ. Sự sắp đặt các khổ thơ luôn luôn biểu hiện tương quan
giữa các nhịp điệu. Tương quan giữa các nhịp trong một câu thơ, dòng thơ... tạo
nên tính hệ thống, tính nội dung cho cấu trúc nhịp điệu của toàn bộ thi phẩm.
Nhịp điệu nằm bên trong bản thân kiến trúc ngôn từ và qui định kiểu kiến trúc ấy.
Muốn khám phá cấu trúc nhịp thơ, độc giả còn phải đi qua cái khoảng không vô
hình do các bước thơ tạo ra. Mỗi lần đi qua các bước thơ độc giả sẽ có những
cảm nhận, cảm giác khác nhau về tính thơ, về nội dung thông tin, biểu cảm tiềm
tàng ở phát ngôn thơ. Đi từ bước thơ này đến bước thơ kia phải mất một khoảng
thời gian nhất định và ngắt nhịp không hợp lí câu thơ sẽ vô nghĩa.
Có cấu trúc nhịp điệu bên trong và cấu trúc bên ngoài của nhịp điệu. Cấu trúc
bên ngoài biểu hiện ở cách trình bày nhịp câu thơ, nhịp khổ thơ, ở việc sử dụng
dấu câu của tác giả và khuôn nhịp chung của thể loại. Cấu trúc bên trong một
mặt ứng với nguyên tắc tổ chức nhịp điệu của từng chủ thể, mặt khác nó do nhịp
sống, tốc độ sống, cách sống của đối tượng gợi ra. Cấu trúc bên trong thể hiện
tương quan nội dung mang hình thức nằm bên trong cấu trúc bên ngoài của nhịp
điệu. Độc giả không thể đếm được nhịp bên trong của bài thơ, của đối tượng
miêu tả, mà chỉ có thể cảm được, nghe được, tưởng tượng thấy nó.
Để hiểu rõ về cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài của nhịp, dưới đây chúng
ta thử tìm hiểu một đoạn thơ của Hoài Vũ:
Anh phải về thôi, xa em thôi!
giọng điệu. Bề ngoài, nhịp thơ đầu thể hiện hành động dứt khoát, song bên trong
chứa đựng nỗi đau chia lìa. Nhịp thứ hai có âm hưởng ngậm ngùi, song lại gần
với một lời nhắc nhở khéo léo. Nhắc nhở để chờ đợi điều gì đó thường xảy ra.
Đến đây có thể kết luận: sự phức hợp của tâm trạng tạo nên sự phức hợp của
giọng điệu. Toàn bộ sự phức hợp đó, trên một mức độ đáng kể chuyển hoá
thành cơ chế cấu trúc nhịp thơ.
Câu thơ đầu kết thúc bằng vần "ôi". Câu thơ thứ hai và câu thơ thứ tư lặp lại
nguyên vẹn khuôn vần đó để tạo nên âm vang ngôn từ, âm vang cảm xúc. Nếu
câu thơ thứ hai, câu thơ thứ tư không gieo vần "ôi" hoặc gieo vần, nhưng không
hoàn toàn trùng hợp với khuôn vần đó, chắc chắn âm điệu câu thơ sẽ khác. Sự
"khác" này sẽ làm giảm đi cái ấn tượng ban đầu của chúng ta về hình thức của
phát ngôn ta mà ta vừa nghe thấy trước đó. Chẳng hạn tính nhạc, tính thơ của
nó sẽ bị giảm sút. Vì rằng, tính thơ, tính nhạc của phát ngôn không phải lúc nào
cũng xuất hiện theo cơ chế nội sinh, mà ta thường thấy nó hiện ra khi có sự
tương tác, chuyển hoá uyển chuyển, nhịp nhàng giữa các hệ thống ngôn từ.
Thật vậy, câu thơ "Anh phải về thôi, xa em thôi" tách hai nhịp để đánh dấu giọng
và điệp vần "ôi" để củng cố tính nhạc cho nó. Ta nói hệ thống ngôn từ của câu
thơ trong sự vận động đặc thù của nó đã tạo nên tính nhạc. Tính nhạc này trở
nên nổi bật hơn khi nó tương tác, chuyển hoá sang hệ thống vần nhịp của các
câu thơ tiếp theo. Đối với trường hợp sau này, tôi nói tính nhạc hình thành theo
cơ chế ngoại sinh. Tôi quan sát thấy có hai nguyên tắc tạo nhạc cho thơ: a)
nguyên tắc 1, bao gồm: lặp vần để truyền âm; lặp thanh điệu để tạo âm hưởng
vang vọng; lặp cấu trúc câu để tạo nên một giai điệu nào đó; b) nguyên tắc 2, đối
lập và bổ sung cho nguyên tắc 1 ở chỗ: nó thường xuyên tạo ra sự vênh lệch,
trật khớp giữa các hệ thống ngôn từ. Lặp để tạo các điểm nhấn tu từ, còn vênh
lệch, trật khớp nhằm tạo nên sự đa dạng về âm thanh.
2. Nhạc âm của ngôn ngữ thơ
Theo các nhà vật lí, trong các loại âm mà tai chúng ta cảm thụ được, thì tiếng
hát, tiếng đàn... có một tần số hoàn toàn xác định, tức đối với những loại âm đó,
chúng ta có thể đo được biên độ và tần số dao động của nó. Và để phân biệt nó
ở đó, mỗi câu thơ thường có cách thức tổ chức khác nhau. Giá trị thẩm mỹ của
sự hiệp vần, cùng ý nghĩa của các khuôn nhịp đến đâu phụ thuộc vào "ngưỡng
nghe", ngưỡng cảm" - ngưỡng tiếp nhận của độc giả. Độc giả tự nghe, tự cảm,
tự phát hiện ra ý nghĩa tiềm tại ở cấu trúc nhịp điệu và tổ chức ngữ âm của văn
bản ngôn từ. Câu thơ nhiều thanh bằng, nhạc âm sẽ trầm. Dòng thơ toàn thanh
trắc, nhạc âm của nó sẽ cao và vang. Dòng thơ ngắn sẽ có âm hưởng khác với
dòng thơ dài; sự phối hợp giữa chúng sẽ để lại một kiểu âm khác với cấu trúc
câu thơ đều đặn. Tất cả điều này được giải thích từ tổ chức âm thanh, tổ chức
nhạc âm đặc trưng của nó. Mỗi câu thơ có một miền chúng ta nghe được, có
một vùng chúng ta chỉ cảm thấy. Miền chúng ta nghe được do sự cộng hưởng
của thanh điệu, vần điệu... tạo thành. Vùng chúng ta chỉ cảm thấy thuộc loại
"sóng siêu âm" do sự giao thoa giữa các hệ thống ngôn từ để lại. Nhạc âm được
lĩnh hội bằng kinh nghiệm, bằng thính giác. "Sóng siêu âm" của ngôn từ được
lĩnh hội bằng trực giác, bằng sự đồng cảm. Vì thế, không phải bao giờ chúng ta
cũng cắt nghĩa được rạch ròi cái âm hưởng nào đã cuốn hút ta, mê hoặc ta.
Hiện tượng này được chứng minh rõ hơn - khi lần đầu tiên ta tiếp xúc với bài thơ
nào đó - dù chưa hiểu hết ý nghĩa của nó, nhưng ta vẫn cảm thấy nó rất hay, cái
hay đầu tiên ta cảm thấy rõ rệt ở nhạc âm của nó. Tôi cho rằng mỗi bài thơ có
một loại nhạc âm. Nhạc âm đó có thể phù hợp với ngưỡng nghe của ta, sự chờ
đợi của ta, niềm ham thích của ta. Khi chúng ta vui, chúng ta sẽ nghe thấy nhạc
âm của bài thơ khác với lúc chúng ta buồn, một người thích kiểu thơ giàu tính
nhạc sẽ không mấy mặn mà trước lối thơ có năng lượng nhạc âm thấp.
Trên phương diện nhạc âm, có thể chia thơ thành hai loại: thơ nhạc và thơ phản
nhạc.
Tôi gọi thơ nhạc - tất cả những bài thơ chú trọng đến sự hiệp vần và tổ chức
nhịp điệu. Thơ nhạc thuần chất thì chỉ có giọng một bè, ít có sự gián đoạn hoặc
mâu thuẫn nội tại. Nhạc âm của thơ nhạc chỉ đặc trưng cho một thể loại mà nó
thuộc vào. Ví dụ nhạc âm của thơ lục bát khác với nhạc âm của thơ thất ngôn.
Trong phạm vi hẹp, chúng tôi dùng khái niệm Thơ nhạc để chỉ loại hình thơ cổ
điển. Thơ cổ điển qui định cụ thể về cách thức tổ chức ngữ âm, tổ chức thanh