Bài soạn Lời dạy của đức Phật 1 - Pdf 82

Những lời dạy của Đức Phật
Tu nữ Ngọc Duyên
Tịnh thất Siêu Lý, Thốt Nốt, Cần ThơLỜI NÓI ĐẦU
Niềm Hỷ Lạc thấm nhuần sâu đậm trong lòng chư Phật tử khi được tiếp cận với Giáo Pháp của Đức Thế
Tôn.
"Lời Dạy Của Đức Phật" luôn sống động, nhẹ nhàng, bình dị, nhưng thiết thực và tuyệt diệu. Nơi đây,
một số ít bài kệ trong "Kinh Pháp Cú" được trích dẫn, rất tối cần và gần gũi nhất đối với mọi hạng người
trong dân gian. Những lời kinh như một suối nguồn vang động, khêu gợi sự dũng mảnh hướng lên bờ
giải thoát cho chính mình. Lời dạy của Đấng Cha Lành bao hàm những kinh nghiệm giác ngộ của Đấng
Toàn Giác. Mỗi bài kinh là một trưởng thành cao tột của trí tuệ, phá vỡ những ưu phiền trong cân não
nội tâm.
Nhận thấy sự lợi ích thiết thực của "Kinh Pháp Cú", chúng tôi biên sọan để phổ biến cho chư Phật tử xa
gần. Mục đích của Đạo Phật là diệt khổ đem vui cho mọi người, nhưng phải là người có trí mới biết
được con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc:
"Người trí dầu một khắc
Thân cận người có trí
Biết ngay chân Diệu Pháp
Như lưỡi với vị canh."
Tập kinh nầy được hoàn thành, cũng nhờ sự góp sức của nhiều người. Nơi đây chúng tôi xin chân thành
tri ân chư vị thí chủ đã từng ủng hộ cho chúng tôi trên đoạn đường nghiên cứu và soạn dịch kinh sách.
Ngưỡng mong cho chư vị thí chủ, ấy được hưởng niềm an lạc vô biên trong Giáo Pháp của Bậc Thánh.
Tn. Ngọc Duyên
Myanmar, PL. 2548 - DL. 2004
-ooOoo-
NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA
*
1- NÓ MẮNG TÔI, ĐÁNH TÔI
NÓ THẮNG TÔI, CƯỚP TÔI

Tôn giải thích ai mới là người xứng đáng mặc y vàng.
Ghi chú:
- Y càsa tượng trưng cho sự thoát tục trong sáng của vị Tu sĩ. Tuy nhiên đối với người có thân, khẩu, ý
không trong sạch, đầy uế trược nhiễm ô, những người như vậy không xứng đáng mặc y vàng.
Đức Phật ghi nhận rằng, con người đạo hạnh chính ở giới luật và phẩm cách ở bên trong, chớ không
phải ở bên ngoài sắc tướng.
*
5- NHƯ MÁI NHÀ VỤNG LỢP
MƯA CÓ THỂ THẤM VÀO
CŨNG VẬY TÂM VỤNG TU
THAM DỤC DỄ XÂM NHẬP.
(P.C. 13)
6- NHƯ MÁI NHÀ KHÉO LỢP
MƯA KHÔNG THỂ THẤM VÀO
CŨNG VẬY, TÂM KHÉO TU
THAM DỤC KHÔNG XÂM NHẬP.
(P.C. 14)
Pháp thoại nầy, được Thế tôn thuyết giảng khi Ngài đang ngụ tại Jetavana, có liên quan đến Tỳ khưu
Nandā. Hoàng tử Nandā là em một Cha khác Mẹ với Đức Phật, Hoàng Tử xuất gia ngay trong ngày cưới
của mình. Do đó, thay vì tinh tấn tu học, nhưng Tỳ khưu Nandā mãi tưởng nhớ đến người vợ đang cưới.
Đức Phật áp dụng phương pháp tốt đẹp, trợ giúp Tỳ khưu Nandā từ bỏ những tư tưởng tham dục và nỗ
lực tu luyện. không bao lâu vị ấy đắc Đạo Quả A-La-Hán.
Ghi chú:
- Tâm vụng tu: Tâm không khéo huấn luyện, không tu tập theo Thiền Chỉ hoặc Thiền Quán. Không trao
dồi Giới, Định, Tuệ. Người ấy sẽ bị 1 trong 10 loại phiền não tấn công:
1- Tham Dục .
2- Sân hận.
3- Si Mê.
4- Ngã Mạn.
5- Hoài Nghi.

thí thức ăn trong ngày Bát Quan Trai và ba tháng nhập hạ. Cả gia đình vợ con đều sống một cuộc đời
đạo đức, chánh trực và tự hoan hỷ trong các sự phân phát vật bố thí.
Thời gian sau, ông già yếu. Trong giờ cận tử, ông thỏa thích nhìn thấy cảnh an vui nơi cõi Chư thiên.
Khi trút hơi thở cuối cùng, ông được hóa sanh Thiên Giới.
Ghi chú:
- Nay vui: Hoan hỷ khi nghĩ đến các việc thiện đã làm như Bố Thí, Trì Giới, Tu Thiền, Cung Kính, Phục
Vụ, Nghe Pháp, Thuyết Pháp, Tùy Hỷ, Hồi Hướng và Cải Chánh Kiến Thức.
*
9- NAY THAN, ĐỜI SAU THAN
KẺ ÁC HAI ĐỜI THAN
NÓ THAN TA LÀM ÁC
ĐỌA CÕI DỮ THAN HƠN.
(P.C. 17)
Duyên Khởi:
Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn này khi đang ngụ tại Jetavana, liên quan đến Tỳ khưu Devadatta. Ông là
người âm mưu sát hại Đức Phật, nhưng đã nhiều lần thất bại. Đến khi già, ông ăn năn hối hận muốn đến
diện kiến Đức Thế Tôn, nhưng khi vừa đến cổng chùa ông bị chết đau thương do đất rút.
Ghi chú:
- Kẻ ác hai đời khổ: "Hiện Tại và Tương Lai". Có hai trạng thái khổ:
1) Sự khổ do ác nghiệp.
2) Khổ do quả Dị Thục.
*
10- TINH CẦN GIỮA PHÓNG DẬT
TỈNH THỨC GIỮA QUẦN MÊ
NGƯỜI TRÍ NHƯ NGỰA PHI
BỎ SAU CON NGỰA HÈN.
(P.C. 29)
Duyên Khởi:
Kệ ngôn nầy ở Jetavana, Bậc Đạo Sư thuyết giảng kệ ngôn đề cập đến hạnh tu của hai Vị Tỳ khưu. Một
vị chuyên chú tu học, vị kia dễ duôi thích trò chuyện. Đức Phật tán thán vị tu tinh tấn.

Kệ ngôn nầy, khi ngụ tại núi Cālikā, Bậc Đạo Sư thuyết giảng liên quan đến Tỳ khưu Meghiya.
Tỳ khưu Meghiya là thị giả của Đức Phật trong thời gian chưa có Đại Đức Ānanda. Vì còn là phàm tăng
nên Tỳ khưu tâm tánh nông nổi đã mắc phải sự sai lầm nghiêm trọng. Tỳ khưu Meghiya thường than
thân trách phận thị giả của mình. Một ngày kia, đang đi với Đức Phật ngang qua khu rừng xoài, Tỳ khưu
có ý muốn đến đó hành thiền, liền ngỏ lời xin phép. Đức Phật xét thấy chưa phải lúc nên đã ngăn cản 3
lần, nhưng Tỳ khưu Meghiya vẫn bỏ mặc Đức Phật ra đi một mình.
Đến vườn xoài, mặc dù Tỳ khưu Meghiya cố gắng hành thiền, nhưng không thể ổn định nội tâm. Quá
thất vọng, ông liền trở về sám hối Đức Phật. Nhân đó, Đức Phật thuyết hai kệ ngôn trên và Tỳ khưu
Meghiya đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn.
*
14- KHÓ NẮM GIỮ KHINH ĐỘNG
THEO CÁC DỤC QUAY CUỒNG
LÀNH THAY ĐIỀU PHỤC TÂM
TÂM ĐIỀU AN LẠC ĐẾN.
(P.C. 35)
Kệ ngôn nầy, Bậc Đạo Sư thuyết giảng khi Ngài đang ngụ tại Sāvatthi.
Tại làng Mātika có người tín nữ với tâm đạo nhiệt thành. Nhờ sự hướng dẫn của Chư Tăng bà đắc quả
A-Na-hàm với tha tâm thông. Bà ủng hộ Chư Tăng rất đắc lực. Bà biết được tư tưởng khác và hiểu rằng
Chư Tăng còn đang thiếu thốn về mặt vật chất, nên bà hết lòng ủng hộ. Được cung ứng thích hợp, không
bao lâu quý Ngài đắc Đạo Quả A-La-Hán. Một vi Tỳ khưu khác nghe tán thán về đức hạnh của bà. Vào
ngày nọ Tỳ khưu xin phép Bậc Đạo Sư đến viếng và lưu lại tu viện ấy. Bà biết rõ và đáp ứng đúng lúc
những tư tưởng ước muốn của vị Tỳ khưu. Vị ấy khởi tâm lo sợ sẽ bị phát hiện những tư tưởng xấu của
mình, liền thối lui trở về hầu Đức Phật. Đức Thế Tôn khuyên Tỳ khưu nên trở lại nơi ấy hành đạo và cố
gắng điều phục nội tâm.
Vị Tỳ khưu nghe lời khuyên của Đức Phật, liền trở lại làng Mātika lần nữa. Vị ấy nỗ lực thu nhiếp tâm
và đắc Đạo Quả A-La-Hán.
*
15- KHÔNG BAO LÂU THÂN NẦY
SẼ NẰM DÀI TRÊN ĐẤT
BỊ VẤT BỎ, VÔ THỨC

Một ngày kia, vào buổi sáng sau khi cúng dường vật thực xong, buổi chiều cô qua đời. Chư phàm Tăng
xúc động trước cái chết đột ngột của cô tín nữ. Khi nghe qua câu chuyện, Đức Phật giảng về bản chất vô
thường của kiếp sống.
Ghi chú:
- Nhặt các loại hoa: Ví như người đang bị lôi cuốn bởi nhiều khát vọng, và chưa được thỏa mãn thì thần
chết đã bắt đi.
*
18- KHÔNG NÊN NHÌN LỖI NGƯỜI
NGƯỜI LÀ HAY KHÔNG LÀM
NÊN NHÌN TỰ CHÍNH MÌNH
CÓ LÀM HAY KHÔNG LÀM.
(P.C.50)
Kệ ngôn nầy, khi ở Sāvatthi Bậc Đạo Sư thuyết giảng liên quan đến nữ gia chủ của ngoại đạo sư Pātika.
Do tâm ganh tỵ, ngoại đạo sư Pātika cấm nữ gia chủ của mình không được đi nghe Pháp của Đức Phật.
Tuy nhiên vì muốn tầm cầu Pháp, cô bảo đứa con của mình đi thỉnh Đức Phật về nhà. Trong khi Đức
Thế Tôn giảng Chánh Pháp, bỗng nhiên vị đạo sĩ xuất hiện lăng mạ Cô và Đức Phật thậm tệ. Trước sự
ngẫu nhiên, Cô vô cùng bối rối. Đức Phật thuyết kệ ngôn trên khuyên Cô nên nhìn lỗi ở chính mình, chớ
nhìn lỗi người khác. Cuối bài Pháp Cô đắc quả Tu-Đà-Hườn.
Ghi chú:
- Không nên nhìn lỗi người: Người khác có làm hay không làm, tức có Đức Tin, có Bố Thí, có trong
sạch hay không, đừng tìm xem việc của họ. Hãy nhìn lại mình, tự xét mình rằng "Trong những ngày và
đêm trôi qua ta đã làm được việc gì? Tự xét lại mình đã tỏ ngộ Giáo Pháp của Đức Phật chưa, ta có thể
chứng hay không chứng Níp Bàn?"
*
19- NHƯ BÔNG HOA TƯƠI ĐẸP
CÓ SẮC NHƯNG KHÔNG HƯƠNG
CŨNG VẬY LỜI KHÉO NÓI
KHÔNG LÀM KHÔNG KẾT QUẢ.
(P.C. 51)
20- NHƯ BÔNG HOA TƯƠI ĐẸP

- Như từ những cành hoa người ta làm thành tràng hoa. Tuy nhiên nếu hoa ít, dù người thợ rất giỏi
cũng không thể làm thành tràng hoa đẹp. Ngược lại, hoa nhiều nhưng thợ dỡ cũng không thể kết thành
tràng hoa. Do vậy, hoa phải nhiều đồng thời thợ cũng giỏi, mới làm được tràng hoa hoàn hảo.
Cũng vậy việc làm từ thiện được thành tựu phải đầy đủ niềm tin và tài sản.
Nếu tài sản nhiều nhưng niềm yin yếu kém thì không thể làm nhiều thiện sự được. Ngược lại, niềm tin
nhiều nhưng tài sản ít cũng không thể làm được nhiều thiện sự.
*
22- HƯƠNG CÁC LOẠI HOA THƠM
KHÔNG NGƯỢC BAY CHIỀU GIÓ
NHƯNG HƯƠNG NGƯỜI ĐỨC HẠNH
NGƯỢC GIÓ KHẮP TUNG BAY
CHỈ CÓ BẬC CHÂN NHÂN
TỎA RỘNG KHẮP PHƯƠNG TRỜI
(P.C. 54)
23- HOA CHIÊN ĐÀN, GIÀ LA
HOA SEN, HOA VŨ QUÝ
GIỮA NHỮNG HƯƠNG HOA ẤY
GIỚI HƯƠNG LÀ VÔ THƯỢNG.
(P.C. 55)
Tại Jetavana, vào buổi chiều, từ thiền định độc sư, Đại Đức Ānanda khởi lên ý nghĩ về các loại hương.
Đức Phật giảng rằng:
- Hương thơm những bông hoa không thể bay ngược gió, dù là hương trầm cũng thế. Chỉ có hương thơm
của Giới Đức có thể bay xuôi và bay ngược chiều gió thổi. Cũng vậy, hương thơm của người hiền đức
bay tỏa khắp mọi nơi.
*
24- ÍT GIÁ TRỊ HƯƠNG NẦY
HƯƠNG GIÀ LA, CHIÊN ĐÀN.
CHỈ HƯƠNG NGƯỜI ĐỨC HẠNH
TỐI THƯỢNG TỎA THIÊN GIỚI.
(P.C. 56)

- Kẻ ngu: Là người chỉ chất chứa những nhân sanh tử. Trái lại kẻ trí là người luôn cố gắng tu sửa, để
đoạn tuyệt các nhân dắt dẫn luân hồi.
*
26- TÌM KHÔNG ĐƯỢC BẠN ĐƯỜNG
HƠN MÌNH HAY BẰNG MÌNH
THÀ QUYẾT SỐNG MỘT MÌNH
KHÔNG BÈ BẠN KẺ NGU.
(P.C. 61)
Khi ở Jetavana, thành phố Sāvatthi, Bậc Đạo Sư thuyết giảng kệ ngôn trên liên quan đến Trưởng Lão
Mahā Kassapa.
Trưởng Lão Kassapa có hai người đệ tử hầu cận. Một có hạnh kiểm tốt và siêng năng; còn người kia có
tánh gian xảo, thường trốn tránh nhiệm vụ và lười biếng. Trưởng Lão nhiều lần quở trách, giáo dục
nhưng không có kết quả. Trái lại, người ấy khởi tâm oan trái oán thù. Một hôm thừa dịp Trưởng lão đi
khất thực, Tỳ khưu ấy nổi lửa đốt Tịnh Thất rồi bỏ trốn.
Ghi chú:
- Hơn mình hay bằng mình: Ngụ ý nói về hạnh kiểm "Giới, Định, Tuệ". Thân cận với người tốt hơn ta sẽ
được tiến hóa, nếu thân cận với người xấu hơn ta sẽ bị thoái hóa. Trừ khi vì lòng bi mẫn muốn tiếp độ
họ, nhưng không nên để các cuồng dại của họ nhiễm ta.
*
27- CON TÔI, TÀI SẢN TÔI
NGƯỜI NGU SANH ƯU NÃO
TỰ TA, TA KHÔNG CÓ
CON ĐÂU, TÀI SẢN ĐÂU.
(P.C. 62)
Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn nầy, đề cập đến người tỷ phú keo kiết.
Tại thành Sāvatthi, có người gia chủ tài sản lớn. Mỗi tháng hai lần, ông tập hợp thân quyến lại và
khuyên nhủ con trai của mình là Mūlasiri:
- Không nên bố thí, không nên làm hao mòn tài sản. Ví như loại ong tụ mật như thế nào, thì hãy giữ tài
sản cũng như thế ấy.
Thời gian sau ông qua đời, vì quá dính mắc tài sản nên ông tục sanh làm người hèn hạ, dị dạng. Khi lớn

Có 30 người thanh niên đang tìm kiếm một người nữ ở khu rừng Kappāsika. Vào thời điểm nầy, họ gặp
Đức Thế Tôn và Ngài đã thuyết pháp:
"Hãy đến, nầy các Tỳ khưu".
Lập tức những người ấy có đủ tam y và quả bát, đồng thời cũng được thanh lọc mọi ô nhiễm và đắc quả
A-La-Hán.
Với sự thắc mắc được trình lên Đức Phật:
- Tại sao, chỉ trong thời gian ngắn, sau khi nghe Pháp, các vị Tỳ khưu kia đã giác ngộ Giáo Pháp một
cách nhanh chóng?"
Đức Thế Tôn giảng rằng:
- Chẳng phải đây là lần đầu tiên 30 vị này đã lầm lỗi và giác ngộ một cách nhanh chóng.
- Ở tiền kiếp trước, họ cũng đã có những hành động tương tự, nhưng khi nghe được lời dạy của bậc hiền
trí đạo đức, những thanh niên ấy cũng nhận thức được Giáo Pháp một cách nhanh chóng sau đó tự họ đã
thọ trì 5 Giới và Tu thiền nhập định. Đây là phước báu mà họ đã từng làm trong quá khứ, nên nay các vị
nầy sớm thành tựu thành quả A-La-Hán một cách mau lẹ, không phí sức không mệt nhọc.
*
30- NGƯỜI NGU NGHĨ LÀ NGỌT
KHI ÁC CHƯA CHÍN MUỒI
ÁC NGHIỆP CHÍN MUỒI RỒI
NGƯỜI NGU CHỊU KHỔ ĐAU.
(P.C. 69)
Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn này, khi Ngài đang ngụ tại chùa Jetavana, đề cập đến thanh niên
Nandamānāva.
Tỳ khưu Ni Uppalavannā xuất thân từ gia đình giàu có, được cha khích lệ cho xuất gia vào hội chúng
Tỳ khưu Ni. Tâm cô giống như một giọt nước thuần tịnh không cấu nhiễm. Cô tập trung nhìn ngọn đèn
của Chánh Điện, chú ý về thành phần của lửa. Sau khi đã triển khai Thiền Quán, Cô đạt đến trạng thái
siêu phàm đắc Đạo Quả A-La-Hán.
Vào một ngày kia, Tỳ khưu Ni Uppalavannā đi khất thực trở về khu rừng nơi Cô đang ngụ. Có một
thanh niên đến bức hiếp Tỳ khưu Ni rồi ra đi. Đi không bao xa người ấy bị đất rút chết, đọa vào địa ngục
Avìci.
Đức Phật hiểu rõ câu chuyện, Ngài giảng về hiểm họa của người cuồng dại, sau khi hành động bất chánh

THÂN CẬN NGƯỜI NHƯ VẬY
CHỈ TỐT HƠN KHÔNG XẤU.
(P.C. 76)
Duyên Khởi:
Trưởng Lão Sariputta thâu nhận một Bà La Môn nghèo vào Giáo Hội để tỏ lòng biết ơn một muỗng vật
thực mà ông đã dâng cúng đến Ngài.
Vị Tu sĩ mới xuất gia, luôn luôn tìm cơ hội học hỏi và tận lực tinh tấn hành theo lời dạy của Thầy, không
bao lâu đắc Đạo Quả A-La-hán.
Đức Phật thuyết kệ ngôn nầy để tán dương tinh thần tu học của vị tân Tỳ khưu luôn sẵn sàng sửa mình
theo hạnh Thánh Tăng, và Đức Phật khích lệ các vị khác nên noi theo gương lành trong sạch ấy.
Ghi chú:
- Chỉ lỗi: Chấp nhận lời chỉ giáo: "giờ nầy không nên ăn; không nên nhai…; không nên ngồi nhịp chân,
rung đùi; không nên bói toán hên xui; không nên mua chuộc tình cảm bằng lời nói xảo ngữ, hãy nói
Pháp bằng không thì im lặng, v.v…"
Những chỗ khuyết phạm trên do vô minh và ái dục tác động, nếu không có bậc Hiền Trí chỉ lỗi, sửa sai
thì thiện pháp không phát triển, lậu hoặc ắt tăng trưởng.
Thân cận bậc Hiền Trí được bốn điều lợi ích là:
1) Thường làm cho Giới được tăng trưởng cao thượng.
2) Định sẽ được tăng trưởng cao thượng.
3) Tuệ sẽ được tăng trưởng cao thượng.
4) Sẽ được Giải Thoát Tri Kiến.
*
33- NHỮNG NGƯỜI HAY KHUYÊN DẠY
NGĂN NGƯỜI KHÁC LÀM ÁC
ĐƯỢC NGƯỜI HIỀN KÍNH YÊU
BỊ NGƯỜI ÁC KHÔNG THÍCH.
(P.C. 77)
Duyên Khởi:
Câu chuyện xảy ra tại Kītagīri, khi Đức Thế Tôn ngụ tại Jetavana.
Có hai vị Tỳ khưu là đệ tử của hai vị Trưởng Lão Sāriputta và Moggallāna. Mặc dù hai vị Đại Trưởng

Bhaddiya (Người lùn nhỏ).
Mỗi khi gặp Đại Đức, một số Sa di trêu ghẹo sờ đầu, kéo tai, bóp mũi: "Nầy chú, chú không mệt mỏi
trong việc tu hành sao, không bất mãn trong Giáo Pháp, mà thỏa thích vậy?"
Dù bị bóp mũi, kéo tai, Đại Đức vẫn không tỏ vẻ giận hờn hay căm tức với những tư cách ấy. Điều nầy
đã gây sự chú ý nơi các vị Tỳ khưu khác. Câu chuyện được đem ra bàn luận. Đức Phật hiểu duyên cớ,
Ngài thuyết rằng:
- Các "Bậc Lậu Tận" tâm không còn nóng nảy hay giận hờn, giống như những tảng đá đặc ruột, nằm yên
không lay động. Cũng vậy, tâm của Bậc A-La-Hán luôn luôn bình thản trước những lời tán dương hay
khiển trách.
Cuối thời pháp có nhiều vị Tỳ khưu đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn.
Ghi chú:
- Nindāpasamsāsu: Nghĩa là lời nói khen chê, tức một trong tám Pháp Thế Gian (Lokadhamma). Chữ
nầy bao gồm tất cả những tiếng đời thị phi mai mỉa. Tâm của Bậc Trí Giả không hề bị lay động, xê dịch,
cũng giống như núi đá trước gió.
*
36- NGƯỜI HIỀN BỎ TẤT CẢ
NGƯỜI LÀNH KHÔNG BÀN DỤC
DẦU CẢM THỌ LẠC KHỔ
BẬC TRÍ KHÔNG VUI BUỒN.
(P.C.83)
Tại Jetavana, Bậc Đạo Sư thuyết kệ ngôn trên, đề cập đến 500 vị Tỳ khưu sau mùa an cư ở Verañja.
Sau khi đắc Chánh Đẳng Giác, Đức Thế Tôn ngự đến thành Verañja cùng 500 vị Tỳ khưu và An Cư
Kiết Hạ đầu tiên tại nơi ấy, do Bà La Mon Verañja thỉnh cầu.
Suốt thời gian ba tháng, Bà La Môn Verañja bị ác ma ám ảnh khiến ông lãng quên việc cúng dường, dù
thế không một ngày nào ông không đến chất vấn Đức Thế Tôn. Lúc bấy giờ, ở làng Verañja nhằm thời
kỳ bị nạn đói kém, nên các vị Tỳ khưu đi khất thực khắp trong và ngoài thành cũng chẳng tìm được thức
ăn, bi kiệt sức. Thấy vậy, những người buơn ngựa cúng dường những nắm cơm khô, Chư Tăng dùng đá
nghiền nát ra nấu cháo.
Trưởng Lão Moggallāna thấy Chư Tăng quá kiệt sức, Ngài có ý muốn dùng thần thông đưa Chư Tăng
sang Bắc Cưu Lưu Châu khất thực hoặc xoay ngược quả địa cầu lại để lấy chất dinh dưỡng dưới mặt đất

- Dù người vợ của ta có cho phép hay không, ta cũng sẽ tự mình ra đi tìm con đường cứu khổ cho chính
ta. Thanh niên Dhammika cương quyết xuất gia và nỗ lực tu tập Thiền Quán, không bao lâu đắc Đạo
Quả A-La-Hán. Thời gian sau, Tỳ khưu Dhammika trở về thuyết pháp hóa độ người con trai xuất gia,
cũng đắc Đạo Quả A-la-Hán. Người thiếu phụ kia tự nghĩ:
- Ta chỉ muốn những người nầy sống tại gia với ta, nay họ đã xuất gia trở thành vị Tỳ khưu tất cả, cuộc
đời của ta nay có ích gì khi sống ở tại gia. vậy ta hãy từ bỏ thế tục xuất gia Tỳ khưu Ni.
Nghĩ vậy, nàng xuất gia và cố gắng tu tập Thiền Định, không bao lâu cũng Đắc Đạo Quả A-la-Hán.
Lúc nầy chư Tỳ khưu khác luận bàn:
- Quả thật Tỳ khưu Dhammika là bậc thiện trí sống theo Chánh pháp đã thành bậc A-La-Hán, thế mà vị
ấy vẫn còn lưu luyến vợ con.
Khi nghe vậy, Đức Phật liền xuất hiện đến dạy rằng: "Tỳ khưu Dhammika là bậc có trí tuệ sống đúng
Pháp" và thuyết kệ ngôn trên.
Ghi chú:
Tỳ khưu Dhammika, không vì mình, cũng không vì người làm việc sai quấy, Tỳ khưu đã cương quyết
nương tựa vững chắc nơi Chánh Pháp, chỉ làm những việc lợi ích Chánh Trực.
*
38- ÍT NGƯỜI GIỮA NHÂN LOẠI
ĐẾN ĐƯỢC BỜ BÊN KIA
CÒN SỐ NGƯỜI CÒN LẠI
XUÔI NGƯỢC CHẠY BỜ NẦY.
(P.C. 85)
39- NHỮNG AI HÀNH TRÌ PHÁP
THEO CHÁNH PHÁP KHÉO DẠY
SẼ ĐẾN BỜ BÊN KIA
VƯỢT MA LỰC KHÓ THOÁT.
(P.C. 86)
Tại Jetavana, Bậc Đạo Sư thuyết giảng kệ ngôn liên quan đến nhóm thiện tín nghe Giáo pháp.
Có nhóm thiện tín sanh sống tại thành Sāvatthi. họ cùng thỏa thuận với nhau trong việc tạo phước cúng
dường và chia thời gian đến Chùa nghe pháp. Tuy vậy, họ không thể làm theo ý định của mình. Có một
số người bị lòng tham ức chế, thúc đẩy họ tự động rút lui. Một số người khác bị sân giận chi phối cũng

*
41- TÀI SẢN KHÔNG CHẤT CHỨA
ĂN UỐNG BIẾT LIỄU TRI
TỰ TẠI TRONG HÀNH XỨ
"KHÔNG VÔ TƯỚNG GIẢI THOÁT"
NHƯ CHIM GIỮA HƯ KHÔ NG
HƯỚNG CHÚNG ĐI KHÓ TÌM.
(P.C. 92)
Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn nầy tại Jetavana, liên quan đến Tỳ khưu Belatthisìsa.
Sau khi đi vào làng khất thực và ăn xong, Tỳ khưu Belatthisīsa đi vào con đường khác khất thực cơm
khô để dành. Vì thấy đi khất thực mỗi ngày khó nhọc, Tỳ khưu muốn nghĩ vài ngày để hành thiền cho
được an vui, khi nào cần vật thực sẽ lấy cơm khô ra dùng. Vài vị Tỳ khưu khác biết được việc nầy đến
trình lên Đức Phật . Nhân cơ hội ấy, Đức Thế Tôn ban hành học giới:
- Chư Tỳ khưu không được cất giữ vật thực quá thời hạn.
Đức Thế Tôn cũng giải thích thêm rằng:
- Tỳ khưu Belatthisīsa không phạm tội vì theo hạnh thiểu dục, trong khi học giới chưa được ban hành.
Đức Thế Tôn cũng giải thích những tác phong cao thượng của vị Tỳ khưu thuần hành.
Ghi chú:
- Chất Chứa: Có hai loại tích trữ (chất chứa):
1) Tích trữ Nghiệp: Do những việc làm thiện và bất thiện
2) Tích trữ Vật Dụng: như thức ăn, y áo, v.v…
- Liễu tri: Có ba loại Liễu Tri:
1) Sự biết bình thường: Như cơm cháo và trạng thái của nó.
2) Sự biết đặc biệt hơn: Nhờ suy xét đến phần phát sanh sự ô trược của vật thực.
3) Biết sự dứt bỏ: Có trí Tuệ quán tưởng cao nên đoạn trừ được những khao khát đối với vật thực.
- Tự Tại trong Hành xứ; Các Bậc đắc đạo Quả lấy Níp Bàn làm cảnh giới, trú tâm trong đối tượng ấy
và giải thoát "Không Vô Tướng". Đây là hành xứ của Bậc A-La-Hán.
- Không Vô Tướng giải thoát: Có ba cảnh giải thoát:
1) Vô Tánh: Giải thoát Tam Độc đến mức rổng không.
2) Vô Tướng: Giải Thoát đến mức độ không còn hình thức của Tam Độc

- Bốn Pháp Lậu Hoặc là: Dục Lậu, Hữu Lậu, Tà Kiến Lậu và Vô Minh Lậu.
*
43- NHƯ ĐẤT, KHÔNG HIỀM HẬN
NHƯ CỘT TRỤ, KIÊN TRÌ
NHƯ HỒ, KHÔNG BÙN NHƠ
KHÔNG LUÂN HỒI VỊ ẤY.
(P.C. 95)
Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn nầy tại Jetavana, Đề cập đến Trưởng Lão Sāriputta.
Ngày kia, Trưởng Lão Sāriputta vô tình để chéo y chạm vào thân một vị Tỳ khưu. Vị nầy từ lâu đã có
tâm ganh ghét Ngài, nên khi Trưởng Lão vừa đi khỏi ranh Chùa, Tỳ khưu nầy liền đến Đức Phật cáo
gian rằng:
- Trưởng Lão Sāriputta xúc phạm đến con, đã bỏ đi không xin lỗi.
Đức Phật bèn cho gọi Trưởng Lão trở lại để phân xử. Khi ấy, hai vị Trưởng Lão Moggallāna và Ngài
Ānanda đi thông báo tập hợp chúng Tăng lại. Trưởng Lão Sāriputta bước vào hội chúng, đảnh lễ bậc
Đạo Sư rồi ngồi xuống một bên đầy kính trọng. Đức Phật hỏi câu chuyện đã xảy ra. Trưởng Lão không
tự bào chữa mà chỉ mô tả đời sống Phạm hạnh khiêm tốn của mình từ lúc mới xuất gia và mãi cho đến
bây giờ. Đại Đức thưa rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn! Thật vậy, đối với vị Tỳ khưu nào chưa thuần thục đề mục Niệm Thân, thời vị ấy
có thể xúc phạm đến vị đồng phạm hạnh rồi bỏ đi không xin lỗi. Bạch Thế Tôn! Ví như đất, Người ta có
thể quăng bỏ các nhơ nhớp, v.v… nó vẫn im lìm, trầm lặng không xao động. Cũng vậy con đã tu hạnh
như đất. Ví như nước, lửa, gió…
Trưởng Lão tự ví mình theo thứ lớp của bốn đại, rồi ngồi xổm chấp tay xin sám hối vị Tỳ khưu cáo gian
kia. Khi ấy vị Tỳ khưu cáo gian, nghe trong mình toàn thân nóng như lửa đốt, liền quỳ dưới chân Đức
Thiện Thệ tự thú nhận rằng mình cáo gian.
Chư Tỳ khưu tán dương phẩm hạnh thanh cao của Đại Đức Sāriputta. Đức Phật thêm rằng:
- Nầy Chư Tỳ khưu! Không có gì làm cho tâm của Sāriputta sân giận hay chao đảo, cũng ví như trụ
đồng Indakhīla của Vua Trời Đế Thích.
*
44- NGƯỜI TÂM Ý AN TỊNH
LỜI AN, NGHIỆP CŨNG AN

Trích đoạn ĐIỀU ÁC TỰ MÌNH LÀM TỰ MÌNH SANH MÌNH TẠO NHƯ CHIM THIÊN NGA BAY THẦN THÔNG LIỆNG GIỮA TRỜ NGƯỜI TRÍ CHUYÊN THIỀN ĐỊNH THÍCH AN TỊNH VIỄN LY
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status