Gián án Về bài viết “Lời bình của thi hào Nguyễn Du trong Hoa nguyên thi thảo” của PGS.TS. Nguyễn Đăng Na - Pdf 82

Về bài viết: “Lời bình của thi hào Nguyễn Du trong Hoa nguyên thi
thảo” của PGS.TS. Nguyễn Đăng Na
Nguyễn Đình Phức
Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 03 (397), ra tháng 3 năm 2005, có đăng bài “Lời bình của thi hào Nguyễn Du
trong Hoa Nguyên thi thảo” của PGS.TS. Nguyễn Đăng Na, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Khi bài nghiên cứu của Phó giáo sư đến tay công chúng, thì người viết này đang dốc hết tâm trí của mình để
hoàn thành luận án Tiến sĩ Ngữ văn tại Đại học Nam Kinh, Trung Quốc, nên không có dịp bái đọc.Sau khi về
nước, với mục đích cập nhật thông tin, bù đắp lỗ hổng kiến thức chuyên ngành, chúng tôi đã dành nhiều thời
gian cho việc đọc, nhất là đọc các công trình, bài báo liên quan đến những vấn đề mà chúng tôi quan tâm, và
bài báo khoa học nói trên là một trong số đó.
Ngay từ những năm nửa cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi giảng dạy tại khoa Ngữ văn và Báo chí, Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh, chúng tôi đã có bản khắc mộc Hoa Nguyên thi thảo trong tay. Chỉ có
điều bản khắc ấy là bản không đầy đủ, có nhiều trang đầu bị rách, mất, bản này do thư viện Viện Khoa học Xã hội
Tp. Hồ Chí Minh cất giữ, mang ký hiệu HNv.245. Nhận thức được giá trị phê bình của bản khắc Hoa Nguyên thi thảo,
đặc biệt là giá trị giao lưu văn hóa Việt - Trung của tập thơ, nên ngay từ những năm đầu thế kỷ XXI, chúng tôi đã dày
công sưu tầm để có được bản khắc hoàn chỉnh và dự định chọn làm đề án tốt nghiệp bậc Thạc sỹ tại Đại học Nam
Kinh(Trung Quốc). Dự định trên có sự chuẩn bị chín muồi, nhưng không thể thực hiện bởi sự chuyển hướng đề tài
từ phía Giáo sư hướng dẫn, nên đành tạm gác những điều bấy lâu ôm ấp trong lòng, nhưng vẫn hy vọng có dịp đem
tâm huyết của mình thỉnh giáo bậc thức giả.
Mùa xuân 2005, vì chọn Lịch đại thi tuyển 歷代詩選 của Nguyễn Miên Thẩm làm đề tài tốt nghiệp, nên Gia
Địnhtam gia trong đó có Lê Quang Định nghiễm nhiên nằm trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi. Để thuận lợi
cho việc nghiên cứu, chúng tôi đã đem Cấn Trai thi tập 艮齋詩集 của Trịnh Hoài Đức, Thập Anh đường thi tập 拾英
堂詩集 của Ngô Nhân Tĩnh và Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định, chỉnh lý trực tiếp trên văn bản chữ Hán.
Trong văn bản chỉnh lý này, quan điểm của chúng tôi có nhiều chỗ không thống nhất với quan điểm của PGS.TS.
Nguyễn Đăng Na, nay xin tạm nêu ra đây, mong được bậc thức giả chỉ giáo.
Bài viết của PGS.TS. Nguyễn Đăng Na phân thành hai mục lớn, trong đó mục I lại phân thành nhiều mục
nhỏ. Để tiện cho việc theo dõi và đưa ra ý kiến góp ý, ở đây chúng tôi giữ nguyên cách phân mục của tác giả bài
viết.
I. Vài nét về tập thơ mà Nguyễn Tố Như có lời bình
1. Nhan đề sách
Ở mục này, chúng tôi xin góp ý một số vấn đề sau:

舟中次第筵蒲槎,不在朝班亦使班。
Bài thơ này thực ra là bài họa của bài Chu trung đoan dương 舟中端陽(Tết đoan dương ở trên thuyền) chép
trong Cấn Trai quan quang tập 艮齋觀光集 của Trịnh Hoài Đức.Để độc giả thấy rõ quan hệ mật thiết giữa hai bài,
nay xin tiện chép ra đây:
Lộ cùng lục thủy phục thanh san,
Chung giác càn khôn thị đại nhàn.
Kim cổ hốt phùng nhân cạnh độ,
Bình bồng thượng xướng ngã Dương Quan.
Hà phong chẩm giác thanh hương quá,
Mai vũ bồng đầu bạch đả san.
Niệm thiết thái hòa xu tiến nhật,
Xương bồ hiến thọ xuất triều ban(1).
路窮綠水復槎山,終覺乾坤是大閑。
金鼓忽逢人競渡,萍蓬槎唱我陽關。
荷風枕角槎香過,梅雨槎頭白打槎。
念切太和趨進日,菖蒲獻壽出朝班。
Hai bài thơ trên không chỉ giống nhau ở việc vận dụng một số ý tượng thơ như san, càn khôn, hà hương,
vũ, xương bồ,… điểm nổi bật còn ở hệ thống gieo vần, đó là các chữ “san”, “nhàn”, “quan”, “san”, “ban”. Như vậy,
hai bài thơ có phải là bài họa của nhau không thì đã rõ. Ngoài chứng cứ trên đây, trong Thập Anh đường thi tập
của Ngô Nhân Tĩnh còn có ba bài thơ có tựa đề như sau: 1. Trịnh Cấn Trai thứ lạp ông tam thập vận 鄭艮齋次笠
翁三十韻; 2. Bộ Cấn Trai bích đầu cúc nguyên vận 步艮齋槎頭菊原韻; 3. Bộ Cấn Trai vọng Tấn Trai nguyên vận
步艮齋望晉齋原韻. Ba bài thơ trên đây thực ra đều do Ngô Nhân Tĩnh họa thơ của Trịnh Hoài Đức, với thứ tự các
bài: 1. Đông nguyệt do Quảng Đông thủy trình vãng Quảng tây tỉnh, hội thỉnh phong sứ, thủ lộ tiến kinh đạo trung
ngâm, đồng Ngô, Hoàng lưỡng phó sứ thứ lạp ông tam thập vận 冬月由廣東水程往廣西省,會請封使,取路進京,道
中吟,同吳黃兩副使次笠翁三十韻 chép trong Cấn Trai quan quang tập 艮齋觀光集;.2. Bính đầu cúc 槎頭菊 chép trong
Cấn Trai thoái thực truy biên 艮齋退食追编. (Quế Lâm đông nhật vọng thỉnh phong chánh sứ Lê Quang Định Binh bộ
thượng thư 桂林冬日望請封正使黎光定兵部槎書 chép trong Cấn Trai quan quang tập.
Như vậy, Cấn Trai tức Trịnh Cấn Trai, vấn đề đã rõ. Còn Cấn Trai thứ ba, PGS.TS. Nguyễn Đăng Na cho
rằng, đó là Lê Cấn Trai, người khắc in và giữ bản quyền Hoa Nguyên thi thảo. Cái nhìn của chúng tôi về vấn đề
này cũng không đồng quan điểm, ở đây, không có người nào là Lê Cấn Trai cả, tên Lê Cấn Trai mà PGS.TS.

và cả trước khi Trịnh Hoài Đức đem tập thơ này thu vào Gia Định tam gia thi vào tháng trọng xuân năm Minh
Mệnh thứ 3 (1822).
Hoa Nguyên thi thảo và Thập Anh đường thi tập lần đầu tiên được thu vào Gia Định tam gia thi, thứ tự mục
lục xếp theo Cấn Trai thi tập, Hoa Nguyên thi thảo, Thập Anh đường thi tập đã nêu ở trên chắc chắn cũng chính là
mục lục của Gia Định tam gia thi. Nhưng bản khắc A.779 có phải là bản khắc được khắc in năm Minh Mệnh thứ 3
(1822) hay không vẫn là vấn đề cần bàn. Thập Anh đường thi tập bản A.779 theo khảo sát hiện có 182 bài thơ,
trong đó ngũ luật 41 bài, thất tuyệt 27 bài, thất luật 114 bài. Như vậy so với phần mục lục của bản khắc năm Minh
Mệnh thứ ba, số lượng bài thơ vẫn ít hơn 5 bài, trong đó ngũ luật ít hơn 3 bài, thất luật ít hơn 2 bài. Nhưng bản
A.779 đồng thời xuất hiện tình trạng mất trang, tình trạng này xuất hiện ở bài thơ thứ 22 thuộc chùm thơ Áo Môn
lữ ngụ xuân hòa đường thư hoài 澳門旅寓春和堂書懷, bài này làm theo thể thất luật 56 chữ, nhưng văn bản chỉ
còn 20 chữ, sau đó qua trang khác và bắt đầu với 2 bài ngũ luật 40 chữ là Thi 詩 và Họa 槎. Vì sao có hiện tượng
mất trang, hiện tại chưa rõ, nhưng theo suy đoán của chúng tôi, số lượng 5 bài thơ thiếu nói trên chính nằm trong
khoảng giữa của bài 22 và bài ngũ luật Thi nói trên, số trang bị mất là 2 trang, tức một tờ a và b. Sở dĩ chúng tôi
có sự phán đoán nói trên là vì: thứ nhất, Áo Môn lữ ngụ xuân hoà đường thư hoài là chùm thơ thất luật, từ 20 chữ
còn lại của bài 22 cũng có thể khẳng định đó là một bài viết theo thể thức này; thứ hai, bài 22 là một bài thơ thất
luật, bài Thi lại là một bài thơ ngũ luật, số bài mà bản A.779 thiếu chính thuộc hai thể thức nói trên; thứ ba, mỗi
trang khắc của bản A.779 gồm 9 cột dọc, mỗi cột khắc được 20 chữ, như vậy mỗi bài thất luật thông thường
chiếm 4 cột (cột 1 khắc tên bài thơ; cột 2 và 3 mỗi cột khắc 20 chữ, cột 4 khắc 16 chữ), bài ngũ luật chiếm 3 cột
(cột 1 khắc tên bài thơ; cột 2 và 3 mỗi cột khắc 20 chữ). Với 2 trang bị mất, chúng ta có tổng cộng 18 cột, 18 cột
này có lẽ được phân bố theo thứ tự sau: cột 1 và 2, khắc tiếp 36 chữ còn lại của bài thơ 22; cột 3,4 và 5, khắc tiếp
bài thơ thứ 23 nằm trong chùm thơ Áo Môn lữ ngụ xuân hòa đường thư hoài; cột 7,8,9 và 10, dành cho bài thơ
thất luật tiếp theo; 9 cột còn lại dùng cho 3 bài ngũ luật còn lại. Những phỏng đoán trên đây nếu được thực chứng,
chúng ta có thể khẳng định bản A.779 chính là bản nằm trong Gia Định tam gia thi, bản được khắc in năm Minh
Mệnh thứ 3 (1822).
2. Bìa
Ở phần này, khi miêu tả phần bìa của Hoa Nguyên thi thảo, PGS.TS. Nguyễn Đăng Naviết: “Bìa trong cấu trúc
theo kiểu một hàng ngang, ba cột dọc”, “ba cột dọc gồm, cột giữa (chữ to): ‘Hoa Nguyên thi thảo’ (tên tác phẩm); hai cột
bên (chữ nhỏ) là ‘Lê’ (bên phải), ‘Cấn Trai tàng bản’ (bên trái)”.
Chúng ta đều biết, cách trình bày ba cột dọc trên bìa sách là cách thường thấy nhất ở sách cổ chữ Hán;
trong đó cột giữa chuyên khắc tên sách; cột bên phải chuyên khắc tên tác giả, người biên soạn hoặc người tuyển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status