Giới thiệu Quy khứ lai từ của Đào Tiềm.
Quy khứ lai từ (歸歸歸歸, Lời từ biệt khi về) là bài phú hay và rất nổi tiếng của
Đào Tiềm (歸歸, 365 - 427), một danh sĩ cuối đời Đông Tấn, (Trung Quốc).
Theo Dịch Quân Tả, một học giả người Trung Quốc, cho biết khi Đào Tiềm
làm quan lệnh Bành Trạch, có quan đốc bưu đến huyện, bọn tiểu lại khuyên
ông nên buộc dây đai để tiếp quan đốc bưu, ông than rằng: “Ta không thể vì
năm đấu gạo mà uốn lưng trước bọn hương lý tiểu nhi”. Nói rồi, nội ngày đó
ông trả ấn từ quan đi về làng cũ. Trên đường ông hoàn thành bài ''Quy khứ
lai'' để biểu lộ chí của minh. ''Quy khứ lai'' có nghĩa “Hãy đi về đi!”, giống
như câu nhà Phật đã thường nói: “Quy mệnh khứ lai”, “Quy y khứ lai”. Chử
“từ” là do người sau thêm vào.
Đào Tiềm sáng tác bài trên khi ông 41 tuổi, tức cũng là năm treo ấn từ quan
(tháng 11 năm Ất Tỵ, tức 405 theo Tây lịch, đời vua An Đế nhà Đông Tấn,
niên hiệu Nghĩa Hy nguyên). Theo GS. Huỳnh Minh Đức, thì: Bài này có
trên Quy khứ lai từ hề, nhưng trong ''Chiêu Minh văn tuyển'' của thái tử
Lương Chiêu Minh (con Lương Vũ Đế & là người đầu tiên sưu tập thơ Đào
Tiềm) chữ "hề" bị bỏ đi. Chữ "lai" là một trợ ngữ từ, không có nghĩa
Sáng tác này nhằm bộc lộ tư tưởng của mình và ca tụng cảnh trí vườn ruộng.
Trước phần thơ, Đào Tiềm có viết bài Tự bằng văn xuôi như sau:
“Ta nhà nghèo, việc cấy trồng không đủ cung ứng cuộc sống. Con cái đầy
nhà, trong hủ thì thiếu gạo, cuộc sống chưa phải giải quyết thế nào. Bà con,
bạn bè đến khuyên ta ra làm quan. Không có gì cản trở, ta cũng có ý muốn
tìm ít tước lộc, nhưng chưa tìm ra. Vừa lúc có việc quan các nơi, ta phụng
mệnh quan ra kinh đô và được các chư hầu yêu mến, thúc phục cũng thương
ta nghèo nên tiến cử ta làm quan lệnh. Bây giờ giặc giã chưa yên, trong lòng
ta vẫn cứ sợ phải đi xa; huyện Bành Trạch cách nhà độ hơn trăm dặm, số thu
công điền cũng đủ cho cuộc sống. Vì thế ta xin được đến làm quan ở đấy.
Không lâu sau, ta lại có ý nhớ nhà, muốn về nhà.
Tại sao thế? Bản tính tự nhiên của ta là như thế, nên không thể miễn cưỡng,
giả vờ được. Sự đói lạnh tuy là quan trọng thực đấy, nhưng làm ngược lại
Cảnh mờ mờ sắp vào trong bóng đêm, vỗ cây tùng lẻ loi lòng bồi hồi.
Về đi thôi hề, hãy đoạn tuyệt giao du.
Đời đã cùng ta lìa bỏ nhau, còn dùng lời suông hề cầu chi nữa ?
Ưa lời nói chứa chan tình cảm của người thân thích, vui với cây
đàn, cuốn sách để khuây lo.
Nhà nông bảo ta mùa xuân đến, sắp có việc làm tại cánh đồng tây.
Hoặc đi chiếc xe giăng màn, hoặc chèo con thuyền lẻ loi.
Đã len lỏi tìm khe suối, lại gập ghềnh đi qua gò.
Cây hớn hở hướng đến màu tươi, suối êm đềm bắt đầu trôi chảy.
Ngợi khen cho muôn vật đặc thời, cảm khái đời ta xưa làm nay nghỉ.
Thôi hết rồi!
Gửi hình trong vũ trụ được bao lâu, sao không thả lòng mặc ý ở đi ?
Tại sao còn thắc mắc, muốn đi đâu ?
Giàu sang chẳng phải điều ta nguyện, chốn đế hương không thể ước ao.
Nghĩ buổi sáng đẹp trời một mình dạo chơi, hay dùng gậy làm cỏ vun mạ.
Lên bãi đông, ngâm nga thư sướng, đến dòng suối trong làm bài thơ.
Hãy thuận theo sự biến hoá của âm dương mà về chốn tận cùng,
vui mệnh trời, còn nghi ngờ chi ?
Từ Long dịch thơ:
Đi về sao chẳng về đi,
Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về?
Đem tâm để hình kia sai khiến,
Còn ngậm ngùi than vãn với ai?
Ăn năn thì sự đã rồi,
Từ đây còn lại, biết thôi mới là.
Lối đi lạc chưa xa là mấy,
Nay khôn rồi chẳng dại như xưa.
Con thuyền thuận nẻo gió đưa,
Gió hây hây áo thuyền lơ lửng chèo.
Hỏi hành khách lối nào đi tới,
Hoặc khi đủng đỉnh thuyền ra coi đồng.
Dưới khe nọ nước vòng uốn éo,
Bên đường kia gò kéo gập ghềnh;
Cỏ cây mơn mởn màu xanh,
Suối tuôn róc rách bên ghềnh chảy ra.
Ngắm muôn vật đương mùa tươi tốt,
Ngán cho ta thôi trót già rồi.
Thôi còn mấy nỗi ở đời,
Khứ lưu sao chẳng phóng hoài tự nhiên,
Cớ chi nghĩ thêm phiền tức dạ,
Đi đâu mà tất tả vội chi?
Giàu sang đã chẳng thiết gì,
Cung tiên chưa dễ hẹn kỳ lên chơi.
Chi bằng lúc chiều trời êm ả,
Việc điền viên vất vả mà vui.
Lên cao hát một tiếng dài,
Xuống dòng nước chảy ngâm vài bốn câu.
Hình thể này mặc dầu tạo hóa,
Tới lúc nào hết cả thì thôi.
Lòng ta phó với mệnh trời,
Đừng ngờ chi nữa cứ vui vẻ hoài.
(In lần đầu trên Nam Phong tạp chí. Chép theo Hán Văn I, GS. Huỳnh Minh
Đức biên soạn. Nxb Minh Trí, Sài Gòn, 1973, tr. 245)
*
Học giả Nguyễn Hiến Lê viết:
“Từ Phú ở đời Lục triều đều dùng thể biền ngẫu, lời hoa mỹ, song thiếu tự
nhiên và khó hiểu. Đáng dịch nhất có 2 bài: ''Quy khứ lai từ'' của Đào Tiềm
và ''Bắc sơn di văn'' của Khổng Khuê. Bài trên giọng khoáng đạt, theo thể
biền ngẫu mà vẫn tự nhiên; bài dưới rực rỡ như hoa mà mỉa mai một cách
thú vị.”
phản kháng…
Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Sách tham khảo:
- Văn học sử Trung Quốc tập I của Dịch Quân Tả .Nxb Trẻ, 1992, tr. 227.
- Hán Văn I của Huỳnh Minh Đức. Nxb Minh Trí, Sài Gòn, 1973, tr. 242.
- Đại cương Văn học sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê,. Nxb trẻ, 1997,
tr. 193.