A.PHầN Mở ĐầU.
I. Lí do chọn đề tài.
1.Về mặt lí luận .
Dạy học Thơ mới là một hoạt động đòi hỏi sự nỗ lực sáng tạo không
ngừng của giáo viên và học sinh.Từ muôn đời nay thơ nói chung - thơ mới nói
riêng vẫn luôn đòi hỏi sự tri âm,tri kỷ,đòi hỏi sự tiếp nhận vừa dựa trên những
kinh nghiệm,tri thức cụ thể vừa dựa trên những khám phá mang tính trực
giác.Vì vây dạy học thơ mới có vị trí rất quan trọng để khơi gợi năng lực văn
trong mỗi học sinh.
2.Về mặt thực tiễn .
Thơ mới là một thể thơ hay nhng khó.Học sinh rất hào hứng khi đọc-hiểu
tác phẩm tuy nhiên sự tiếp nhận còn nhiều lúng túng,cách lí giải cha thật thấu
đáo.Do đó việc dạy học thơ mới theo đặc trng thể loại là một việc làm cần thiết
giúp ngời học có cách cảm thụ thơ hiệu quả nhất.Đó là lí do
II..Phạm vi đề tài .
Phạm vi nghiên cứu của thể loại Thơ mới rất rộng.Vì vậy để đạt đợc kết quả
cao ,phạm vi đề tài đợc tập trung,tôi chỉ giới hạn nói về công việc giảng dạy thơ
mới ở nhà trờng phổ thông
III.Đối t ợng .
Đối tợng về đề tài nghiên cứu
Giảng dạy thơ mới theo đặc trng thể loại
Đối tợng đề tài hớng tới
Học sinh THCS đặc biệt là học sinh lớp 8,9.
IV .Mục đích .
Đề tài này giúp cho công việc dạy vãn của giáo viên có hiệu quả cao hơn .Giúp
cho học sinh cảm nhận và tiếp thu những giá trị của dân tộc .Ngoài ra ,giúp các
em bảo vệ và duy trì những thành quả mà ngời xa để lại
- Đề tài này giúp giờ dạy học thơ mới của giáo viên đạt hiệu quả cao hơn.
1
- Hình thành cho ngời học phơng pháp cảm thụ thơ mới
-.Khảo sát thực trạng cảm thụ thơ mới của học sinh lớp8-9
thơ .Một số thể thức đợc du nhập từ thơ phơng Tây( trớc hết là thơ Pháp)
không chối bỏ mà khéo hoà hợp với những thể thức đã có từ nền thơ truyền
thống ,và ngợc lại ,những thể thơ truyền thống khi đợc sử dụng lại cũng đã đ-
ợc cải biến để có một khuôn mặt khác trớc.
Nh vậy , mặc dù thơ mới từng có lúc bị giải thích một cách phiến diện
,khiến không ít ngời nghi ngờ tính hữu lí của nó,nhng thơ mới không phải là
một khái niệm rỗng. Hoàn toàn có thể dùng nó để vạch ra sự khu biệt giữa hai
thời đại thi ca.Ngay từ năm 1942 , trong Thi nhân Việt Nam,Hoài Thanh đã
chỉ ra cái mới cơ bản của thơ mới ở phần tinh thần.Ông cho rằng tinh thần của
thời đại thơ mới nằm ở chữ tôi. Với phong trào Thơ mới , quả là cái tôi cá
nhân đã lên tiếng đòi quyền sống ,sau nhiều thế kỷ bị cái ta đè nén . Nhà
phê bình đã viết : Xã hội Việt Nam từ xa không có cá nhân . Chỉ có đoàn thể
: lớn thì quốc gia ,nhỏ thì gia đình. Còn cá nhân ,cái bản sắc của cá nhân chìm
đắm trong gia đình , trong quốc gia nh giọt nớc trong biển cả. Sự trỗi dậy của
cái tôi cá nhân có một ý nghĩa văn hoá lớn lao trong đời sống của nhân loại
văn minh . Đối với văn học nói chung và thi ca nói riêng , nó có tác dụng
khích lệ các nhà thơ bày tỏ mình một cách thành thực ,dám dùng quan điểm
cá nhân ,lập trờng cá nhân để giao tiếp với cuộc đời và đánh giá thế giới ,tạo
ra tính đa thanh của cả một nền thơ . Nhìn chung ,vào thời điểm phong trào
Thơ mới đang làm cuộc cách mạng thi ca ,luận điểm nhấn mạnh vào cái mới
của thơ mới ở phơng diện tinh thần nh trên đợc xem là luận điểm đáng kể
nhất . Chính nó đã góp phần khẳng định ý nghĩa đích thực cần đợc thừa nhận
của danh hiệu Thơ mới mà ngời đề xớng phong trào là Phan Khôi lúc đầu chỉ
định tạm dùng . Tuy vậy. Cho đến nay ,hai chữ Thơ mới đã mang một
hàm nghĩa rộng hơn ,chỉ một phong trào ,một trào lu thơ ca đã đi vào lịch sử
văn học nh một cuộc cách mạng về thi pháp , đa thơ Việt Nam bớc qua giai
đoạn cổ điển để tiến vào quỹ đạo hiện đại.
2,.Đối t ợng phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Để nghiên cứu đè tàì này một cách sâu rộng ,ngời giáo viên cần phải có một
3
sự phát triển của thơng nghiệp , công nghiệp , giao thông ,bu điện. Các đô thị cũ
4
biến thành đô thị Âu hoá và các đô thị mới mọc lên mà ở đó tầng lớp thị dân
ngày càng trở nên đông đảo . Nền giáo dục thay đổi với sự xuất hiện của các tr-
ờng học Pháp Việt , cho ra lò một tầng lớp trí thức Tây học sẵn lòng tiếp nhận
văn hoá phơng Tây nhng vẫn nặng lòng với nền văn hoá truyền thống ( chỉ có
một bộ phận nhỏ mất gốc ,trở thành những ông Tây An Nam từng là đối tợng chế
giễu của Nam Xơng trong một vở kịch nói ). Chính tầng lớp trí thức có cách nhìn
đời mới , cách sống mới , nhịp rung cảm mới trên cơ sở tôn trọng quyền sống của
con ngời cá nhân này sẽ là chủ thể của một phong trào thi ca mới nhất định phải
đợc khởi xớng .
Một đất nớc đứng trớc sự lựa chọn tồn tại hay không tồn tại , một nền văn
hoá đứng trớc yêu cầu duy tân, một thế hệ thi sĩ mới đứng trớc đòi hỏi phải tìm đ-
ợc lối thoát cho hồn thơ của mình , những điều thúc bách ấy cộng h ởng với
nhau , đa đến sự phát triển đột biến của thơ mà thanh tựu là thành tựu chung của
tất cả . Dĩ nhiên , sự phát triển đột biến ấy là kết quả của một quá trình tích tụ ,
hội tụ đủ các điều kiện cần thiết . ở trên đã đề cập phần nào các điều kiện chính
trị ,kinh tế , một chút điều kiện văn hoá và điều kiện nhân sự .Cần phải nói
thêm về ý nghĩa của cuộc cải cách văn tự đa đến vị trí thống ngự của chữ quốc
ngữ , sự xuất hiện dồn dập của báo chí tiếng Việt ở khắp ba kì , sự truyền bá rộng
rãi các hình thức sinh hoạt văn hoá ,văn nghệ mới nh diễn kịch , chiếu phim , sự
xuất hiện dồn dập của báo chí tiếng Việt ở khắp ba kì ; sự truyền bá rộng rãi các
hình thức sinh hoạt văn hoá , văn nghệ mới nh diễn kịch ,chiếu phim , sự ra đời
của Trờng Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dơng , sự thành công bớc đầu của cuộc cải
cách văn học diễn ra trên địa hạt văn xuôi và kịch nói ( cần lu ý rằng những tác
phẳm văn xuôi tiếng Việt và kịch nói đã xuất hiện trớc bài thơ mới đầu tiên hàng
chục năm ) , sự có mặt của thi sĩ Tản Đà với các bài thơ mang tình điệu lãng mạn
không còn giống xa , sự thí nghiệm một hình thức thơ khác lạ do Nguyễn Văn
Vĩnh thực hiện để dịch thơ ngụ ngôn của La Phông- ten, Cũng cần nói đến việc
từ bỏ trận tuyến văn chơng của các nhà khoa bảng có uy vọng lớn trong xã hội
hai câu : Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối Ta say mồi đứng uống ánh
trăng tan? cũng có sức mạnh của một tuyên ngôn để bêng vực cho thơ mới.
Khi thơ mới đã toàn thắng ,chính những ngời tham gia tranh luận về thơ
mới , thơ cũ cũng dần nhận thấy rằng các khái niệm cũ , mới với nội hàm
đợc xác định nh bấy lâu không phản ánh hết thực chất của vấn đề và cuộc cách
6
mạng thi ca đang nhóm dậy không chỉ nhằm vào việc phá bỏ những khuôn khổ
gò bó của thơ Đờng luật để cho ra đời thể thơ tự do( điều này ở trên đã đợc trình
bày).
Giai đoạn 2: Thơ mới bớc vào giai đoạn phát triển thứ hai khi đã có sau lng
những tác phẩm rất có giá trị của Lu Trọng L ,Huy Thông và đặc biệt là của Thế
Lữ - ngời đã có cái côn dựng thành nền Thơ mới ở xứ này và đợc tôn là đơng
thời đệ nhất thi sĩ(Hoài Thanh). Thế Lữ đã thực hiện đợc bằng sáng tác khát
vọng của những ngời khởi xớng phong trào Thơ mới : tìm hình thể mới cho thơ
,phô bày cảm xúc chân thực ,đi tìm chuẩn mực mới cho cái đẹp
Tôi chỉ là một khách tình si
Ham vẻ đẹp có muôn hình ,muôn thể.
Mợn lấy bút nàng Li Tao, tôi vẽ ,
Và mợn cây đàn ngàn phím tôi ca
Vẻ đẹp u trầm ,đắm đuối ,hay ngây thơ,
Cũng nh vẻ đẹp cao siêu,hùng tráng
Của non nớc, của thi văn, t tởng
(Cây đàn muôn điệu)
Theo những câu thơ trên ,cái đẹp trong mắt các nhà thơ mới đã có một
nội hàm phong phú ,nó dung chứa tất cả những gì làm nên sự sống động ,phức
tạp,quyến rũ ,đáng yêu ,đáng ghét của cuộc đời. Nhng dù đợc mệnh danh là giáo
s dạy khoa tình ái cho cả một thời đại (Hoài Thanh) ,dù đã đa đợc vào thơ ngọn
gió mát của lòng yêu đời và khát sống, Thế Lữ vẫn cha dám gọi ngời thiếu nữ
mình yêu bằng tiếng em thân mật, gần gũi và còn phải choàng lên hình sắc thật
của trần gian tấm khăn voan mờ ảo hoạ cảnh tiên giới. Cái tôi của thơ mới ,với
sung sớng. Nhng vội vàng một nửa ; Vuờn cời bằng bớm ,hót bằng chim ;
Một ít nắng ,vài ba sơng mỏng thắm mấy cành xanh năm bảy sắc yêu yêu;
Thoạt đầu những câu thơ ấy gây chối , nh ng về sau chúng đợc nhìn nhận khác
đi. Có lẽ phải diễn đạt thế Xuân Diệu mới thể hiện đợc nét tơi nguyên trong cảm
giác, cảm xúc của mình về thế giới. Ngôn ngữ đã đợc làm lạ hoá ,và với điều đó ,
nó giúp cho việc cảm thụ của độc giả thoát khỏi lối mòn. Trong những trờng hợp
đặc biệt thành công, ngôn ngữ ấy đã góp phần đắc lực vào việc thể hiện những
phát hiện vô cùng tinh tế về cái huyền nhiệm của sự sống của vũ trụ:
8
Mây vắng, trời trong ,đêm thuỷ tinh
Linh lung bóng sáng bỗng rung mình
(Nguyệt cầm)
Con đờng nhỏ nhỏ ,gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang,nắng trở chiều
(Thơ duyên
Thơ mới có lẽ đạt tới điểm cực thịnh và đợc tầng lớp độc giả mới tung hô
nhiều nhất vào thời Xuân Diệu đoạt vơng miện thơ của Thế Lữ. Hoài Thanh đã
không ngần ngại nói rằng Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới và xem
ông là nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại . Nhng dù sao đó cũng chỉ là
một đánh giá dựa vào tiêu chí riêng của nhà phê bình vốn nghiêng về ủng hộ
tuyến cách tân rất thành công từ Thế Lữ đến Xuân Diệu .Thực ra , những nẻo
đờng tìm tòi của thơ mới khá đa dạng và chúng không nhất thiết phải chọn một
điểm dừng chung ,cố định. Nguyễn Bính tìm về cái chân quê .Hàn Mặc Tử
,Chế Lan Viên hớng tới cái siêu thực . Bích Khê cặm cụi chế tác một lối thơ
thuần tuý và tợng trng . Lu Trọng L thì vẫn mơ màng với những cảnh tợng d-
ờng nh phi thời gian Vũ Hoàng Ch ơng lại muốn tạo cho mình thế đứng thăng
bằng giữa hồn cũ Thịnh Đờng muôn nẻo sáng với hồn thơ phơng Tây của cái
cá nhân,cái đô thị Nhìn chung , cái tôi của thơ mới đã tiến đ ợc một bớc dài
trên con đờng tìm mình và khẳng định mình . Sau những hào hứng và tự tin, nó
bắt đầu chạm phải cái cô đơn có tính chất định mệnh để rồi mỗi lúc một lún sâu