Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ô tô nông dụng sản xuất tại công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị giao thông vận tải - Pdf 83

MỞ ĐẦU
Trong xu hướng phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay thì vai trò của ngành
công nghiệp đóng vai trò quan trọng để giúp Việt Nam thoát khỏi nước nông
nghiệp lạc hậu. Trong tương lai tới nhà nước sẽ chú trọng phát triển ngành công
nghiệp trong đó đặc biệt là ngành công nghiệp ô tô. Nhu cầu của về ô tô của thị
trường Việt Nam là rất lớn, chính vì vậy việc triển khai xây dựng các dự án nhà
máy sản xuất lắp ráp ô tô của Việt Nam đang được chính phủ phê duyệt để
nhanh chóng đi vào sản xuất đáp ứng nhu cầu của thị trường. Thị trường ô tô sắp
tới đây dự báo sẽ rất sôi động, nhất là sau khi chính phủ đã ban hành quyết định
cho phép nhập khẩu xe cũ đã qua sử dụng. Ở Việt Nam hiện nay, các công ty
liên doanh nước ngoài hầu hết chỉ tập trung sản xuất các loại xe cao cấp. Còn
lượng xe nông dụng phục vụ cho chuyên chở đa phần phải nhập khẩu từ nước
ngoài. Đứng trước tình hình như vậy các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước
sẽ làm gì để cạnh tranh và tìm hướng đi cho mình nhằm mục đích tồn tại và phát
triển. Nhà nước đã ban hành nghị định cấm các loại xe công nông lưu hành do
đó cần có số lượng lớn xe nông dụng để thay thế phục vụ cho công việc sản xuất
của người dân.
Trong quá trình thực tập ở công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị giao
thông vận tải TMT , đây là công ty sản xuất xe nông dụng thương hiệu Cửu
Long cũng như nắm bắt được tình hình và nhu cầu của thị trường về loại xe
nông dụng nên em đã lựa chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh
của ô tô nông dụng sản xuất tại công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị
giao thông vận tải” làm chuyên đề thực tập của mình. Đề tài này sẽ chỉ ra những
nhân tố tác động đến cạnh tranh của xe nông dụng, phân tích khả năng cạnh
1
tranh trên thị trường Việt Nam và đề xuất những giải pháp nhằm tăng khả năng
cạnh tranh, đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm của công ty TMT.
Bố cục của chuyên đề thực tập bao gồm
Chương I Đặc điểm ô tô nông dụng sản xuất tại công ty thương mại và sản
xuất vật tư thiết bị giao thông vận tải - Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng
cạnh tranh của sản phẩm công ty.

sánh lượng thực tế với số lượng quy định trong hợp đồng, hoá đơn và phiếu
đóng gói nếu có. Kiểm tra chất lượng, đối với linh kiện mua trong nước, sau khi
3
đã nhập linh kiện về kho sẽ tiến hành lắp ráp từ 2 – 5 xe hoàn chỉnh để xác định
được sự đồng nhất giữa các linh kiện nhập khẩu vớI các linh kiện mua trong
nước. Việc xác định chất lượng các loạI linh kiện thực nhập so với các loại linh
kiện mẫu do phòng nội địa hoá, nhà máy sản xuất lắp ráp cùng tiến hành theo
đúng chức năng của từng bộ phận. Đối với các linh kiện nhập khẩu sau khi nhập
linh kiện vật tư về kho thì nhà máy sẽ tiến hành kiểm tra về số lượng, chất lượng
bằng cách cho lắp thử 2 – 5 sản phẩm và kiểm tra chỉ tiêu theo đúng quy định.
Trong quá trình lắp ráp nếu phát sinh chất lượng không bảo đảm ngay lập tức
nhà máy phải báo cáo cho giám đốc công ty để xem xét giải quyết. Các vật tư
sản phẩm khác khi nhập về công ty như phôi thép, máy móc thiết bị thì thuê cơ
quan giám định kiểm tra chất lượng. Với nhựa đường thuê viện khoa học kỹ
thuật công nghệ giao thông vận tải thuộc bộ giao thông vận tải kiểm tra xác
định. Khi nhận được kết quả kiểm tra giám định, trưởng phòng xuất nhập khẩu
hoặc người uỷ quyền so sánh kết quả với yêu cầu và xử lý. Công tác ghi chép và
xử lý kết quả đối với vật tư linh kiện. Tất cả các vật tư linh kiện khi nhập kho
đều phải được kiểm tra đầy đủ cả về chất lượng, số lượng, nếu vật tư, sản phẩm
không đạt yêu cầu, có một chỉ tiêu không đạt về chất lượng, số lượng phải có
biện pháp khắc phục. Đối với hàng nhập khẩu nhà máy báo cáo giám đốc, được
sự chỉ đạo của giám đốc công ty và phòng xuất nhập khẩu sẽ thông báo cho nhà
cung cấp biết hoặc có kế hoạch để xử lý đồng thời mở phiếu xử lý không phù
hợp. Đối với hàng mua trong nước trưởng phòng nội địa hoá báo cáo cho giám
đốc nếu cần và thông báo cho nhà cung cấp, cùng với nhà cung cấp có kế hoạch
xử lý sản phẩm trên đồng thời mua phiếu xử lý không phù hợp.
1.2. Quy định theo dõi nhập và xuất vật tư linh kiện
Tất cả các linh kiện vật tư vào kho phải có ý kiến chỉ đạo của ban giám đốc
công ty hoặc được uỷ quyền có thể bằng văn bản hoặc điện thoại trực tiếp.
Ngoài ra các vật tư linhh kiện nhập vào kho đều phải được kiểm tra về số lượng

1.3. Quy định phân loạI và xử lý sản phẩm không phù hợp
Công đoạn GiớI hạn mở Người
mở phiếu
Biện pháp
xử lý
Mua vật tư
- Nhập khẩu
linh kiện ô tô
- Vật tư trong
nước
-Kiểm tra nếu có
vật tư tổng thành
không phù hợp
-Vật tư không
đạt của nhà sản
xuất không được
lớn hơn 3%
-Phòng XNK
-Phòng XNK
-Nhà máy sản
xuất lắp ráp ô
tô Cửu Long
- Báo cho giám đốc, nhà
cung cấp để xử lý
- Báo cáo cho giám đốc,
cơ sở sản xuất để xử lý
Vật tư sản phẩm
lưu kho trong
quá trình sản
xuất không đạt

Sửa lạI cho đạt hoặc đổI
sản phẩm
Sản phẩm vật tư
trong các công
đoạn sản xuất
Tỷ lệ hỏng trong
công đoạn kiểm
tra
- Nhà máy sản
xuất lắp ráp ô
tô Cửu Long
- Thông báo cho nhà
cung cấp, nhà sản xuất,
tìm nguyên nhân và sửa
lạI để cung cấp
- Báo cáo cho giám đốc
nhà máy, giám đốc công
ty nếu cần
Sản phẩm vật tư
trong quá trình
kiểm tra thành
phẩm
Phát hiện phụ
tùng vật tư chi
tiết không đạt
- Phòng QLCL
báo lỗI sau lắp
ráp
- Thông báo cho nhà
máy, nhà cung cấp tìm

sót thì sẽ được nhập vào kho để chờ tiêu thụ. Tất nhiên trong thời gian nhập kho
7
vẫn phải thường xuyên kiểm tra theo dõi cũng như có chế độ bảo dưỡng định kỳ
để xe luôn đảm bảo chất lượng đề ra.
Công tác quản lý thiết bị máy móc sản xuất là công tác quan trọng giúp cho
máy móc luôn trong tình trạng hoạt động tốt, ngoài ra còn là hệ thống cơ sở vật
chất phục vụ cho quá trinh lắp ráp sản xuất như nhà máy, phân xưởng. Nhân sự
trong công ty cũng như trong nhà máy được quản lý chặt chẽ bởI phòng tổ chức
hành chính, bất cứ vấn đề gì liên quan đến nhân sự đều được can thiệp kịp thờI,
các chế độ khen thưởng cũng như xử phạt đều được thực hiện theo quy định của
công ty. Phòng quản lý chất lượng sẽ đóng vai trò kiểm tra các xe không phù
hợp vớI yêu cầu đề có những biện pháp khắc phục cũng như có chính sách
phòng ngừa sai sót bằng cách luôn cảI tiến nâng cao chất lượng sản phẩm. Điều
này có ảnh hưởng quyết định đến cả quá trình quản lý hệ thống chất lượng của
công ty. Công ty thường xuyên đánh giá và đo lường sự thoả mãn của khách
hàng về sản phẩm. Luôn thu thập thông tin ý kiến của khách hàng và lập bảng
phân tích đánh giá nhằm xây dựng tốI ưu tiêu chuẩn của xe nông dụng để gia
tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
8
S cỏc quỏ trỡnh liờn quan n h thng qun lý cht lng
Chính sách chất lợng/mục tiêu chất lợng
Cơ cấu tổ chức Hệ thống thông tin Kiểm soát tài liệu Kiểm soát hồ sơ
Kế hoạch
sản xuất
Linh kiện
Triền khai
sản phẩm
mới
Xây dựng quy
trình công

thiết bị, công nghệ và phương tiện sản xuất lắp ráp ôtô theo công nghệ tiên tiến
của Khu vực. Xe ôtô tải được sản xuất, lắp ráp từ cụm tổng thành - CKD. Toàn
bộ: động cơ, hộp số, trục các đăng, cầu trước và sau, khung xe ... nhập khẩu từ
nước ngoài và các cụm chi tiết sản xuất trong nước, thùng hàng, bộ nhịp, săm
lốp, ắc qui, vành bánh xe ...
Tại phân xưởng sơn, thùng cabin được xử lý hóa chất theo công nghệ tiên tiến
xử lý bề mặt, tẩy gỉ và loại bỏ toàn bộ các tạp chất dầu mỡ... Toàn bộ 100%
thùng, cabin đều được phốt phát hóa bề mặt. Tại công đoạn này, kỹ thuật công
nghệ được áp dụng triệt để nhằm nâng cao tuổi thọ kim loại, đồng thời là công
đoạn chuẩn bị cho sơn lót và sơn màu. Công đoạn sơn hấp (sấy khô bằng nhiệt)
được áp dụng cho cả sơn lót và sơn màu.
Đồng thời hoạt động với dây chuyền hàn và sơn còn có hai dây chuyền lắp ráp
khung xe và cabin. Tại dây chuyền lắp ráp, khung xe được hoàn thiện phối bộ
với các cụm linh kiện chủ yếu như: cầu xe, động cơ, bộ nhíp, hộp số, hệ thống
chuyền động, hệ thống lái ....
Nhà máy Ô tô Cửu Long được trang bị dây truyền lắp ráp hiện đại và linh hoạt
phù hợp cho các loại xe tải trọng tải từ 500kg đến 10 tấn. Tất cả các mối ghép
quan trọng của xe đều được kiểm tra lực xiết bằng thiết bị chuyên dụng ngay tại
thời điểm xiết chặt bằng súng dẫn động khí nén.
10
Khi vật tư đưa vào nhà máy để kiểm tra, nếu không đạt thì trả lại cho người
cung cấp hoặc đem đi xử lý tuỳ theo tình trạng của vật tư có thể sửa chữa được.
Nếu đạt thì đưa vào phân xưởng hàn, tiếp tục kiểm tra thành phẩm sau khi hàn,
đạt tiêu chuẩn tiếp tục đưa tới phân xưởng sơn, sau khi đã kiểm tra thành phẩm
được sơn thì đưa vào phân xưởng cabin, tiến hành hoàn thiện ở phân xưởng
cabin đạt yêu cầu thì chuyển vào phân xưởng lắp ráp. Các vật tư của cabin xe
cũng vậy, khi nhập về thì đều phải tiến hạn kiểm tra, đạt chất lượng thì đưa tiếp
vào phân xưởng cabin, không đạt có thể phải trả lại cho người cung cấp. Tương
tự đối với thùng xe sau khi kiểm tra ở gian đoạn đầu, nếu đạt thì đưa vào phân
xưởng sơn, sau khi thùng xe được sơn xong, kiểm tra đúng yêu cầu thì đưa vào

Kiểm tra
Xử lý
Phân xởng
cabin
Kiểm tra
Vật t
Kiểm tra
Kiểm tra
Vật t
Đăng kiểm
VN
Quản lý
chất lợng
Kiểm tra
Phân xởng
lắp ráp
Kiểm tra
Xử lýTrả lại NCC
Bộ phận
giao xe
Khách
hàng
1.6. Thông số kỹ thuật của các loại xe
1.6.1. Thông số kỹ thuật xe ôtô Cửu Long trọng tải 500KG - CL10104
1.6.2. Thông số kỹ thuật xe ôtô Cửu Long trọng tải 1,5 Tấn - CL2815D
Số người cho phép 02 (120)kg
Tải trọng(Kg) 620
Trọng lượng không tải 680
Trọng lượng toàn phẩn 1420
Dài toàn bộ(mm) 3560

Khoảng sáng gầm xe (mm) 205
Ắc qui 6 - QA - 120Ah
Khung xe (sát xi) 200 x 65 x 6
Sức chịu tải lớn nhất (kg) 10.000
Vật liệu chính làm khung 16 Mn
Tốc độ tối đa (km/h) 74
Khả năng leo dốc (trên đường khô và bằng phẳng) 24
0
45’
Điện áp định mức 12V
Kiểu loại động cơ YN490Q(D1),4 kỳ
Đường kính xi lanh (mm) 90
Hành trình piston (mm) 100
Dung tích động cơ (cm
3
) 2.540
Tỷ số nén 18:1
Công suất cực đại (Kw/v/p) 45,6/3.200
Mô men xoắn cực đại (N.m/v/p)Oe 156,8/2.240
Lượng tiêu hao nhiên liệu (L/100km) 9,8
Cỡ lốp (inch) 7.00 16 - 10PR
Hệ thống lái 609W1 trục vít-ecu bi
Mô men đầu vào max (Nm) 1.610
Kiểu loại Cabin Cabin đơn
14
Tải trọng(Kg) 620
Trọng lượng không tải 680
Trọng lượng toàn phẩn 1420
Dài toàn bộ(mm) 3560
Rộng toàn bộ(mm) 1380

Khoảng sáng gầm xe (mm) 200
Kích thước bên trong thùng hàng
Chiều dài (mm) 3430
Chiều rộng (mm) 1980
Chiều cao (mm) 450
Tốc độ tối đa (km/h) 80
Khả năng leo dốc (trên đường khô và bằng phẳng) 25,14
Động cơ 4100QB-2
Đường kính xi lanh (mm) 100
Hành trình piston (mm) 105
Dung tích động cơ (cm
3
) 3298
Tỷ số nén 17,5-1
Công suất cực đại Kw/v/p 62,5/3400
Lực xoắn cực đại Nm/v/p 201/2000-2200
Tỷ số truyền hộp số
7,31;4,31;2,45;1,54;1,0.
Số lùi:7,66
Cỡ lốp (inch) 8.25-16
Hệ thống lái Trục vít ecubi
Mô men đầu vào max (Nm) 10500
1.6.5. Thông số kỹ thuật xe ôtô Cửu Long trọng tải 4 Tấn - CL5840D
16
Số người cho phép 02 (120)kg
17
Tải trọng(Kg) 620
Trọng lượng không tảI 680
Trọng lượng toàn phẩn 1420
Dài toàn bộ(mm) 3560

ngồi. Nếu đề xuất được phê duyệt (dự kiến áp dụng từ 1/7/2004) sẽ có tới 31,5
ngàn ôtô 2 loại này quá niên hạn sử dụng không đảm bảo an toàn kỹ thuật cần bị
loại bỏ (hiện số phương tiện có độ tuổi sử dụng trên 20 năm là 91,5 ngàn chiếc,
chiếm 21,5%). Như thế, năm 2005 Việt Nam sẽ cần thay thế khoảng 42 ngàn xe
nông dụng các loại, nâng nhu cầu xe nông dụng lên thêm 78 ngàn chiếc năm
2005 và năm 2010 là 132 ngàn chiếc. Hơn nữa, Việt Nam cũng còn khoảng 100
ngàn xe công nông đang sử dụng ở các vùng nông thôn, miền núi cần được thay
thế trong tương lai. Nhu cầu của thị trường xe nông dụng các loại của Việt Nam
là rất lớn.
2.2. Sản xuất trong nước chưa đáp ứng nhu cầu
Việt Nam có 160 DN nhà nước lắp ráp - sửa chữa ôtô nhưng chỉ có 19 đơn vị
trực tiếp lắp ráp. Trong đó, một số rất ít DN lắp ráp - sản xuất xe nông dụng là
Công ty Cơ khí xe máy với công trình sản xuất xe nông dụng dưới 3 tấn, Công
ty Cơ khí ôtô Sài Gòn Samco, Công ty Cơ khí ôtô Ba Thành (Hải Phòng)… sản
xuất xe nông dụng dưới 3 tấn. Các DN này đều có quy mô nhỏ, công suất vài
trăm xe một năm, công nghệ thấp và lắp ráp là chủ yếu.
Còn 11 DN liên doanh sản xuất và lắp ráp ôtô có vốn đầu tư nước ngoài lại mới
chỉ chú trọng đến sản xuất xe du lịch. Ba công ty liên doanh chuyên về xe nông
dụng là: Isuzu, Suzuki lắp ráp sản xuất xe nông dụng nhẹ và Công ty Hino
chuyên xe nông dụng nặng với sản lượng khiêm tốn, năm 2001 được 103 xe,
19
2002 là 156 xe... Một vài DN FDI khác cũng có sản xuất lắp ráp xe nông dụng
nhưng chủ yếu là xe nông dụng nhỏ và sản lượng không nhiều. Cụ thể số DN
này mới chỉ sản xuất khoảng 1.900 xe nông dụng các loại (chủ yếu xe 1 tấn và
1/2 tấn (khoảng 100 xe), trên 6 tấn chỉ 38 xe.
2.3. Khả năng cạnh tranh của xe ô tô nông dụng Cửu Long
Như vậy với nhu cầu ngày càng lớn về xe nông dụng như hiện nay và sắp tới
cộng với việc những công ty sản xuất lắp ráp ô tô nông dụng chưa đáp ứng được
về quy mô sản xuất thì có thể thấy khả năng cạnh tranh của xe ô tô nông dụng
Cửu Long là rất cao. Đây là một tín hiệu vui cho công ty TMT vì sau khi xây

khi đã cơ bản hoàn thành bước đầu này mới tính đến việc đưa sản phẩm ra có
phù hợp và đáp ứng được với đặc điểm của thị trường đã chọn hay không, để có
bước điều chỉnh thích ứng một cách nhanh chóng. Chỉ có như thế thì sản phẩm
của doanh nghiệp mới có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng và được
họ chấp nhận và sản phẩm sẽ có tính cạnh tranh cao hơn so với các loại sản
phẩm của đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Nói đến chất lượng là nói đến một
khái niệm trừu tượng, có những tiêu chuẩn được đưa ra để kiểm tra chất lượng
của sản phẩm tuy nhiên có những trường hợp không có một tiêu chuẩn nào để
đánh giá. Đối với khách hàng này họ có thể hài lòng với sản phẩm của doanh
nghiệp nhưng cũng chính sản phẩm đó nếu đưa cho khách hàng khác chưa chắc
họ đã chấp nhận vì như đã nói ở trên quan điểm của mỗi người mỗi khác. Chất
lượng của sản phẩm chỉ có thể dần hoàn thiện thông qua cách đánh giá cũng như
21
phản hồi của người tiêu dùng. Đây là yếu tố quyết định đến khả năng cạnh tranh
của sản phẩm. Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà các đối thủ cạnh tranh
ngày càng nhiều thì việc nâng cao khả năng cạnh tranh là vấn đề sống còn của
doanh nghiệp. Chỉ có thể nâng cao chất lượng sản phẩm, coi chất lượng sản
phẩm là thước đo mức độ hài lòng của khách hàng. Chất lượng sản phẩm là một
quá trình từ quá trình sản xuất, trải qua nhiều công đoạn. Phải có một đội ngũ
lành nghề để có thể cải thiện được chất lượng sản phẩm và cần thiết phải hoàn
thành trong thời gian ngắn vì nếu cải tiến quá lâu sẽ bỏ mất cơ hội và bị đối thủ
cạnh tranh vượt mặt.
3.2. Giá bán của sản phẩm
Đời sống ngày càng được nâng cao và nhu cầu của con người càng ngày càng
thay đổi theo chiều hướng gia tăng nhưng nếu xét chung thì giá cả vẫn là một
yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến tâm lý người tiêu dùng khi quyết định
mua một sản phẩm nào đó. Giá sản phẩm của doanh nghiệp đưa ra nếu thấp hơn
so với đối thủ cạnh tranh thì là mội ưu thế lớn để thu hút khách hàng. Vấn đề
định giá của sản phẩm hiện nay không chỉ đơn thuần là phụ thuộc vào chi phí
mà còn bị chi phối vào những biến động xảy ra trên thị trường, căn cứ vào sự

trình đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Để làm được điều này không phải
là dễ khi mà với những trang thiết bị chưa thực sự hiện đại so với nước ngoài
nên năng suất không thể đạt tối đa và ngoài ra các chi phí phát sinh còn do phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan về phía doanh nghiệp
trong khi sản xuất chế tạo sản phẩm.
23
Bán với mức giá hạ hoặc mức giá thấp. Với cách làm này thì doanh nghiệp phải
tính toán rất kỹ khi đưa ra giá cả thấp của sản phẩm. Liệu đây có phải là phương
pháp tối ưu. Có thể cạnh tranh về giá thấp trong một thời gian nhưng nếu duy trì
như vậy trong thời gian dài có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp hay
không? Trong một chừng mực nào đó việc bán giá thấp là để chiếm lĩnh thị
phần, hất cẳng đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường. Tuy nhiên đây cũng như
con dao hai lưỡi, nếu đối thủ cạnh tranh có tiềm lực thì việc chạy đua về giá có
thể khiến doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn thậm chí là có thể bị thua cuộc.
Quan trọng hơn hết là đảm bảo một mức giá hợp lý trên thị trường kèm theo
những chiến thuật hợp lý nhằm giúp sản phẩm của công ty có thể cạnh tranh
được trên thị trường.
Mức giá có một vai trò quan trọng trong cạnh tranh. Nếu như có sự chênh lệch
về giá của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh, lớn hơn so với chênh lệch về
giá trị sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp thì có thể nhận thấy doanh nghiệp đã
đem lại lợi ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với các đối thủ khác. Do đó sản
phẩm của doanh nghiệp sẽ càng ngày càng chiếm được lòng tin của khách hàng,
của người tiêu dùng và cũng có nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp chắc chắn
đạt được vị trí cạnh tranh cao trên thị trường.
Để có thể đạt được mức giá thấp thì doanh nghiệp cần phải xem xét khả năng
hạ giá sản phẩm của đơn vị mình. Nếu như có càng nhiều khả năng hạ giá thành
sản phẩm thì sẽ càng có nhiều lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ cạnh tranh
khác. Và khả năng hạ giá sản phẩm phụ thuộc vào những yếu tố sau đó là:
Chi phí về kinh tế thấp.
Khả năng bán hàng tốt do vậy khối lượng bán lớn hơn.

Trích đoạn Tỡnh hỡnh giỏ cả ụtụ hiện nay ở nước ta Thị trường ụtụ nụng dụng của Việt Nam 3 Kết quả kinh doanh của cụng ty trong những năm gần đõy Những ưu thế cạnh tranh của ụtụ Cửu Long trờn thị trường Việt Nam Khỏch hàng của ụtụ Cửu Long
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status