CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa điều này đã tạo cho Việt Nam
nguồn sản vật phong phú đa dạng của tự nhiên. Điều kiên thiên nhiên tạo cho Việt
Nam rất nhiều lợi thế cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và từ xa xưa con người
Việt Nam đã gắn bó với hoạt động nông nghiệp. Ngày nay khi nền kinh tế phát triển,
khoa hoc kĩ thuật đã mang lại những tiến bộ đáng kể cho con người nhưng sản xuất
nông nghiệp vẫn thể hiện được vai trò quan trọng của nó bởi sản xuất nông nghiệp là
tạo ra những sản phẩm nhằm duy trì sự sống cho con người. Viêt Nam vẫn là một
nước đang trong quá trình phát triển với gần 80% dân số hoạt động sản xuất nông
nghiệp vì vậy để có thể phát triển kinh tế mạnh mẽ chúng ta đã dựa trên nền của hoạt
động nông nghiệp và hiện nay xu hướng sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển,
người dân ngày càng sản xuất lớn và tập trung, đời sống nông dân ngày càng được
cải thiện. Tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp vào tổng sản phẩm quốc dân chiếm
một tỷ trọng đáng kể, và trong quá trình vươn ra thế giới nông nghiệp cũng đã có
những đóng góp rất lớn cho nền kinh tế quốc dân.
Ngày nay thị trường thế đang mở ra nhiều triển vọng lớn, cùng với chính sách
mở cửa của Nhà nước đã tao điều kiện thuận lợi cho hàng xuất khẩu và có đủ khả
năng hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam đã chọn xuất khẩu nông sản là một
trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn trong chiến lược phát triển của mình. Xuất
khẩu nông sản đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế quốc
dân vaf trong đó phải kể đến sự đóng góp của công ty cổ phần xuất nhập khẩu rau
quả I Hà Nội, là công ty chuyên kinh doanh sản xuất các mặt hàng rau quả tươi, rau
quả đóng hộp…Tuy công ty đã có những thành công nhất định nhưng không phải là
không có khó khăn trong quá trình phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình.
Hiện nay Việt Nam đã gia nhập AFTA và WTO đã tạo ra nhiều cơ hội lớn cho
phát triển kinh tế nói chung và phát triển sản xuất kinh doanh các mặt hàng nông sản
nói riêng nhưng không có nghĩa là không có khó khăn mà những khó khăn còn lớn
hơn, nhiều hơn đối với các công ty của Việt Nam. Việc gia nhập WTO cũng đã dặt ra
SV: HOÀNG SỸ TIẾN LỚP: KTNN & PTNT
Chương II: Thực trạng, khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần xuất nhập
khẩu rau quả I Hà Nội.
Chương III: Các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty.
SV: HOÀNG SỸ TIẾN LỚP: KTNN & PTNT
45
2
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH
I/ KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT, VAI TRÒ CỦA CẠNH TRANH.
1/ Khái niệm và bản chất của cạnh tranh.
1.1/ Một số học thuyết về cạnh tranh.
Nói đến cạnh tranh là nói đến kinh tế thị trường, cạnh tranh gắn liền với kinh
tế thị trường, ra đời khi xuất hiện nền kinh tế thị trường. Đã có rất nhiều học thuyết
về cạnh tranh. Từ lí luận cạnh tranh cổ điển của A.smith đến lí luận cạnh tranh hiện
đại, lí luận cạnh tranh của các trường phái khác nhau… Mỗi lí luận đã có những đóng
góp nhất định đối với sự phát triển của nền kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử nhất
định. Với mỗi nhà kinh tế đứng trên giác độ nghiên cứu của mình đã đưa ra nhiều
khái niệm cạnh tranh khác nhau, trên mỗi giác độ các khái niệm đều có những ý
nghĩa lí luận và thực tế nhất định.
1.1.1/ Lí luận cạnh tranh cổ điển:
Chủ nghĩa tự do kinh tế cổ điển ra đời ở Anh vào thế kỷ XVII, đại biểu tiêu
biểu nhất chính là A.Smith. Chủ nghĩa tự do kinh tế là linh hồn của học thuyết kinh tế
của trường phái cổ điển. Một trong các nghiên cứu của mình, kinh tế hoc cổ điển
nghiên cứu cơ chế vận hành kinh tế, cạnh tranh thị trường dẫn tới sự hài hoà lợi ích
một cách phổ biến. Trong quá trình phát triển của mình, chủ nghĩa tụ do kinh tế đã
hình thành một số tín điều trụ cột của nó (đó là: sự phối hợp nhịp nhàng lợi ích công,
tư; sự tự động điều tiết của thị trường; sự hợp lí của sản xuất; sự công bằng trong
phân phối ). Những tín điều này được hình thành trên cơ sở những giả định về cạnh
tranh hoàn hảo và thị trường hoàn hảo. A.smith chủ trương tụ do cạnh tranh, ông cho
rằng cạnh tranh có thể phối hợp kinh tế một cách nhịp nhàng có lợi cho xã hội, cạnh
và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận cao nhất.
Trong nền kinh tế hàng hoá cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực phát
triển kinh tế.
Bản chất của cạnh tranh đó là sự ganh đua nhau nhằm giành giật lợi thế cho
mình. Trong nền kinh tế thị trường thì sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế diễn ra
gay gắt hơn do tính chất và trình độ của nền kinh tế quyết định và đây chính là mầm
mống của cạnh tranh. Cạnh tranh ra đời và phát triển trong lòng kinh tế thị trường và
SV: HOÀNG SỸ TIẾN LỚP: KTNN & PTNT
45
4
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
chỉ trong kinh tế thị trường cạnh tranh mới có thể phát triển đến đỉnh điểm cả về quy
mô tính chất và trình độ.
Theo C.Mác sự ra đời và tồn tại của cạnh tranh trước hết phải dựa vào hai điều
kiện cơ bản nhất: Một là phân công xã hội; hai là chủ thể lợi ích đa nguyên. Phân
công xã hội là sản phẩm tất yếu của sự phát triển xã hội loài người tới một giai đoạn
nhất định, có phân công xã hội thì có trao đổi, thị trường và cũng có cạnh tranh. Sự
tồn tại chủ thể lợi ích đa nguyên quyết định mỗi chủ thể ấy có lợi ích kinh tế riêng, sự
theo đuổi lợi ích riêng ấy tạo nên động lực cạnh tranh.
Lý luận cạnh tranh này của chủ nghĩa Mác bắt nguồn trực tiếp từ lý luận cạnh
tranh của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển, là sự phủ định lý luận cạnh tranh xã hội
mà tiêu biểu là A.smith. Trong lý luận cạnh tranh của mình trọng điểm nghiên cứu
của C.Mác là cạnh tranh giữa những người sản xuất và liên quan đến sự cạnh tranh
này là cạnh tranh giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Những cuộc cạnh tranh này
diễn ra dưới 3 góc độ: cạnh tranh giá thành, cạnh tranh chất lượng và cạnh tranh giữa
các ngành. Ba góc dộ cạnh tranh cơ bản này diễn ra xoay quanh quyết định giá trị, sự
thực hiện giá trị và sự phân phối giá trị thặng dư. Chúng tạo nên nội dung cơ bản
trong lý luận cạnh tranh của Mác. Theo C.Mác quy luật cạnh tranh do quy luật giá trị
thặng dư thúc đẩy, lấy quy luật giá trị làm trục quay tác động vào các mặt của đời
sống kinh tế xã hội.
rộng sản xuất, áp dụng kĩ thuật mới, giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng xuất lao
động, các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để sử dụng hợp lí, tiết kiện có hiệu
quả cao nhất các nguồn lực mà mình có. Việc nâng cao trình độ kĩ thuật sản xuất, mở
rộng quy mô sản xuất… diễn ra thông qua cuộc cạnh tranh gay gắt. Kết quả cạnh
tranh làm cho vốn, sức lao động không ngừng chuyển dịch từ ngành này ( ngành có
lợi nhuận thấp ) sang ngành khác ( ngành có lợi nhuận cao ), cũng theo đó tài nguyên
kinh tế xã hội, tài nguyên nhân văn, tài nguyên tự nhiên cũng không ngừng được
phân phối lại giữa các ngành khác nhau. Sự lưu động các yếu tố sản xuất và phân
phối lại tài nguyên làm cho xã hội phát triển một cách toàn diện hơn, cơ hội để các
doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn lực của mình là ngang nhau.
Cạnh tranh là cơ chế điều tiết việc phân phối lợi nhuận. Cơ chế cạnh tranh lại
chịu ảnh hưởng bởi sư bình quân hoá lợi nhuận. Với bất kì đơn vị tư bản nào cũng
đòi hỏi lưọng tư bản ngang nhau thì thu được lợi nhuận bằng nhau. Vì vậy chủ thể
kinh doanh luôn có xu hướng đầu tư vào nngành có lợi nhuận cao hơn, việc càng có
nhiều nhà kinh doanh đầu tư vào một ngành thì càng làm cho lợi nhuận của ngành đó
SV: HOÀNG SỸ TIẾN LỚP: KTNN & PTNT
45
6
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
với từng nhà kinh doanh cụ thể giảm xuống, tạo nên sự bình quân hoá lợi nhuận, làm
lợi nhuận được điều tiết giữa các nhà kinh doanh.
Cạnh tranh buộc doanh nghiệp phải sử dụng tài nguyên một cách tối ưu và
khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng khoa học kĩ thuật mới vào sản xuất. Chỉ có
như vậy các doanh nghiệp mới có thể giảm bớt chi phí sản xuất, giảm giá thành sản
phẩm, tăng chất lượng sản phẩm để có thể cạnh tranh được trên thị trường. Yêu cầu
ngày nay về sản phẩm ngày càng khắt khe vì vậy việc áp dụng khoa hoc kĩ thuật mới
vào sản xuất mới đáp ứng được yêu cầu đó. Việc áp dụng khoa hoc kĩ thuật mới làm
hiện đại dây chuyền sản xuất, làm tăng năng xuất lao động, tăng trình độ công nhân,
thúc đẩy sự phân công lao động xã hội. Việc ứng dụng kĩ thuật mới vào sản xuất
cũng sẽ đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học kĩ thuât làm cho xã hội ngày càng
+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành
+ Cạnh tranh giưa các ngành.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng
một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện
thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Các xí nghiệp trong cùng một ngành
thường có các đặc điểm về mặt kĩ thuật, nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm… giống
nhau hoặc tương tự nhau nên biện pháp cạnh tranh thường là tăng cường cải tiến kĩ
thuật, nâng cao năng suất lao động làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá doanh nghiệp
sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá đó để thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Kết quả của cạnh tranh trong nội bộ ngành là hình thành giá trị xã hội của từng loại
hàng hoá.
Cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh trong các ngành sản xuất khác
nhau nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn. Giữa các doanh nghiệp trong các
ngành sản xuất khác nhau thì sẻ có sự khác nhau về mặt kĩ thuật, nguyên liệu sản
phẩm… Tuy vậy giữa chúng lại có sự cạnh tranh bởi vì mục đích của tất cả các
doanh nghiệp kinh doanh đều là tìm kiếm lợi nhuận cao nên các doanh nghiệp có lợi
nhuận thấp có xu hướng chuyển sang các lĩnh vực có lợi nhuận cao hơn. Kết quả của
sự chuyển dịch này là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho các ngành và giá trị
hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất.
3.2/ Căn cứ vào các chủ thể tham gia thị trường:
3.2.1/ Cạnh tranh giữa người bán và người mua:
Sự cạnh tranh này diễn ra do lợ ích của từng bên khi tham gia trao đổi quyết
định, người bán thì muốn bán đắt còn người mua thì muốn mua rẻ. Khi trao đổi thì họ
SV: HOÀNG SỸ TIẾN LỚP: KTNN & PTNT
45
8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
sẻ có sự ngã giá, trao đổi qua lại để đi đến thống nhất về các điều khoản mua bán.
Trong quá trình thương lưọng đó ai cũng muốn giành phần lợi về mình. Kết quả của
cuộc cạnh tranh này là hàng hoá có thể được bán, giá trị hàng hoá được thực hiện và
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
phẩm thường gắn với thương hiệu. Một sản phẩm có thương hiệu mạnh, nổi tiếng
luôn được người tiêu dùng ưu ái hơn sản phẩm cùng loại không có thương hiệu.
Ngày nay khi chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao thì yêu cầu về chất
lượng sản phẩm ngày càng cao và khắt khe hơn trước. Thời đại ngày nay cạnh tranh
bằng chất lượng là chính nhưng không có nghĩa là hàng hoá có chất lượng thấp hơn
không cạnh tranh được. Bởi hàng hoá gắn với tiêu dùng mà ở đây tiêu dùng được
chia làm nhiều loại thị trường tuỳ theo khả năng thanh toán và nhu cầu người tiêu
dùng nên hàng hoá có chất lượng thấp hơn vẫn được chấp nhận vì vẫn đáp ứng được
nhu cầu và khả năng tiêu dùng của một thị trường nào đó.
Tuy ngày nay chủ yếu là cạnh tranh về chất lượng nhưng cạnh tranh về giá
vẫn phát huy tác dụng của nó.
+ Khi kinh tế dịch vụ phát triển thì việc cạnh tranh không chỉ còn bằng giá cả
hay chất lượng sản phẩm mà còn bằng các dịch vụ hậu mãi kèm theo, cạnh tranh
bằng dịch vụ là mức độ cao hơn trong cạnh tranh. Nếu doanh nghiệp nào có được
dịch vụ tốt cả trước, trong và sau khi bán sản phẩm chác chắn sẻ thu hút được nhiều
khách hàng hơn đối thủ cùng loại.
Như vậy các doanh nghiệp phải tính đến biện pháp cạnh tranh hiệu quả nhất
tuỳ thuộc thị trường mà doanh nghiệp hướng tới.
II/ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực và tiềm năng của doanh
nghiệp có thể duy trì vị trí của mình trên thị trường một cách lâu dài và có ý nghĩa.
Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được chia làm hai
nhóm nhân tố đó là: các nhân tố bên trong doanh nghiệp và các nhân tố bên ngoài
doanh nghiệp.
1/ Các nhân tố bên trong doanh nghiệp:
Các nhân tố bên trong doanh nghiệp bao gồm những nhân tố tác động ảnh
hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sự hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
1.1/ Các nguồn lực:
giúp cho công việc được thực hiện một cách có định hướng, đúng tiêu chuẩn, công
việc được thực hiện một cách nhanh chóng. Quản lí tốt sẻ tránh được sự thất thoát
lãng phí cả về nguyên, nhiên vật liệu, sản phẩm và thời gian làm việc… làm tăng
năng suất giảm chi phí.
SV: HOÀNG SỸ TIẾN LỚP: KTNN & PTNT
45
11
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Mặt khác khả năng tổ chức quản lí cũng được thể hiện qua sự linh hoạt, dể
thích ứng của bộ máy doanh nghiệp, các quy định, quyết định được đưa ra và thực
hiện nhanh chóng, quán triệt đến từng người. Một bộ máy quản lí cứng nhắc, cồng
kềnh, các quyết định đưa ra phải qua nhiều khâu trình duyệt sẻ không thể có sự thay
đổi nhanh để dể thích ứng với sự biến động thường xuyên, liên tục của cơ chế thị
trường làm giảm sự cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.3/ Cơ sở vật chất kĩ thuật:
Doanh nghiệp có hệ thống cơ sở vật chất tốt như nhà xưởng, kho tàng, văn
phòng, vị trí địa lí thuận lợi là điều kiện tốt cho phát triển sản xuất bởi vì nó thuận lợi
cho sản xuất, bảo quản, vận chuyển, giao dịch, tiếp xúc với khách hàng…
Xét đến cơ sở vật chất của doanh nghiệp phải kể đến dây chuyền sản xuất,
công nghệ kĩ thuật mà doanh nghiệp đang áp dụng và khả năng doanh nghiệp có thể
tiếp cận, thay thế nhanh chóng các dây chuyền sản xuất, công nghệ mới tiên tiến hơn
( khả năng công nhân có thích ứng ngay với dây chuyền mới hay không, nguồn vốn
của doanh nghiệp có đủ để thay thế ngay không…). Doanh nghiệp áp dụng dây
chuyền sản xuất tiên tiến hiện đại sẻ nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản
phẩm, giảm giá thành tăng sức canh tranh của doanh ngiệp. Doanh nghiệp có thể tiếp
cận và thay thế nhanh chóng các công nghệ mới sẻ giúp cho doanh nghiệp có thể đáp
ứng một cách kịp thời nhất sự thay đổi yêu cầu của người tiêu dùng, nếu là doanh
nghiệp đầu tiên áp dụng công nghệ mới thích hợp sẻ tạo cho doanh nghiệp những lợi
thế rất lớn, chiếm lĩnh được thị trường, chiếm đượclòng tin của khách hàng.
1.4/ Chiến lược hoạt động marketing, quản cáo, tiếp thi sản phẩm.
chúng ta phải tính toán sao cho phù hợp với quy mô sản xuất và các điều kiện khác
như công suất dây chuyền, cung cầu sản phẩm trên thị trường để sản xuất đạt hiệu
quả cao nhất.
Thị trường đầu ra: Mọi quá trình sản xuất để sản xuất ra sản phẩm đều đảm
bảo nhưng sản phẩm sản xuất ra mà không có thị trường tiêu thụ, không được người
tiêu dùng biết đến thì sản phẩm sẽ bị ứ đọng không tiêu thụ được, sản xuất sẽ bị đình
đốn. Hàng hoá bị ứ đọng không bán được, không thực hiện được chức năng giá trị
các doanh nghiệp không thể thực hiện luân chuyển vốn để sản xuất kinh doanh, mặt
khác lại làm tăng chi phí bảo quản và có thể làm giảm chất lượng sản phẩm ( nhất là
với các sản phẩm nông nghiệp hoặc hết hạn sử dụng…). Có được thị trường đầu ra
SV: HOÀNG SỸ TIẾN LỚP: KTNN & PTNT
45
13
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
đảm bảo, ổn định sẻ đảm bảo cho việc tiêu thụ sản phẩm và sản xuất ổn định, phát
triển.
2.2/ Các nhân tố tự nhiên:
Đối với công ty không trực tiếp sản xuất trồng trọt mà chỉ chế biến sản phẩm
trồng trọt thì các tiêu thức về đất đai như tổng diện tích, hàm lượng chất dinh dưỡng
trong đất, chất đất… không ảnh hưởng đến sản xuất của công ty mà sự ảnh hưởng ở
đây chỉ có thể xét trên khía cạnh diện tích bố trí sản xuất. Diện tích này có đủ để thực
hiện và sử dụng hoàn chỉnh dây chuyền sản xuất hay không, có khả năng mở rộng
sản xuất hay không…Về việc bố trí sản xuất còn phải xem xét vị trí địa lí của nơi bố
trí sản xuất, vị trí này có thuận lợi cho sản xuất về các điều kiện của sản xuất như
điện, nước, vận chuyển, nơi sản xuất có gần đưòng giao thông không để dễ vận
chuyển và giao dich với khách hàng. Nếu doanh nghiệp có những điều kiện trên
thuận lợi sẻ có thuận lợi lớn trong cạnh tranh bởi khi đó chi phí cho việc sản xuất sẻ
thấp hơn rất nhiều là điều kiện để giảm giá thành sản phẩm.
Đất đai chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới nguyên liệu đầu vào cho chế biến. sản xuất
nông nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tụ nhiên, các điều kiện về thời tiết
những sản phẩm sát với nhu cầu thị trường hơn.
2.5/ Các đối thủ tiềm ẩn và hiện tại:
Các đối thủ hiện tại và tiềm ẩn là những doanh nghiệp đang hoạt động trên thị
trường và sẻ tham gia thị trường cạnh tranh vì cùng mục đích đạt lợi nhuận cao nhất
và những đối thủ mới tham gia thị trường sẽ làm tăng thêm sức ép cạnh tranh với
doanh nghiệp, làm giảm doanh thu của doanh nghiệp vì vậy doanh nghiệp cần chú ý
hoạt động của các doanh nghiệp này để có thể đề ra những bước đi đúng đắn cho sự
phát triển của doanh nghiệp và có thể đối phó một cách chủ động với các doanh
nghiệp khác.
2.6/ Giá các sản phẩm thay thế, sản phẩm cạnh tranh.
Các sản phẩm cạnh tranh cùng loại nếu có gia thấp hơn cũng sẽ gây ảnh
hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Giá các sản phẩm thay thế thấp thì người tiêu dùng cũng có xu hướng dùng
các sản phẩm thay thế. Các sản phẩm thay thế hạn chế mức lợi nhuận tiềm năng của
một ngành bằng cách đặt ngưỡng tối đa cho mức giá mà các doanh nghiệp trong
ngành có thể kinh doanh có lãi từ đó tác động tới khả năng cạnh tranh lâu dài của các
doanh nghiệp trong ngành.
2.7/ Các nhân tố về văn hoá xã hội:
SV: HOÀNG SỸ TIẾN LỚP: KTNN & PTNT
45
15
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Khách hàng là đối tượng phục vụ của các doanh nghiệp, các doanh nghiệp
muốn thành công phải nắm bắt được nhu cầu của khách hàng. Chính phong tục tập
quán, lối sống, thị hiếu, thói quen tiêu dùng, tôn giáo tín ngưỡng, văn hoá đã ảnh
hưởng tới cơ cấu nhu cầu thị trường từ đó ảnh hưởng tới tính khả thi của các chính
sách kinh doanh của doanh nghiệp. Đã có rất nhiều bài học về sự thất bại của các sản
phẩm nổi tiếng khi vào một thị trường nào đó nhưng lại không để ý, nghiên cứu kĩ
nhóm nhân tố này.
III/ MỘT VÀI NÉT VỀ NGÀNH RAU QUẢ VIỆT NAM:
nguồn: Bộ NN & PTNT
Do nhu cầu về quả của người tiêu dùng ngày càng tăng nên diện tích cây ăn
quả cũng tăng nhanh trong thời gian gần đây. Tính đến năm 2004 diện tích cây ăn
quả đạt trên 550 nghìn ha. Trong đó đồng bằng sông cửu long là vùng trồng cây ăn
quả quan trọng nhất của Việt Nam chiếm trên 30 % diện tích cây ăn quả cả nước.
Nhìn chung sản xuất cây ăn quả mới nhằm phục vụ thị trường trong nước, thị trường
dể tính, sức tiêu thụ lớn nhưng sẻ bị cạnh tranh rất quyết liệt nhất là khi hiện nay
chúng ta đã ra nhập WTO. Tuy nhiên với nững thuận lợi mà chúng ta có như về tự
nhiên, khí hậu… làm cho sản phẩm phong phú đa dạng, và với nhu cầu trong nước
lớn, đặc biệt đối với rau quả tươi thì nếu ngành được đầu tư thích đáng, khắc phục
những hạn chế còn tồn tại như chất lượng thấp, giá thành cao, thiếu thương hiệu, chế
biến thô sơ…ngành rau quả sẻ có sức cạnh tranh rất lớn và triển vọng phát triển là rất
cao.
Hiện nay việc trồng trọt sản xuất rau quả phát triển theo xu hướng sản xuất
hàng hoá ngày càng tăng, tuy nhiên mức độ thương mại hoá lại khác nhau giữa các
vùng. Đồng bằng sông cửu long là vùng có tỷ suất hàng hoá cao nhất nước với gần
70 % sản lượng được bán ra trên thị trường. Xu hướng phát triển tập trung chuyên
canh với quy mô lớn đã phát triên nhiều ở nhiều nơi làm tăng năng suất, giá trị sản
phẩm, giảm giá thành…cho thấy hướng di đúng đắn của ngành rau quả, có như vậy
chúng ta mới phát triển được sản xuất đủ sức cạnh tranh với thế giới. Nhưng sản xuất
nhỏ lẻ, vườn tạp gắn với tư tưởng tiểu nông vẫn còn tồn tại nhiều chính là hạn chế
lớn cho việc phát triển thương mại hoá.
SV: HOÀNG SỸ TIẾN LỚP: KTNN & PTNT
45
17
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Có thể nói thị trường Việt Nam là một thị trương rộng lớn cho tiêu thụ rau quả
với dân số trên 80 triệu người và hầu như tất cả các hộ dân đều tiêu thụ rau quả bởi
rau quả gắn liền với cơ cấu bữa ăn của người Việt, đặc biệt là những sản phẩm rau
qua tươi có chất lượng cao, an toàn. Gần đây nhu cầu về các sản phẩm rau quả đóng
quản vận chuyển, công nghệ chế biến thiếu thốn lạc hậu
Thiếu thương hiệu: Rau quả xuất khẩu chưa có thương hiệu mạnh, chủ yếu
bán qua trung gian và bán dưới dạng thô hoặc sơ chế nên giá trị chưa cao. Theo thông
kê thì hàng năm chúng ta mất đi hàng tỷ đông vì có khoảng 90 % hàng nông sản Việt
Nam xuất khẩu chưa có thương hiệu.
Thiếu các hiệp định quốc tế: Nếu có thể có được nhiều hiệp định thương mại
song phương và đa phương ( như Việt Nam – Hoa Kì ) sẽ tạo cho rau quả Vịêt Nam
có những ưu đãi về thương mại và sẽ dể dàng xâm nhập vào thị trường các nước hơn.
Như vậy có thể nói ngành rau quả Việt Nam có rất nhiều thuận lợi nhưng cũng
còn nhiều khó khăn, thách thức. Nếu chúng ta biết tận dụng nững điểm thuận lợi, hạn
chế khó khăn sẻ có rất nhiều có hội lớn cho ngành rau quả phát triển.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN XNK RAU QUẢ I_ HÀ NỘI
I/ GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY.
1/ Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần XNK rau quả I
Hà Nội.
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu ( XNK ) Rau Quả I Hà Nội là công ty chuyên kinh
doanh các mặt hàng rau, quả, gia vị…Công ty cổ phần XNK Rau Quả I Hà Nội được
thành lập ngày 12/6/1985 theo quyết định số 49/QĐ-CNTP-TCCB của Bộ công
nghiệp và thực phẩm (cũ) nay là Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Hiện nay công ty cổ phần XNK Rau Quả I là công ty cổ phần do sự hợp nhất
và sát nhập của 4 đơn vị là: Công ty XNK Rau quả I, Nhà máy lạnh Hữu Nghị Việt
Xô Hải Phòng, Công ty thực phẩm xuất khẩu Hà Nội, Công ty thực phẩm xuất khẩu
Vĩnh Phúc vào một công ty, lấy tên chung là công ty cổ phần XNK Rau quả I.
Tên giao dịch: VEGETABLE AND FRUIT EXPORT IMPORT JONT
STOCK COMPANY No.I
SV: HOÀNG SỸ TIẾN LỚP: KTNN & PTNT
45
19
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
quả I.
SV: HOÀNG SỸ TIẾN LỚP: KTNN & PTNT
45
20
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Sát nhập công ty xuất khẩu Vĩnh Phúc vào năm 1999 theo quyết định số
79/QĐ-NN-TCCB ngày 13/5/1999.
Theo các chính sách của Đảng và Nhà nước như:
Nghị định số 44/1998/NĐ-CP, ngày 29/6/1998 của Chính phủ về việc chuyển
doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần.
Nghị quyết Hội nghi TW lần thứ 3 Ban CHTW Đảng, Khoá IX, ngày
24-9-2001 về tiếp tục sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp
nhà nước.
Nghị định 64/2002/NĐ-CP, ngày 19-6-2002 của Chính phủ về việc chuyển
doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.
Nên trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005 công ty đã trình Bộ NN & PTNT
bốn Phương án Cổ phần hoá doanh nghiệp:
Năm 1999, Công ty đã tiến hành xây dựng phương án cổ phần Phân xưởng
Bao bì Hộp sắt, được Bộ phê duyệt theo Quyết định số 31/2000/BNN-TCCB, ngày
24 tháng 3 năm 2000 về việc chuyển Phân xưởng bao bì hộp sắt ( vốn nhà nước tại
thời điểm 31/12/1998 là 604.901.990 đồng ) thuộc Công ty XNK Rau quả 1 thành
Công ty CP bao bì và XNK Hà nội.
Năm 2001, Công ty xây dựng phương án cổ phần hoá Bộ phận sản xuất Chế
biến Rau quả tại Hà nội (vốn nhà nước trị giá tại thời điểm 31-10-2001 là
2.533.000.000 đồng), đã được Bộ NN & PTNT duyệt theo Quyết định số 6788/ QĐ/
BNN, ngày 28-12-2001 về việc chuyển Bộ phận Sản xuất chế biên rau quả tại Hà nội
thuộc Cty XNK Rau quả 1 thành Công ty cổ phần Tân Mai.
Năm 2002 , Công ty xây dựng phương án Cổ phần hoá Nhà máy lạnh Hữu
nghi Việt Xô Hải phòng ( tại thời điểm 0 giờ ngày 01-4-2002 trị giá thực tế của Nhà
máy là 3.132.380.814 đồng ), đã được Bộ NN & PTNT ra Quyết định số 3813/ QĐ/
XHCN đi đôi với công tác bảo vệ an ninh quốc phòng.
Công ty hoạt động độc lập, có vốn, tài sản và chịu trách nhiệm với số vốn nhà
nước cho công ty quản lý.
3/ Cơ cấu tổ chức của công ty:
Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần XNK rau quả I có mô hình kiểu trực
tuyến. Theo đó các cấp dưới chỉ chịu sự chỉ huy của một tổ chức cấp trên. Cơ cấu này
tương đối phù hợp với quy mô công ty, giúp cho các vấn đề quản trị của công ty
được giải quyết nhanh và đơn giản, tính đồng nhất và tập trung của quá trình quản trị
SV: HOÀNG SỸ TIẾN LỚP: KTNN & PTNT
45
22
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
rất cao. Theo mô hình quản lý này, mỗi phòng ban với các chức năng hoạt động riêng
biệt dưới sự chỉ đạo của ban giám đốc.
Mỗi phòng có một trưởng phòng, một phó phòng và các nhân viên.
Sơ đồ 2.1: cơ cấu tổ chức của công ty.
SV: HOÀNG SỸ TIẾN LỚP: KTNN & PTNT
45
23
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
SV: HOÀNG SỸ TIẾN LỚP: KTNN & PTNT
45
24
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
II/ THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY.
1/ THỰC TRẠNG:
1.1/ Về cơ sở vật chất của công ty:
Công ty cổ phần XNK rau quả I là công ty chuyên sản xuất chế biến rau quả
xuất khẩu. Về mặt vị trí địa lí thì vị trí văn phòng được bố trí ở nơi thuận tiện ngay
mặt đường, gần khu dân cư, tiện cho việc giao dịch, vận chuyển, tiếp xúc với khách