Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty bánh kẹo Hải Châu" - Pdf 84

LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi Việt Nam xoá bỏ cơ chế kinh tế bao cấp chuyển sang cơ chế kinh
tế thị trường, nền kinh tế đã phát triển mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó, sự cạnh
tranh trên thị trường ngày càng gay gắt. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát
triển là rất khó khăn. Doanh nghiệp chỉ có thể chiến thắng trong cuộc cạnh tranh
bằng cách không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh.
Công ty bánh kẹo Hải Châu là một doanh nghiệp nhà nước nhưng cũng
phải đối mặt với thực tế như trên. Trong thời gian qua, bằng nhiều kế hoạch và
biện pháp hiệu quả, công ty đã đạt được một số thành công đáng kích lệ. Mặc dù
vậy, công ty vẫn đang tiếp tục tìm hướng đi đúng đắn để phát triển lên tầm cao
mới.
Với nhận thức như vậy, sau thời gian thực tập tại công ty bánh kẹo Hải
Châu, tìm hiểu hoạt động kinh doanh của công ty em mạnh dạn chọn đề tài:
"Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty bánh kẹo Hải
Châu" để viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề là kết hợp những hiểu biết thực tế về
tình hình sản xuất, kinh doanh của công ty bánh kẹo Hải Châu và những kiến
thức đã đọc để đóng góp một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của
công ty bánh kẹo Hải Châu.
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là khả năng cạnh tranh của một công
ty sản xuất. Theo đó, khả năng cạnh tranh là năng lực duy trì được lợi nhuận và
thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước. Nó được tác động bởi các yếu
tố từ đầu vào đến đầu ra của quá trình sản xuất.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong ngành sản xuất, kinh doanh bánh
kẹo của Việt Nam và hoạt động sản xuất, kinh doanh cụ thể của công ty bánh
kẹo Hải Châu trong giai đoạn 5 năm gần đây (1998 - 2002). Phương pháp
1
nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biện chứng, thống kê khoa học, mô
hình hoá.
2
Chuyên đề được chia thành 3 chương:

các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức có khả năng cung cấp ít nhất một sản phẩm,
dịch vụ nào đó. Họ luôn phải sử dụng mọi nguồn lực, mọi lợi thế, mọi cách thức
để khai thác các nhu cầu vốn rất hạn chế trên thị trường. Nếu khia thác được, họ
sẽ thu được lợi nhuận để tồn tại và phát triển. Ngược lại, họ sẽ thua lỗ và phá
sản. Đây là cơ chế thị trường, là luật chơi chung cho toàn bộ những đối tượng
tham gia thị trường. Sự cọ xát về lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường đã
4
tạo ra cạnh tranh.
2. Tác động của quy luật cạnh tranh đến hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu
thị trường và xã hội để đạt lợi nhuận và đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất.
Một doanh nghiệp tiến hành kinh doanh có hiệu quả là doanh nghiệp thoả mãn
được tối đa nhu cầu thị trường và xã hội về hàng hoá và dịch vụ trong giới hạn
cho phép của nguồn lực hiện có và thu được lợi nhuận nhiều nhất, đem lại hiệu
quả kinh tế - xã hội cao nhất.
Trong hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp buộc phải chấp nhận cạnh
tranh, ganh đua với nhau, phải luôn không ngừng cải tiến để giành được những
ưu thế tương đối so với đối thủ. Nếu như lợi nhuận là động lực thúc đẩy các
doanh nghiệp tiến hành các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì cạnh tranh
buộc các doanh nghiệp phải cố gắng sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất
nhằm thu lợi nhuận tối đa đồng thời gia tăng thế lực và độ an toàn trong kinh
doanh.
Trong cuộc cạnh tranh có những doanh nghiệp thì vươn lên đứng vị trí
dẫn đầu thị trường, có lợi nhuận cao. Nhưng cũng có những doanh nghiệp tồn tại
một cách khó khăn, bị phá sản hoặc bị thôn tính. Vấn đề đặt ra là tại sao lại có
sự phân hoá như vậy trong khi mọi doanh nghiệp tham gia kinh doanh đều tìm
mọi cách để phát triển. Nguyên nhân là sự khác biệt về khả năng cạnh tranh của
từng doanh nghiệp trên thị trường.
II. PHƯƠNG PHÁP ĐỂ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA MỘT DOANH
NGHIỆP

2. Các sản phẩm hay dịch vụ thay thế;
3. Vị thế giao kèo của các nhà cung ứng;
4. Vị thế giao kèo của người mua;
5. Sự tranh đua của các công ty hiện đang cạnh tranh.
6
SƠ ĐỒ 1: MÔ HÌNH 5 LỰC LƯỢNG
Mỗi một trong năm lực lượng này lại chịu ản hưởng của nhiều yếu tố
khác, mà bản thân các yếu tố đó cũng cần phải được nghiên cứu để tạo ra bức
tranh đầy đủ về sự cạnh tranh trong một ngành. Sự tác động qua lại giữa năm lực
lượng quyết định một ngành hấp dẫn như thế nào đối với các doanh nghiệp đang
ở trong đó.
Mô hình năm lực lượng hoàn chỉnh hơn rất nhiều so với một tập hợp các
mô hình giáo khoa, nhưng nó cũng kém rõ ràng hơn rất nhiều. Nó được sử dụng
cho hàng chục loại thị trường khác nhau nhưng nó lại không cung cấp những dự
đoán rõ ràng về kết quả của các cấu trúc thị trường đó. Thực tế, giá trị của nó
không nằm ở chỗ cung cấp những dự đoán cho mỗi kiểu ngàn, mà ở chỗ cung
cấp cho các nhà quản lý một danh mục đầy đủ có thể sử dụng để xác định những
đặc điểm quan trọng nhất của sự cạnh tranh trong một ngành. Các đặc điểm này
tạo ra xuất phát điểm để các doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược cạnh
tranh hiệu quả.
7
Những người gia nhập tiềm
năng
Người
cung
ứng
Sức mạnh của
người cung ứng
Các đối thủ cạnh tranh
Sự cạnh tranh giữa các

với thực tế.
Tuy nhiên, các phân tích định lượng phản ánh tính cạnh tranh ngành/ công
ty theo quan điểm này vẫn được sử dụng rất rộng rãi. Trước hết, chi phí các
nhân tố sản xuất vẫn còn là một điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh, nhất là
đối với các nước đang pt và lại trong quá trình hội nhập thương mại quốc tế.
Hơn nữa, các chỉ số chi phí còn cho phép xác định được những ngành/công ty có
đóng góp tích cực cho nền kt xét về phúc lợi xã hội và do vậy, những can thiệp
chính sách của chính phủ là phù hợp hay không. Dưới góc độ công ty, các chỉ số
đó sẽ cho biết liệu công ty có khả năng cạnh tranh và tồn tại hay không trong
8
môi trường giá cả thị trường đã định và cả trong các bối cảnh có sự thay đổi
chính sách (như chính sách thương mại chẳng hạn).
3. Phương pháp phân tích theo quan điểm tổng hợp.
Theo quan điểm tổng hợp, tính cạnh tranh của một ngành/công ty là
"năng lực duy trì được lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài
nước" (Van Duren, Matin, và Westgren 1991). Định nghĩa này được xem là nhất
quán với mục tiêu kd, nhưng lại cũng phù hợp với các mục tiêu của chính sách
kt và thương mại của chính phủ.
Qua điểm tổng hợp kết hợp các quan điểm quản trị chiến lược, tân cổ điển
và kinh tế học về tổ chức công nghiệp, cố gắng đo lường tính cạnh tranh, đồng
thời chỉ ra những nhân tố khuyến khích hay ngáng trở tính cạnh tranh. Hình 4 là
tập hợp các chỉ số và nhân tố làm cơ sở cho việc đánh giá tính cạnh tranh theo
quan điểm tổng hợp.
BẢNG 1: KHUNG KHỔ ĐÁNH GIÁ TÍNH CẠNH TRANH
Các chỉ số do tính cạnh tranh
Lợi nhuận

Các chỉ số (lượng và chất) hàm chứa tính cạnh tranh:
Năng suất
- Lao động

- Vị thế
người cung
ứng
- Vị thế
người mua
Tính cạnh tranh chịu tác động của những nhân tố
Kiểm soát bởi công
ty
- Chiến lược
- Sản phẩm
- Công nghệ
- Đào tạo
- Nghiên cứu và
phát triển (nội bộ)
Kiểm soát bởi chính
phủ
- Môi trường kinh
doanh (thuế, lãi
suất, tỷ giá)
- Chính sách N. cứu
& phát triển
- Đào tạo & giáo
Kiểm soát được
phần nào
- Giá đầu vào
- Các điều kiện về
cầu
- Môi trường
thương mại quốc tế
Không thể kiểm

đánh giá khả năng cạnh tranh, chúng ta đã thống nhất sử dụng phương pháp
đánh giá tổng hợp ở phần sau. Nền tảng cơ bản của phương pháp đánh giá cạnh
tranh tổng hợp là tư tưởng "kinh doanh là một quá trình liên tục"
SƠ ĐỒ 2: QUÁ TRÌNH KINH DOANH CƠ BẢN CỦA MỘT DOANH NGHIỆP
10
Mua đầu vào
Sản xuất
Đầu vào
Đầu ra
Tiêu thụ
Toàn bộ những yếu tố, hoạt động của quá trình kinh doanh từ giai đoạn
nua đầu vào đến tiêu thụ đều tham gia tạ nên khả năng cạnh tranh. Vì vậy, rõ
ràng những yếu tố nào là thế mạnh cạnh trnah của công ty, đồng thời những yếu
tố nào là hạn chế.
Để phù hợp với phương pháp đánh giá tổng hợp, những biện pháp tăng
cường khả năng cạnh tranh mà chúng ta xây dựng dưới đây phải tác động đến
toàn bộ các yếu tố của quá trình kinh doanh. Những yếu tố là thế mạnh sẽ được
tiếp tục khai thác phát huy, còn những yếu tố hạn chế phải được khắc phục.
Tuy nhiên, xây dựng đồng đồng bộ các biện pháp là khối lượng công việc
rất lớn, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, có thể vượt quá khuôn khổ hạn chế
củamột chuyên đề tốt nghiệp. Do khả năng và thời gian có hạn, và cũng phù hợp
với kiến thức chuyên ngành của sinh viên khoa Thương mại, tác giả xin chỉ tập
trung vào các biện pháp tăng cường khả năng cạnh tranh trong tiêu thụ của
doanh nghiệp.
Theo đó, chúng ta có 3 nhóm biện pháp lớn:
Các biện pháp liên quan đến sản phẩm
Các biện pháp liên quan đến giá cả
Các biện pháp liên quan đến dịch vụ
Các biện pháp sau đây sẽ được xé riêng lẻ. Nhưng trong thực tế, các công
ty thường áp dụng tổng hợp các biện pháp này. Tuỳ vào từng thời kỳ nhưng vẫn

loại sản phẩm có chất lượng cao, đảm bảo sự thoả mãn cao nhất cho người tiêu
dùng. Nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng
cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, thể hiện ở các khía canh:
 Chất lượng sản phẩm tăng lên nhờ đó thu hút khách hàng, tăng khối
lượng hàng hoá bán ra, tăng được uy tín của sản phẩm, mở rộng được thị trường.
 Nâng cao chất lượng sản phẩm có nghĩa là nâng cao được hiệu quả
sản xuất.
Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khi thiết kế sản phẩm cho đến
khi sản xuất xong sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm. Có nhiều yếu tố động đến chất
12
lượng sản phẩm: thiết kế sản phẩm, lập kế hoạch sản xuất, chất lượng nguyên
vật liệu, khả năng máy móc thiết bị và tình trạng công nghệ chế tạo, đặc biệt là
chất lượng lao động. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm không phải là trách
nhiệm của một số bộ phận, cá nhân mà là trách nhiệm của toàn bộ bộ phận,
thành viên của công ty. Vì vậy để nâng cao chất lượng sản phẩm công ty có thể
áp dụng nhiều cách thức nhứ:
 Nâng cao hoạt động thiết kế sản phẩm
 Nâng cao khả năng máy móc thiết bị, trình độ công nghệ
 Nâng cao tay nghề và ý thức của người lao động
 Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng hiện đại như hệ thống quản lý
chất lượng toàn diện TQM hay bộ tiêu chuẩn ISO
Nói chung các biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh liên quan đến sản
phẩm luôn được coi là vũ khí ưu tiên nhất. Nó cho phép tạo ra lợi thế cạnh tranh
rõ rệt. Những công ty thànhcông trên thị trường Việt Nam gây đây như công ty
giầy dép Biti's, công ty sữa Vinamilk, công ty Nhật Linh với sản phẩm ổn áp
LIOA… đều sử dụng rất hiểu quả nhóm biện pháp này. Sản phẩm của họ luôn
được người tiêu dùng ưa chuộng vì mẫu mã đẹp chủng loại phong phú và chất
lượng cao.
5. Các biện pháp liên quan đến giá.
Trong kinh doanh, giá là một nhân tố có thể kiểm soát mà doanh nghiệp

 Áp dụng máy móc và công nghệ mới để nâng cao năng suất lao động.
 Giảm chi phí nhân công trong chi phí sản xuất sản phẩm.
 Giảm chi phí cố định, chi phí điện nước.
Ở thị trường Việt Nam đã có một số công ty thành công khi sử dụng biện
pháp này. Điển hình thành công có thể kể để công ty bột giặt với sản phẩm bột
giặt Vì Dân rất được ưa chuộng trên thị trường nông thôn vì giá rất phù hợp với
túi tiền của đối tượng tiêu dùng là nông dân.
5.2. Áp dụng chính sách giá hiệu quả
Bên cạnh việc sử dụng mức giá thấp, các doanh nghiệp có thể sử dụng
14
một số chính sách giá hiệu quả để nâng cao khả năng cạnh tranh. Các cính sách
giá đúng cho phép doanh nghiệp có thể định giá và quản lý giá có hiệu quả trong
kinh doanh. Chính sách định giá thể hiện sự lựa chọn đúng đắn các tình huống
cần giải quyết khi đặt mức giá giúp cho việc chấp nhận giá và ra quyết định mua
sắm của khách hàng được dễ dàng hơn. Nếu thực hiện được điều này, công ty đã
có thể nâng cao khả năng cạnh tranh.
6. Các biện pháp liên quan đến dịch vụ
Không bị hạn chế trong một số hình thức cụ thể như các biện pháp cạnh
tranh trên, các biện pháp liên quan đến dịch vụ được thực hiện rất đa dạng. Đây
là công cụ cạnh tranh rất lợi hại. Vì thế các dn rất ưa dùng biện pháp này. Thực
hiện dịch vụ, doanh nghiệp không chỉ nhằm mục tiêu bán hàng tức thời mà
nhằm mục tiêu lớn hơn là xây dựng một hình ảnh tốt về doanh nghiệp trong tâm
trí khách hàng. doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động dịch vụ sau:
6.1. Dịch vụ trước bán hàng:
Để thuyết phục khách hàng mua hàng, dn cần phải tiến hành các hoạt
động dịch vụ ngay cả trước kih có sự tiếp xúc giữa người bán hàng và người
mua . Những hoạt động này bao gồm các dịch vụ về thông tin, giới thiệu, quảng
cáo, chào hàng, về các loại hàng hoá và các dịch vụ kèm theo., các dịch vụ về
chuẩn bị hàng hoá, đóng gói sẵn theo yêu cầu của khách hàng, triển lãm hàng
hoá tại các hội chợ, giới thiệu sản phẩm và bày mẫu hàng… Những dịch vụ này

16
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH CỦA CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI CHÂU
I.GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI CHÂU
1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty bánh kẹo Hải Châu là một doanh nghiệp Nhà nước, thành viên
của Tổng Công ty mía đường I - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tiền
thân là nhà máy Hải châu. Công ty là một trong những Công ty hàng đầu của
Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất bánh, kẹo, thực phẩm với trên 35 năm không
ngừng phát triển, liên tục đổi mới công nghệ và đầu tư thiết bị hiện đại với qui
mô phát triển ngày càng cao.
Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Hải Châu chia thành 3 giai đoạn:
Thời kỳ đầu thành lập (1965-1975):
Được sự giúp đỡ chuyên gia Trung Quốc, sau một thời gian xây dựng đến
ngày 02/9/1965, Bộ công nghiệp nhẹ cắt băng khánh thành Nhà máy Hải Châu.
Nhà máy chính thức đi vào hoạt động.
Vốn đầu tư ban đầu: Do chiến tranh nên không lưu trữ được.
Trong thời kỳ này, công ty sản xuất phuc vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân
dân và nhu cầu quốc phòng. Sản phẩm chính gồm có bánh quy (hương thảo, quy
dứa, quy bơ, mít), bánh lương khô, kẹo cứng, kẹo mềm.
Năm 1969 một bộ phận của công ty được tách ra để tham gia thành lập
nhà máy Hải Hà. Đầu năm 1970, công ty chuyển từ sự quản lý của Bộ công
nghiệp nhẹ sang Bộ lương thực và thực phẩm.
Số cán bộ công nhân viên: bình quân 850 người/năm
Thời kỳ 1976-1985:
Sang thời kỳ này công ty đã khắc phục những thiệt hại sau chiến tranh và đi
vào hoạt động bình thường. Sau đây là một số sự kiện chính trong giai đoạn này:
17
* Năm 1976 Bộ Công nghiệp thực phẩm cho nhập nhà máy sữa Mẫu Sơn

• Cuối năm 2001 Công ty đầu tư một dây chuyền sản xuất Socola công
suất 200kg/giờ.
Hiện nay, số cán bộ công nhân viên bình quân: 900 người.
2. Chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của công ty:
2.1. Chức năng và nhiệm vụ của công ty:
Theo quyết định thành lập công ty số 1335 NNTCCB ngày 29/10/1994
Công ty bánh kẹo Hải Châu có chức năng và nhiệm vụ chính là sản xuất và kinh
doanh các loại sản phẩm bánh kẹo, đóng góp một phần vào công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đời
sống nhân dân.
Công ty được phép kinh doanh trong các lĩnh vực sau:
• Sản xuất kinh doanh các loại sản phẩm bánh kẹo
• Sản xuất kinh doanh các loại bột gia vị
• Xuất nhập khẩu trực tiếp với nước ngoài những mặt hàng mà công ty
kinh doanh
• Kinh doanh vật tư bao bì ngành công nghiệp thực phẩm.
19
2.2. Sơ đồ tổ chức của công ty
SƠ ĐỒ 3. TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI CHÂU
Chú thích: nét liền thể hiện quan hệ trực tuyến, nét đứt thể hiện quan hệ
chức năng.
Quan sát sơ đồ, chúng ta thấy bộ máy công ty được tổ chức theo mô hình
trực tuyến chức năng. Theo đó:
Ban giám đốc: gồm giám đốc công ty, phó giám đốc kinh doanh và phó
giám đốc kỹ thuật.
• Giám đốc công ty: là người đại diện cho toàn bộ cán bộ công nhân viên
của công ty, quản lý công ty theo chế độ một thủ trưởng. Giám đốc phụ trách
chung, có quyền quyết định việc điều hành của công ty, theo đúng kế hoạch,
chính sách, pháp luật. Giám đốc là người chịu trách nhiệm toàn bộ trước nhà
nước và lãnh đạo cấp trên.

PX kẹo PX Bột
canh
PX
bánh 1
PX
bánh 2
PX
bánh 3
Các PX
khác
• Phó giám đốc kỹ thuật: Có nhiệm vụ điều hành sản xuất, chuyên theo
dõi thiết bị, công nghệ, áp dụng những thành tựu khoa học mới của nước ngoài
vào quy trình sản xuất của công ty khuyến khích cán bộ công nhân viên phát huy
sáng kiến cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất.
• Phó giám đốc kinh doanh: có nhiệm vụ quản lý, tổ chức và chỉ đạo
công tác kinh doanh của công ty, là người giúp đỡ giám đốc về: giao dịch, ký kết
các hợp đồng với khách hàng.
Các đơn vị chức năng gồm:
Phòng tổ chức:
• Chức năng: tham mưu cho giám đốc về mặt công tác: tổ chức sản xuất
và cán bộ công tác nhân sự, đào tạo nâng bậc, công tác lao động tiền lương.
• Nhiệm vụ: Thực hiện công tác tổ chức sản xuất và cán bộ, công tác nhân
sự và chế độ, công tác quản lý và sử dụng lao động.
Ban bảo vệ tự vệ thi đua:
• Chức năng: tham mưu cho giám đốc về các mặt: tổ chức các phong trào
thi đua, khen thưởng, kỷ luật, công tác bảo vệ, tự vệ…
• Nhiệm vụ: tổ chức các đợt thi đua sản xuất, thi đua, lao động và các
phong trào thi đua khác…
Phòng kỹ thuật:
• Chức năng: tham mưu cho giám đốc trong công tác quản lý kỹ thuật,

1. Đặc điểm lĩnh vực kinh doanh
Những lĩnh vực kinh doanh của Công ty bánh kẹo Hải Châu được cho
phép trong giấy phép kinh doanh bao gồm sản xuất bánh kẹo, đồ uống, kinh
doanh vật tư, nguyên liệu ngành bánh kẹo. Trong quá trình hoạt động từ khi có
quyết định thành lập mới (năm 1994), công ty đã thử nghiệm kinh doanh, sản
xuất nhiều mặt hàng. Tuy nhiên, do không thành công nên công ty đã thu hẹp
một số lĩnh vực. Cho đến nay, Công ty bánh kẹo Hải Châu hoạt động tập trung
22
trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo và bột canh. Đây là những mặt hàng đem lại
mức doanh thu và lợi nhuận cao nhất cho công ty.
Mảng sản xuất chủ đạo của công ty là sản xuất bánh. Công ty bánh kẹo
Hải Châu rất nổi tiếng với sản phẩm bánh Hương thảo, bánh kem xốp có mùi vị
thơm, ngon riêng biệt. Hàng năm, công ty tiêu thụ được hàng ngàn tấn bánh.
Công ty cũng rất thành công với sản phẩm bột canh. Bột canh Hải Châu luôn là
sự lựa chọn ưu tiên trong các sản phẩm cùng loại.
2. Đặc điểm về sản phẩm
Công ty bánh kẹo Hải Châu sản xuất đa dạng các mặt hàng bánh kẹo, bột
canh. Hiện nay, công ty có bán khoảng 100 mặt hàng thuộc khoảng 30 chủng
loại. Các mặt hàng truyền thống của công ty là các loại bánh kem xốp, bánh quy,
bột canh… Bánh của Công ty có chất lượng tốt, ngon có mùi vị đặc trưng nên
được người tiêu dùng ưa chuộng. Bột canh có chất lượng tốt, đã xây dựng được
niềm tin với người tiêu dùng. Hàng của công ty luôn được lựa chọn là "hàng
Việt Nam chất lượng cao" trong những năm gần đây. Với phương châm "Hải
Châu chỉ có chất lượng vàng", công ty đã nỗ lực không ngừng để nâng cao chất
lượng sản phẩm.
BẢNG 2: MỘT SỐ CHỦNG LOẠI SẢN PHẨM CHÍNH CỦA CÔNG TY BÁNH
KẸO HẢI CHÂU
Bột canh Kẹo Bánh
Thường Iốt Kẹo cứng Kẹo mềm Bánh quy Lương khô
Đóng gói Đóng gói 1. Kẹo cứng sữa 1. Kẹo mềm

5. Kẹo cứng
nhân sữa
4. Kẹo mềm
sữa dừa
5. Quy bơ 5. Kem xốp
tổng hợp
6. Kẹo cứng gói
hoa quả
5. Kẹo sữa
mềm
6. Quy
Chocobis
6. Kem xốp
thỏi
7. Kẹo dâu
mềm dứa
mềm
8. Bánh
8. Kẹo gôm
(kẹo dẻo)
9. Bánh Hải
tường
23
10. Bánh
Fomát
11. Bánh
violet
12. Bánh Hải
hậu
(Nguồn: Phòng Kế hoạch - Vật tư cung cấp)

bằng các sản phẩm cao cấp như socola, bánh mềm…
Công ty bánh kẹo Hải Châu sử dụng đồng bộ các loại kênh phân phối. Tuy
nhiên, kênh III, IV là hai kênh phân phối chủ đạo của công ty.
25

Trích đoạn KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY Đặc điểm cạnhtranh của ngành kinh doanh bánh kẹo của Việt Nam Phân tích khả năng cạnhtranh của công ty bánh kẹo Hải Châu ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNHTRANH CỦA CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI CHÂU ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY ĐẾN NĂM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status