Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Một số giải pháp nhằm xúc tiến hoạt động xuất khẩu hàng hoá qua biên giới tỉnh Điện Biên của sở Thương mại - Du lịch Điện Biên" - Pdf 84


ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM XÚC TIẾN
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
QUA BIÊN GIỚI TỈNH ĐIỆN BIÊN CỦA SỞ
THƯƠNG MẠI - DU LỊCH ĐIỆN BIÊN
Giáo viên thực hiện : Ths. Dương Thị Ngân
Sinh viên thực hiện :

MỤC LỤC
Lời mở đầu............................................................................................. 4
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài…………………………………...6
I. Một số vấn đề lý luận về xúc tiến hoạt động xuất khẩu………………6
1. Khái niệm xúc tiến xuất khẩu
2. Các hoạt động xúc tiến xuất khẩu
II. Tầm quan trọng của đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới
đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Điện Biên:……………….....8
1. Thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh
2. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
3. Thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển
4. Nâng cao đời sống vật chất của nhân dân các dân tộc
5. Tăng cường hợp tác với các nước
Chương II: Thực trạng xúc tiến xuất khẩu qua biên giới tại tỉnh Điện
Biên …………………………………………………………………… 12

2. Quan điểm thứ 2
3. Quan điểm thứ 3
4. Quan điểm thứ 4
5. Quan điểm thứ 5
II.Giải pháp…………………………………………………………………….36
1. Về phía nhà nước:……………………………………………….. 36
1.1. Chính sách xuất khẩu……………………………………… 36
1.2. Chính sách xuất nhập cảnh………………………………….. 38
1.3. Chính sách tài chính……………………………………….. 39
1.4. Chính sách hợp tác và đầu tư………………………………. 42
1.5. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xuất nhập khẩu…….44
2. Giải pháp nguồn hàng:……………………………………………46

2

2.1. Phát triển các mặt hàng chủ lực
2.2. Tổ chức hỗ trợ sản xuất
3.Giải pháp thị trường:……………………………………………....47
3.1. Thị trường Trung quốc và Lào……………………………….47
3.2. Thị trường EU………………………………………………..48
3.3. Thị trường Nhật Bản………………………………………….51
3.4. Sử dụng mạng internet trong xúc tiến xuất khẩu……………..53
4. Giải pháp cho doanh nghiệp:……………………………………..
54
4.1. Tổ chức lại sản xuất
4.2. Đầu tư đổi mới công nghệ
4.3. Đào tạo cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu
Kết luận……………………………………………………………. 57
Danh mục tài liệu tham khảo…………………………………….. 58


của tỉnh xa các thị trường và vùng sản xuất lớn ở trong nước giao thông đi
lại khó khăn, cửa khẩu của tỉnh sức thu hút và cạnh tranh kém hơn so với
các cửa khẩu khác trong khu vực các tỉnh biên giới phía Bắc mặt khác lại ra
đời sau khi các cửa khẩu trong khu vực đã đi vào hoạt động trong thời gian
dài, lượng hàng hoá xuất nhập khẩu đã tương đối ổn định. Tổ chức sản xuất
hàng xuất khẩu của các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân của tỉnh chưa
được quan tâm và chưa có chuyển biến tích cực đặc biệt quy hoạch vùng
sản xuất hàng nông sản xuất khẩu đến nay hầu hết các mặt hàng chủ lực
theo Nghị quyết của tỉnh chưa tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Các sở, ban,
ngành huyện, thị và các doanh nghiệp đã được phân công trách nhiệm trong
việc xây dựng các quy hoạch, dự án được chỉ định trong chương trình tổ
chức triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch, dự án theo Nghị quyết
37/2003/NQ-HĐ ngày 20/1/2003 của HĐND tỉnh đến nay triển khai còn
chậm chưa có giải pháp, biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy sản xuất hàng

4

xuất khẩu của địa phương. Công tác quản lý nhà nước về hoạt động XNK
còn nhiều bất cập chưa ban hành được các chính sách của địa phương về
hoạt động XNK như hỗ trợ về vốn, ưu đãi về đất, thuế, thưởng sản xuất và
xuất khẩu, chính sách hỗ trợ sản xuất hàng xuất khẩu ... Các ngành, huyện,
thị quản lý chưa có giải pháp, biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy sản xuất
hàng xuất khẩu của địa phương. Quy hoạch khu kinh tế cửa khẩu Tây trang
đã được phê duyệt song tiến độ triển khai tổ chức thực hiện xây dựng đầu
tư vào các hạng mục công trình còn chậm. Các DN và thương nhân tham
gia hoạt động kinh doanh XNK của tỉnh mới chủ yếu buôn bán nhỏ nhất
thời, chưa năng động và tạo ra được bạn hàng và thị trường hợp tác lâu
dài và quan tâm đến hoạt động XNK. Tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu của
các tổ chức, doanh nghiệp chưa được quan tâm. Công tác thông tin xúc tiến
thương mại, tìm kiếm thị trường bạn hàng xuất khẩu hàng hoá của các

bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ thương mại.
Từ định nghĩa trên đây có thể suy rộng ra xúc tiến xuất khẩu là hoạt
động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ ra
nước ngoài.
2. Các hoạt động xúc tiến xuất khẩu:
* Nhóm vi mô:
- Thu thập thông tin về thị trường xuất khẩu hàng hoá, đây là hoạt động đầu
tiên rất quan trọng vì chỉ khi biết được nhu cầu thị trường, giá cả hàng hoá
ở thị trường, các thông tin về doanh nghiệp trên thị trường xuất khẩu ta mới
có thể đưa ra chiến lược mặt hàng có khả năng cạnh tranh trên thị trường
xuất khẩu. Có thể thu thập thông tin theo 2 cách, thông qua nghiên cứu tài
liệu sách báo, internet, cách này có ưu điểm thu thập được thông tin nhanh
chóng tại chỗ, không tiêu tốn nhiều tiền song nó có nhược điểm là thông tin
thu được không cập nhật, thường là những thông tin cũ. Cách thứ hai là
thông qua nghiên cứu trực tiếp thị trường, có thể sử dụng bảng câu hỏi để
thu thập thông tin cần thiết bằng cách này có thể thu thập thông tin mới

6

nhất theo ý muốn chủ quan song nó có nhược điểm là phải đến tận hiện
trường để thu thập, chi phí cho cách thức này lớn hơn rất nhiều so với cách
thứ nhất và tiêu tốn thời gian để xây dựng bảng hỏi hiệu quả.
- Tham gia các hội chợ quốc tế để có thể tiếp thị sản phẩm hàng hoá của
mình đến khách hàng nước ngoài và có cơ hội ký kết các hợp đồng xuất
khẩu sang những thị trường mới. Hoạt động này có ưu điểm là cơ hội giới
thiệu sản phẩm đến các đối tác và người tiêu dùng cao, có điều kiện để giới
thiệu trực tiếp về các đặc tính của sản phẩm, nhược điểm của hoạt động này
là kinh phí để tham dự một hội chợ lớn, thủ tục xuất hàng tham gia hội chợ
triểm lãm quốc tế cần có thời gian, các doanh nghiệp phải chuẩn bị kỹ càng
nhân lực để tham gia, hơn nữa để đăng ký được một gian hàng trong hội

động xuất nhập khẩu.
- Chính sách thuế - tài chính, nếu quy định mức thuế xuất nhập khẩu cao
hàng xuất nhập khẩu sẽ giảm, sử dụng công cụ này có thể điều chỉnh được
mức xuất nhập khẩu một cách nhanh chóng song để thay đổi một chính
sách thuế cần phải có thời gian xem xét một cách kỹ lưỡng của các nhà
quản lý cấp cao. Chính sách hỗ trợ về tín dụng xuất khẩu cũng tạo ra một
thuận lợi lớn đơi với các doanh nghiệp xuất khẩu, khi được hỗ trợ vốn các
công ty có thể tạo nguồn hàng xuất khẩu ổn định hơn, đồng thời có vốn để
tổ chức chế biến hàng xuất khẩu góp phần nâng cao tỷ lệ hàng chế biến
trong cơ cấu hàng xuất khẩu từ đó đem lại nhiều ngoại tệ hơn.
- Chính sách hợp tác và đầu tư, với chính sách khuyến khích sản xuất hàng
xuất khẩu, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước có thể thu hút được
nguồn vốn nhàn rỗi từ trong nước cũng như từ nước ngoài thông qua các
doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Sử
dụng công cụ chính sách này có thể chủ động đưa ra các ưu đãi đối với các
nhà đầu tư song với những chính sách mới việc thực hiện là rất phức tạp.
- Chính sách tiền tệ, việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái có tác dụng nhanh
chóng đối với hoạt động xuất nhập khẩu, khi tỷ giá hối đoái ở mức cao sẽ

8

kích thích xuất khẩu, khi tỷ giá hối đoái thấp sẽ hạn chế xuất khẩu. Sử dụng
công cụ này có thể nhanh chóng tăng kim ngạch xuất khẩu tuy nhiên với
một nước đang phát triển thì công cụ này cần được cân nhắc kỹ khi sử dụng
vì nước đang phát triển nhập rất nhiều trang thiết bị từ thị trường nước
ngoài vào trong nước.
II. Tầm quan trọng của đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên
giới đối với sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Điện Biên:
1. Thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh:
Dưới tác động của giao lưu hàng hoá qua biên giới cơ cấu kinh tế tỉnh

như nguyên liệu cho chế biến gỗ xuất khẩu ta có thể nhập từ các tỉnh bắc
Lào. Cùng với sự phát triển của xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới hệ
thống các chợ biên giới dọc theo đường biên sẽ thu hút nhiều lao động
tham gia buôn bán từ đó nâng cao tỷ trọng ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh
tế của tỉnh.
3. Thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển:
3.1. Thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất nông – lâm nghiệp:
Điện Biên có đường biên giới với Trung Quốc mà đây là một nước lớn
với những thành tựu đáng nể trong lĩnh vực nông nghiệp như việc tạo ra
giống lúa lai có năng xuất cao, có nhiều kinh nghiệm trong khôi phục rừng.
Những thành tựu đó của nền nông nghiệp Trung Quốc là một cơ hội tốt để
Điện Biên phát triển ngành nông nghiệp, hiện nay có nhiều giống nông
nghiệp của họ đã được áp dụng tại Điện Biên như giống lúa lai, các loại
giống rau,…Nhiều loại vật tư phục vụ cho nông nghiệp như máy bơm, thức
ăn gia súc, gia cầm, thuốc thú y và nhiều loại vật tư khác. Vì vậy tỉnh cần
phải có chiến lược hợp tác lâu dài với Trung Quốc trong lĩnh vực này.
3.2. Thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp và xây dựng:
Trung Quốc có thế mạnh về các loại máy móc vì thế đây là điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp của tỉnh đặc biệt là trong lĩnh vực

10

khai khoáng, công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu và chế biến thức ăn
gia súc. Tuy chất lượng máy móc thiết bị của Trung Quốc hiện nay còn có
nhiều dư luận không tốt xong nếu nhận xét một cách khách quan và tính
toán đến hiệu quả kinh tế khi sử dụng thì tính khả thi khi nhập máy móc
thiết bị từ nước này vào Điện Biên là rất lớn vì điều kiện kinh tế xã hội của
tỉnh còn nhiều khó khăn.
3.3. Thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng vùng biên giới:
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới phát triển sẽ kéo theo

lưu học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau của các bên. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU QUA BIÊN
GIỚI TỈNH ĐIỆN BIÊN

I. Khái quát về sở thương mại - du lịch Điện Biên:
1. Quá trình hình thành và phát triển
Sở thương mại- du lịch Điện Biên trước đây là sở thương mại- du lịch
Lai Châu được chính thức thành lập từ năm 1963 khi tỉnh Lai Châu được
tách ra từ khu tự trị Tây bắc và tái thành lập tỉnh Lai Châu. Trải qua 41
năm hình thành và phát triển đến đầu năm 2004 do yêu cầu quản lý tỉnh Lai
Châu được tách ra thành hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên, từ đây sở thương
mại và du lịch Điện Biên cũng chính thức được thành lập với 66 cán bộ
công chức viên chức, cơ cấu bộ máy tổ chức của sở thương mại - du lịch
Điện Biên bao gồm một giám đốc, một phó giám đốc, một chi cục, một

12

trung tâm xúc tiến, 5 phòng chức năng và các doanh nghiệp trực thuộc, cơ
cấu bộ máy của sở được thể hiện rõ hơn qua sơ đồ 1.

nghiệp thuộc
sở
Đội quản lý thị trường số 1
Đội quản lý thị trường số 2
Đội quản lý thị trường số 3
Đội quản lý thị trường số 4
Đội quản lý thị trường lưu
Phòng tài chính hành chính
Phòng kế hoạch tổng hợp
Phòng chính sách thương mại
Phòng du lịch
Thanh tra sở
Ban giám đốc Sở
Công ty
thương
nghiệp
Tủa Chùa
Công ty
thương
nghiệpM
ường Lay

mại trên địa bàn tỉnh bao gồm các lĩnh vực lưu thông hàng hóa trong nước
và xuất khẩu, nhập khẩu; xúc tiến thương mại; cạnh tranh, chống độc
quyền, chống bán phá giá; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; quản lý thị
trường; hội nhập kinh tế - thương mại quốc tế; quản lý nhà nước về các
hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện các quy định của Tổng cục du lịch và các bộ, ngành có liên
quan về quản lý nhà nước các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh.
- Trình UBND tỉnh ban hành các quyết định, chỉ thị về các lĩnh vực quản
lý nhà nước của Sở theo quy định của pháp luật.

14

- Trình UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch phát triển, kế hoạc năm năm và
hàng năm, các chương trình, dự án về các lĩnh vực quan trọng thuộc phạm
vi quản lý nhà nước của Sở phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
của địa phương.
- Tổ chức chỉ đạo, kiểm tra đánh giá và tổng hợp tình hình thực hiện các
văn bản quy định của pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án
về thương mại đã được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước về thương
mại của Sở.
- Thực hiện việc đăng ký thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh ở nước
ngoài cho thương nhân họat động có trụ sở chính trên địa bàn tỉnh, thực
hiện đăng ký hoạt động theo đăng ký của văn phòng đại diện, chi nhánh
của thương nhân nước ngoài trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.
- Quản lý lưu thông hàng hóa trong nước:
+ Tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện các cơ chế, chính sách lưu
thông hàng hóa và dịch vụ thương mại bao gồm: chính sách mặt hàng,
chính sách thương nhân, chính sách thương mại đối với miền núi, dân
tộc...; kiểm tra theo dõi diễn biến thị trường, cung cấp thông tin và đề xuất

nước ngoài trên địa bàn tỉnh theo sự ủy quyền của bộ thương mại.
+ Theo dõi, tổng hợp, báo cáo tình hình thực hiện và kiến nghị sửa đổi cơ
chế chính sách xuất nhập khẩu cho phù hợp.
- Xúc tiến thương mại:
+ Xây dựng và trình UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch, kế hoạch, chương
trình, dự án, đề án, cơ chế chính sách về xúc tiến thương mại, xây dựng và
phát triển thương hiệu hàng Việt Nam trên địa bàn tỉnh, chỉ đạo, hướng dẫn
tổ chức thực hiện khi được ban hành.
+ Xem xét, giải quyết việc thương nhân tổ chức hoạt động khuyến mại
dưới các hình thức theo quy định; thực hiện việc đăng ký tổ chức hội chợ,

16

triển lãm thương mại cho các thương nhân sản xuất, kinh doanh trực tiếp tổ
chức hội chợ trên địa bàn tỉnh; duyệt kế hoạch tổ chức hội chợ, triển lãm
trên địa bàn tỉnh cho thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm
thương mại.
+ Thu thập, tổng hợp, xử lý và cung cấp các thông tin thương mại phục vụ
cho các cơ quan quản lý và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Giám sát, kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật trong việc thực hiện
các quy định về quảng cáo thương mại, hội chợ, triển lãm thương mại,
khuyến mại, giới thiệu hàng hóa trên địa bàn tỉnh.
- Về cạnh tranh, chống độc quyền, chống bán phá giá và bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng:
+ Trình UBND tỉnh phê duyệt các chương trình, kế hoạch thực hiện các
quy định của pháp luật nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh,
bảo vệ người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh; hướng dẫn, tổ chức và kiểm tra
thực hiện khi được phê duyệt.
+ Phát hiện và kiến nghị với các cơ quan liên quan sửa đổi và bổ sung theo
thẩm quyền về những văn bản đã được ban hành có nội dung không phù

hội nhập kinh tế - thương mại quốc tế.
+ Phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện chương trình, kế hoạch và
các quy định về hội nhập kinh tế - thương mại quốc tế.
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các dịch vụ công thuộc các lĩnh vực
quản lý của Sở; chịu trách nhiệm về các dịch vụ công do Sở tổ chức thực
hiện.
- Giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế tập thể và tư nhân, các hội và các tổ chức phi chính phủ hoạt
động trong các lĩnh vực quản lý của Sở theo quy định của pháp luật.

18

- Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ, bảo vệ
môi trường; thực hiện hợp tác quốc tế; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ
tư liệu về các lĩnh vực hoạt động của Sở theo quy định của pháp luật.
- Giúp UBND tỉnh chỉ đạo hướng dẫn UBND huyện, thị xã, thành phố trực
thuộc tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về ngành thương mại và
du lịch.
- Thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo,
chống tham nhũng, tiêu cực và xử lý các vi phạm pháp luật về các lĩnh vực
thuộc phạm vi quản lý cảu Sở theo quy định của pháp luật.
- Báo cáo định kỳ 6 tháng, 01 năm hoặc đột xuất tình hình thực hiện lĩnh
vực được phân công cho UBND tỉnh, Bộ Thương mại và các cơ quan có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, thực hiện chế độ tiền lương và các
chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, viên chức theo
quy định của pháp luật và phân cấp của UBND tỉnh; tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và phát triển nguôn nhân lực của ngành
thương mại địa phương.
- Quản lý tai chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách được

-Xuất khẩu do
địa phương
thực hiện
2.041,389

10,59% 824

1,67% 423

53,75%
- Tỉnh khác
xuất khẩu
17.229,169

89,41% 48392.2

98,33% 364

46,25%
Nguồn: Sở Thương mại – Du lịch Điện Biên

Bảng 2.2. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Điện Biên giai đoạn
2002 – 2004
Đơn vị: ngàn USD
Năm
Chỉ tiêu
2002 Tỷ
trọng
2003 Tỷ
trọng

- Năm 2002 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trên địa bàn tỉnh đạt
19.270,5858 ngàn USD trong đó xuất khẩu của địa phương đạt 2.041,389
ngàn USD chiếm 10,59% tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh.
Doanh nghiệp nhà nước xuất khẩu đạt 376,232 ngàn USD chiếm
18,43% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu của tỉnh.

20

Các thành phần kinh tế khác xuất khẩu đạt 1.665,157 ngàn USD chiếm
81,57%.
Xem xét cơ cấu xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Điện Biên năm 2002 ta có
thể thấy kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn còn rất nhỏ. Tỷ trọng hàng hoá
xuất khẩu của địa phương chiếm 10,59% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
cho thấy hàng hoá do tỉnh tự sản xuất và xuất khẩu còn ít, chủ yếu hàng hoá
xuất khẩu trên địa bàn tỉnh được sản xuất từ tỉnh khác trong nước được
xuất qua cửa khẩu của tỉnh sang các nước Lào và Trung Quốc.
Xuất khẩu của thành phần kinh tế nhà nước chiếm 18,43%, xuất khẩu
của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chiếm 81,57% cho thấy 2
điều. Thứ nhất chứng tỏ cơ chế thị trường thông thoáng tạo môi trường
thuận lợi cho sự phát triển của thành phần kinh tế cá thể, hợp tác xã. Thứ
hai cho thấy sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước trong xuất khẩu hàng
hoá, sở dĩ có thể nói như vậy vì ở Điện Biên việc xuất khẩu hàng hoá do
các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo, các doanh nghiệp nhà
nước thường được giao chỉ tiêu xuất khẩu với quy mô lớn và thường xuyên,
còn các thành phần kinh tế khác chỉ thực hiện những thương vụ nhỏ lẻ
mang tính chất thời vụ do thiếu vốn và không có điều kiện tìm hiểu thông
tin thị trường như các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên số doanh nghiệp
nhà nước trên địa bàn tỉnh không lớn do đó kim ngạch xuất khẩu của các
doanh nghiệp nhà nước trong cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của tỉnh thường
không lớn.

hàng hoá xuất khẩu qua 2 cửa khẩu Tây Trang và Ma Lù Thàng tăng 300%
so với thực hiện năm 2001.
- Năm 2003 tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đạt 49.261,2 ngàn
USD so với năm 2002 tăng 2,55 lần. Trong đó xuất khẩu của địa phương
đạt 824 ngàn USD đạt 2,96% so với kế hoạch tỉnh giao ( 2.500 ngàn USD)
và chỉ chiếm 1,67% tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh so với thực
hiện năm 2002 chỉ đạt 40%. Xuất khẩu của thành phần kinh tế nhà nước đạt
135 ngàn USD chỉ đạt 19,28% kế hoạch, bằng 36,67% so với thực hiện

22

năm 2002 và bằng 16,38% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Xuất khẩu của
các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đạt 689 ngàn USD bằng 83,62%
kim ngạch xuất khẩu của tỉnh bằng 4,14% so với thực hiện năm 2002.
Như vậy năm 2003 tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh có mức
tăng đột phá 2,5 lần song kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của tỉnh đều
không đạt được kế hoạch và so với thực hiện năm 2002 đều kém hơn rất
nhiều. Hàng hoá xuất khẩu trên địa bàn tỉnh tăng là do chính sách thông
thoáng của khu kinh tế cửa khẩu phát huy làm cho hoạt động buôn bán
hàng hoá qua cửa khẩu diễn ra ngày càng sôi động còn kim ngạch xuất
khẩu của tỉnh đạt ở mức thấp do những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Các doanh nghiệp và thương nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu của
tỉnh mới chủ yếu buôn bán nhỏ nhất thời, chưa năng động và tạo ra được
bạn hàng và thị trường lâu dài.
- Tổ chức sản xuất hàng hoá xuất khẩu của các tổ chức, doanh nghiệp và
nhân dân chưa được quan tâm, hầu hết các mặt hàng chủ lực theo nghị
quyết của tỉnh chưa được xuất khẩu.
- Chỉ tiêu kế hoạch xuất nhập khẩu chưa được giao đến tận doanh nghiệp.
- Công tác thông tin xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường, bạn hàng
xuất khẩu hàng hoá tham gia hội chợ, triển lãm quảng bá còn hạn chế.

Trang của Điện Biên. Mặt khác các mặt hàng chủ lực xuất khẩu của Điện
Biên chưa được tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Điện Biên vẫn là tỉnh nghèo
điểm xuất phát thấp kinh tế chậm phát triển, sản xuất hàng hoá chưa phát
triển, sản xuất với quy mô nhỏ hàng hoá sức cạnh tranh thấp trên thị trường
hàng hoá xuất nhập khẩu ngèo nàn, giá trị nhỏ, sức mua thị trường các tỉnh
Bắc Lào còn nhiều hạn chế. Sau khi chia tách tỉnh tiềm năng về khai thác
khoáng sản quặng các loại như đồng, chì, đá đen... các mặt hàng chủ lực
trong chương trình XNK như chè, thảo quả, tập trung chủ yếu ở tỉnh Lai
Châu.
2. Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá theo mặt hàng:

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status