GIỚI THIỆU INTERNET
Internet - cũng được biết với tên gọi Net - là mạng máy tính lớn nhất thế giới, hoặc chính
xác hơn là mạng của các mạng, tức bao gồm nhiều mạng máy tính được nối lại với nhau.
Một số mạng máy tính bao gồm một máy tính trung tâm (còn gọi là máy chủ hay máy phục
vụ) và nhiều máy khác (còn gọi là máy khách hàng hay trạm làm việc) nối vào nó. Các
mạng khác, kể cả Internet, có quy mô lớn hơn, bao gồm nhiều máy chủ và cho phép bất kỳ
một máy tính nào trong mạng có thể kết nối với bất kỳ máy nào khác để trao đổi thông tin
thoải mái với nhau. Một khi đã được kết nối vào Internet, máy tính của bạn sẽ là một trong
số hàng chục triệu thành viên của mạng khổng lồ này.
Mạng của các trường đại học và viện nghiên cứu là những thành viên lâu đời của Internet.
Sự bùng nổ Internet trong vòng hai năm trở lại đây cũng giống như khi TV xuất hiện vào
đầu những năm 50. Số người dùng gia nhập Internet tăng với tốc độ rất nhanh. Theo ước
tính, con số này sẽ là 16 triệu vào cuối năm nay.
Có thể làm được gì với Net?
Về thực chất, Internet là công nghệ thông tin liên lạc mới, nó tác động sâu sắc vào xã hội,
cuộc sống của chúng ta, là một phương tiện cần thiết như điện thoại hay TV, nhưng ở một
mức độ bao quát hơn nhiều. Chẳng hạn, điện thoại chỉ cho phép bạn trao đổi thông tin qua
âm thanh, giọng nói. Với TV thì thông tin bạn nhận được sẽ trực quan hơn. Còn Internet lại
hơi khác. Nó đưa bạn vào một thế giới có tầm nhìn rộng hơn và bạn có thể làm mọi thứ: viết
thư, đọc báo, xem bản tin, giải trí, tra cứu và thậm chí còn có thể thực hiện những phi vụ
làm ăn.
Ngày nay, khi nói về Internet, mọi người thường đề cập đến việc họ có thể làm gì và đã gặp
ai. Khả năng của Internet rất lớn, và chỉ có thể tóm lược một số điểm chính sau đây.
Thư điện tử (E-mail)
Nguồn gốc của Internet
Nếu không thích chuyện của quá khứ, bạn hãy bỏ qua mục này.
Tiền thân của Internet là ARPANET, mạng máy tính được xây dựng bởi Bộ Quốc Phòng Mỹ
(DOD) vào năm 1969 vừa để thử nghiệm độ tin cậy của mạng và vừa nhằm kết nối những
cơ sở nghiên cứu với mục đích quân sự, bao gồm một số lượng lớn các trường đại học,
viện nghiên cứu. ARPANET khởi đầu với quy mô nhỏ, nhưng đã nhanh chóng bành trướng
ra khắp nước Mỹ.
Một phần của độ tin cậy mạng thuộc về vấn đề định hướng động (dynamic routing). Nếu
một trong số nhiều liên kết của mạng bị gián đoạn do tấn công từ bên ngoài, lưu thông trên
đoạn đó phải được tự động chuyển sang liên kết khác. Thật may mắn, chưa có sự tấn công
nào xảy ra cả ....
Thành công của ARPANET được nhân lên gấp bội, tất cả các trường đại học đều đăng ký
gia nhập. Tuy nhiên, quy mô lớn của mạng đã gây khó khăn trong vấn đề quản lý. Từ đó,
ARPANET được chia làm hai phần: MILNET là hệ thống mạng dành cho quân sự và
ARPANET mới nhỏ hơn, không thuộc DOD. Tuy nhiên hai mạng vẫn liên kết với nhau nhờ
giải pháp kỹ thuật gọi là IP (Internet Protocol), cho phép thông tin truyền từ mạng này sang
mạng khác khi cần thiết. Tất cả các mạng được nối vào Internet đều sử dụng IP.
Tuy chỉ có hai mạng lúc bấy giờ nhưng IP được thiết kế cho hàng chục nghìn mạng. Một
điều khác thường trong thiết kế của IP là bất kỳ một máy nào trong IP đều có thể liên lạc
được với một máy khác bất kỳ. Điều này có vẻ như là hiển nhiên nhưng bạn nên biết rằng
vào thời điểm đó, trong phần lớn những mạng máy tính, máy đầu cuối (terminal) chỉ có thể
kết nối với máy trung tâm, mà không thể với máy đầu cuối khác.
World Wide Web xuất hiện bởi nhu cầu của các viện và trường đại học và mặc dù các cơ
sở khoa học này vẫn đóng vai trò chủ đạo nhưng Web đã biến thành nơi chứa thông tin
Web, thông tin của bạn có thể đến với tất cả mọi người.
• Web server là máy chủ trong đó có chứa thông tin dưới dạng trang Web. Các Web
server được nối với nhau trên Internet, mỗi server có địa chỉ riêng, bắt đầu bằng:
• http://...
Web server còn có tên gọi là Web site - vị trí Web.
• Nào, còn điều gì bạn muốn nói? bạn có thể cho cả thế giới biết.
INTERNET CÓ TỪ ĐÂU VÀ KHI NÀO...?
Những cột mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển Internet
Thập niên 1950
1957
* Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên Sputnik. Hoa Kỳ đáp lại bằng cách thành lập Cơ
quan Dự án Nghiên cứu Cao cấp (Advanced Research Projects Agency - ARPA) thuộc Bộ
quốc phòng Mỹ (DOD) nhằm đưa khoa học và kỹ thuật vào quân đội.
Thập niên 1960
1962
* Paul Baran, RAND: "Mạng truyền thông phân tán" - Mạng chuyển mạch gói (Packet-
switching - PS); không còn một điểm dừng duy nhất nữa.
1965
* ARPA tài trợ nghiên cứu về mạng cộng tác gồm các máy tính chia sẻ theo thời gian. - TX-
* Mạng Store-and-Forward
• Dùng công nghệ thư điện tử và mở rộng nó vào hội nghị
• ALOHAnet do Norman Abrahamson, U of Hawaii (:sk2:) phát triển
• Kết nối với ARPANET vào năm 1972
* Các máy chủ ARPANET bắt đầu dùng giao thức Network Control Protocol (NCP)
1971
* 15 nút (23 máy chủ): UCLA, SRI, UCSB, U of Utah, BBN, MIT, RAND, SDC, Harvard,
Lincoln Lab, Stanford, UIU (C), CWRU, CMU, NASA/Ames
1972
* Hội nghị quốc tế về Truyền thông máy tính với sự trình diễn của mạng ARPANET giữa 40
máy và Terminal Interface Processor (TIP) do Bob Kahn tổ chức.
* InterNetworking Working Group (INWG) ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu thiết lập giao thức
bắt tay (agreed-upon). Chủ tịch: Vinton Cerf.
* Ray Tomlinson của BBN phát minh chương trình e-mail để gửi thông điệp trên mạng phân
tán (:amk:) Chi tiết kỹ thuật Telnet (RFC 318)
1973
* Kết nối quốc tế đầu tiên vào ARPANET: University College of London (Anh) và Royal
Radar Establishment (Na Uy).
* Luận văn tiến sĩ đại học Harvard của Bob Metcalfe phác họa ý tưởng cho Ethernet (:amk:)
* Bob Kahn đưa ra vấn đề Internet, khởi đầu chương trình nghiên cứu liên mạng tại ARPA.
Vào tháng 3, Vinton Cerf phác thảo cấu trúc gateway trên mặt sau phong bì tại phòng chờ
của một khách sạn ở San Francisco (:vgc:).
* Cerf và Kahn trình bày những ý tưởng cơ bản của Internet tại INWG vào tháng 9 ở U of
đại học khác để thành lập khoa Khoa học Máy tính (Computer Science Department) chuyên
nghiên cứu mạng máy tính (do Larry Landweber tổ chức).
* Mạng USENET do Tom Truscott và Steve Bellovin thành lập dùng giao thức uucp giữa
Duke và U của đại học Bắc California.
* Richard Bartle và Roy Trubshaw ở U - Essex thành lập MUD và MUD1 đầu tiên.
* ARPA thành lập Ban Điều khiển Cấu hình Internet (Internet Configuration Control Board -
ICCB)
* Bắt đầu thử nghiệm mạng Packet Radio Network (PRNET) nhờ ngân sách của DARPA.
* ARPANET nối qua SRI
Thập niên 1980
1981
* Mạng BITNET (Because It's Time Network)
- Được khởi đầu như một mạng cộng tác tại đại học City University ở New York, kết nối đầu
tiên với đại học Yale. (:feg:)
-
Nếu thay từ Time trong tên BITNET bằng từ There thì đó là tên giao thức NJE miễn phí
của IBM.
-
Cung cấp dịch vụ thư điện tử và máy chủ cho phép phân phối thông tin cũng như truyền
file.
* Mạng CSNET (Computer Science NETwork) do nhiều nhà khoa học máy tính phối hợp với
các trường đại học University of Delaware, Purdue, University of Wisconsin, công ty RAND
và BBN lập nên nhờ tài trợ của NSF. CSNET cung cấp các dịch vụ về mạng cho các khoa
học gia ở trường đại học mà không cần truy xuất vào mạng ARPANET. CSNET sau này
được xem như mạng phục vụ cho khoa học và máy tính (Computer and Science Network)
(:amk,lhl:)
hành của BITNET với một gateway do IBM tài trợ.
1984
* Giới thiệu Domain Name Server (DNS) . Số lượng máy chủ vượt qua con số 1000 l Thiết
lập mạng JUNET (Japan Unix Network) dùng UUCP .
* Thiết lập mạng JANET (Joint Academic Network) tại Anh dùng giao thức Coloured Book .
* William Gibson xuất bản quyển Neuromancer.
1985
* Bắt đầu kết nối Whole Earth'Lectronic Link (WELL) .
1986
* Thiết lập mạng NSFNET (tốc độ của backbone là 56 Kbps).
- NSF thành lập 5 trung tâm siêu tính toán cung cấp những khả năng tính toán cao cấp cho
các nơi:
JVNC@Princeton ...
- Bùng nổ kết nối, đặc biệc là ở trường đại học.
* Mạng Freenet đầu tiên (tại Cleveland) ra mắt vào ngày 16 tháng 7 dưới sự bảo trợ của
công ty SoPAC (Society for Public Access Computing). Vào năm 1989, chương trình quản
lý Freenet được National Public Telecomputing Network (NPTN) đảm nhận (:sk2,rab:).
* Thiết kế giao thức Network News Transfer Protocol (NNTP) nhằm mở rộng khả năng khai
thác thông tin trên Usenet thông qua giao thức TCP/IP.
* Mail Exchanger (MX) do Craig Partridge phát triển, cho phép những chủ không dùng giao
thức IP có địa chỉ khu vực (domain address).
* Xây dựng mạng BARRNET (Bay Area Regional Research Network) với những kết nối tốc
độ cao.
1987
* Tổ chức EFF (Electronic Frontier Foundation) do Mitch Karop sáng lập.
* Archie được đưa ra
* Hytelnet ra đời
* World - nhà cung cấp dịch vụ truy cập Internet qua điện thoại đầu tiên
* CA*net do 10 mạng khu vực khác nhau hình thành, có vai trò như một backbone quốc gia
của Canada, nối trực tiếp vào NSFNET.
* Argentina, áo, Bỉ, Brazil, Chi Lê, ấn Độ, Ireland, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ nối vào
NSFNET.
1991
* Thinking Machines Corporation công bố Wide Area Information Servers (WAIS) do
Brewster Kahle phát minh.
* Paul Lindner và Mark P. McCahill ở đại học Minnesota đưa ra Gopher
* World Wide Web (WWW) ra đời, được CERN công bố, do Tim Berners-Lee phát triển.
* NSFNET backbone được nâng cấp, đạt tốc độ 44736 Mbps
* NSFNET truyền 1 tỷ tỷ byte/tháng và 10 tỷ gói tin/tháng
* Croatia, CH Séc, Hồng Kông, Hungary, Bồ Đào Nha, Singapore, Nam Phi, Đài Loan,
Tunisia nối vào NSFNET.
1992
* Internet Society bước vào hoạt động Số lượng máy chủ vượt quá con số một triệu
* IAB tiếp tục vai trò Internet Architecture Board và trở thành một phần của Internet Society.
* Cameroon, Cyprus, Ecuador, Estonia, Kuwait, Latvia, Luxembourg, Malaysia, Slovakia,
Slovenia, Thailand, Venezuela nối vào NSFNET
1993
* NSF cho ra đời InterNIC, cung cấp các dịch vụ Internet như:
- Dịch vụ về cơ sở dữ liệu và thư mục (AT&T).
-
1996
* Triển lãm Internet 1996 World Exposition là triển lãm thế giới đầu tiên trên Internet .
Nguồn tin từ PCworld
INTERNET - CHẲNG CÓ GÌ LÀ CAO SIÊU
Công Nghệ Thông Tin (CNTT) sẽ chẳng là gì nếu không trở thành rất quen thuộc như cái
cuốc trong xã hội nông nghiệp, cái công tắc điện trong xã hội công nghiệp...
Với chuyên mục này, chúng tôi sẽ làm cho những vấn đề như Internet, Browser, Windows,
Object... trong CNTT trở thành "dễ cầm" như cái cuốc, "dễ bật" như cái công tắc điện...
Nếu có hai máy tính được nối với nhau để có thể trao đổi thông tin cho nhau thì đó là mạng
máy tính. Mạng máy tính là nhiều máy tính (không hạn chế số lượng) được kết nối với
nhau, tương tự mạng có nhiều điện thoại liên lạc với nhau. Mục đích của việc kết nối là trao
đổi thông tin giữa các máy, chia sẻ tài nguyên (đĩa cứng, máy in) của các máy trong mạng
với nhau, và hơn nữa là quản lý được toàn bộ hoạt động của các máy được kết nối.
Có thể nối hai hoặc nhiều mạng máy tính thành một mạng lớn hơn. Một máy tính trong
mạng nhỏ này có thể gửi thông tin đến cho một máy tính khác nằm trong mạng nhỏ thứ hai
nếu hai mạng nhỏ trên được nối với nhau.
Có thể đặt ra câu hỏi: "các máy tính được nối với nhau như thế nào, bằng phương tiện gì?".
Câu trả lời là các máy tính nối với nhau có thể là hữu tuyến, và cũng có thể là vô tuyến. Kết
nối hữu tuyến là kết nối bằng các loại dây cáp, kể cả dây điện thoại, cáp quang. Còn kết nối
vô tuyến thông qua sóng vô tuyến, hồng ngoại...
của những phương tiện này rất lớn, có thể chứa được nhiều loại thông tin như dữ liệu, hình
ảnh, tiếng nói, hình ảnh động...
Ta hay nói lấy tin từ Internet. Những thông tin mà ta gọi là lấy từ Internet là do các
nhà cung cấp thông tin lên Internet mà ra. Ví dụ, công ty A muốn giới thiệu trên Internet các
loại sản phẩm mới của mình. Trước tiên công ty A tổ chức và đưa thông tin sản phẩm lên
một máy chủ. Máy chủ này phải nối với một ISP nào đó và có địa chỉ được đặt theo nguyên
tắc xác định chung. ISP thông qua IAP để kết nối với Internet. Người dùng Internet có thể
truy cập trực tiếp vào máy chủ của công ty A để xem thông tin (xem hình minh họa). Số máy
chủ chứa dữ liệu như trên được nối với Internet lên tới hàng triệu. Từ đó có thể thấy lượng
thông tin có trên Internet nhiều tới mức nào.
Đứng từ góc độ người dùng, Internet không có gì là cao siêu, khó hiểu. Tại nhiều nước phát
triển, người dân bình thường có máy tính trong gia đình đã sử dụng Internet như một
phương tiện truyền thông hữu ích. Vấn đề mà chúng ta quan tâm hiện nay là sử dụng và
quản lý Internet như thế nào để việc "nối mạch" diễn ra trôi chảy và giá cước ngày càng rẻ.
Để đạt được sự "trôi chảy" khi nối mạng điện thoại quốc tế ta cũng phải mất nhiều năm. Còn
giá cước hợp lý thì nhiều năm nay vẫn chưa đạt được.
*Chi phí bao nhiêu để có thể sử dụng Internet
Muốn trở thành người dùng Internet, điều trước tiên là bạn phải có máy tính với cấu hình tối
thiểu:
o Bộ xử lý 486 DX2-66MHz
o 8MB RAM
o 20 MB đĩa cứng trống
Mạng intranet có thể nối với Internet. Và để bảo vệ intranet khỏi sự truy cập không hợp
pháp từ bên ngoài, người ta phải sử dụng những phương tiện kiểm soát luồng thông tin ra
vào intranet, gọi là bức tường lửa.
WORLD WIDE WEB, LINH HỒN CỦA INTERNET, LẠI CÀNG ĐƠN GIẢN
Người ta nói rằng Internet chỉ trở nên thực sự hấp dẫn khi World Wide Web xuất hiện.
World Wide Web - viết tắt là WWW, hay gọi ngắn gọn là Web - là công cụ, phương tiện hay
đúng hơn là một dịch vụ của Internet. Hiểu thế nào là dịch vụ Internet? Đó là những phương
tiện, cách thức được sử dụng trên Internet nhằm giúp cho việc trao đổi thông tin trở nên
thuận tiện và dễ dàng. Không giống với những dịch vụ khác của Internet, Web cung cấp thông
tin rất đa dạng, bao gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh, video, nghĩa là những gì chúng ta có
thể cảm nhận được. Thông tin được biểu diễn bằng trang Web theo đúng nghĩa của một
trang mà chúng ta có thể nhìn thấy trên màn hình máy tính. Mọi
thông tin đều có thể biểu thị trên trang Web đó, kể cả âm thanh, hình ảnh động.
Nhưng nếu chỉ có như vậy thì cũng chẳng có gì phải bàn nhiều về Web.
Vấn đề lý thú nhất của Web nằm ở khía cạnh khác.
Trang Web bạn nhìn thấy trên màn hình máy tính có khả năng liên kết với những trang Web
khác, dẫn ta đến những nguồn thông tin khác. Chẳng hạn trên một trang thông tin bạn đọc
thấy câu thơ của Tố Hữu:
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
...
lửa (firewall) giúp cho người dùng được đăng ký trong mạng có thể truy nhập thông tin trong
Intranet và ra ngoài Internet thoải mái. Người dùng Internet có thể truy nhập vào Intranet để
lấy được những thông tin lọc bởi bức tường lửa.
Intranet: Giải pháp mới cho vấn đề cũ
Ta cứ thử tưởng tượng một công ty đa quốc gia với khoảng chục ngàn nhân viên, có hàng
trăm văn phòng, trụ sở trên khắp thế giới nếu muốn thiết lập một mạng toàn cầu riêng sẽ
tốn kém biết bao nhiêu. Họ cần lưu trữ một số lượng lớn thông tin về văn phòng, nguồn
nhân lực, vật lực, giá cả hàng hóa hay danh bạ điện thoại... Theo ông Dennis Tsu, giám đốc
tiếp thị về các sản phẩm phần mềm Internet của công ty Sun Microsystems thì hàng năm,
chi phí cho in ấn, phân phát tài liệu cho một nhân viên công ty từ 50 đến 100 USD. Giả sử
công ty có độ 200 nhân viên thì chi phí trên trong một năm có thể mua được nửa tá Web
server và mỗi phân ban chỉ cần chịu trách nhiệm cập nhật thông tin thường xuyên trên máy
chủ thay vì in ấn và phân phát thì rất có thể sau 12 tháng, vốn đầu tư hàng năm cho từng
nhân viên trên sẽ trở về két bạc của công ty.
Ngoài ra, các công ty đa quốc gia có thể được thành lập từ những công ty con khác nhau
thuộc nhiều quốc gia nên một điều dễ xảy ra là họ có các hệ thống máy tính khác nhau về
kiến trúc. Đó có thể là IBM PC, Macintosh, máy tính mini hay siêu máy tính và chạy trên hệ
điều hành Unix, DOS, Windows... Chỉ có TCP/IP là ngôn ngữ giúp các máy tính khác biệt về
kiến trúc "nói chuyện" được với nhau, trong khi công nghệ Web giúp người sử dụng không
biết nhiều về máy tính có thể xem từ tài liệu trên siêu máy tính Cray đến văn bản Word,
Excel trên PC hay Macintosh một cách dễ dàng. Chính điều này có thể giúp họ nhanh
chóng hòa mạng trong nội bộ công ty và tiếp cận với thế giới Internet bên ngoài.
Công nghệ Web từ khi ra đời đã tỏ ra rất hiệu quả vì khả năng thiết lập nhanh với giá thành
rẻ. Cấu hình cơ bản chỉ cần một Web server và phần mềm đi kèm. Vì mạng Internet đã có
sẵn chỉ cần nối Web server vào một gateway gần nhất và trả tiền thuê bao trên đoạn đường
truyền đó là có thể nối mạng với bất kỳ điểm nào trên thế giới. Trên mỗi máy lẻ của người
của IDC thì tới năm 2000, tỷ số này sẽ là 10:1 nghiêng về Intranet. Riêng trong năm 1996,
theo thống kê của Forrester sau khi phỏng vấn 50 trong số 500 công ty thành đạt nhất thế
giới thì hiện có 16% đang dùng Intranet, 26% sẽ cài đặt, 24% đang xem xét, còn 34% trả lời
là chưa có kế hoạch cụ thể.
Nói đến sự thành công huyền thoại trên Intranet phải kể đến công ty FedEx, chuyên vận
chuyển hàng trên khắp thế giới. Mỗi ngày công ty vận chuyển khoảng 2,4 triệu kiện hàng đi
khắp năm châu. Họ đã lắp đặt Web server từ tháng 11 năm 1994 và hàng ngày cho phép
khoảng 12.000 khách hàng có thể theo dõi trực tiếp từng giờ xem kiện hàng của mình được
luân chuyển như thế nào tới địa chỉ của người nhận thông qua vài thao thác trên máy vi
tính. Người gửi và nhận không phải mất thời gian và tiền bạc để hỏi qua điện thoại hay fax
xem kiện hàng đã tới nơi chưa. FedEx đã tiết kiệm 2 triệu USD mỗi năm vì có mạng
Intranet. Công ty FedEx có khoảng 60 trang gốc với hàng trăm ngàn trang Web nhằm cung
cấp thông tin cho khoảng 30.000 nhân viên trên toàn thế giới.
Hãng ô tô Ford dùng Intranet để nối các trung tâm thiết kế từ châu á sang châu Mỹ và châu
Âu. Từ hãng AT&T đến hãng quần jean Levi Strauss đều đặt cược cho Intranet để kinh
doanh. Silicon Graphics với 7200 nhân viên tạo ra 114.000 trang Web được lưu trên 800
trang Web gốc dùng trong nội bộ công ty. Họ có Intranet từ thuở Mosaic và WWW mới
được sinh ra. Ngân hàng Thế giới (The World Bank) cũng trang bị một Intranet cho khoảng
10.000 nhân viên, giúp họ trao đổi thông tin và đó chính là một trong những yếu tố tạo cho
hoạt động của Ngân hàng Thế giới trẻ nên hiệu quả hơn. Ngồi tại văn phòng ở Hà Nội hay
Washington có thể xem chi tiết tình hình giải ngân của từng dự án đang thực hiện tại Việt
Nam hay bất kỳ.
Năm 1996, tổng giá trị các phần mềm Intranet được bán ra trên thế giới khoảng 467 triệu
USD. Theo dự đoán có thể lên tới 4 tỷ trong năm 1997 và đạt 8 tỷ trong năm 1998, gấp 4
lần so với Internet. Đó là chưa kể đến các ứng dụng, công cụ lập trình cho Intranet. Đây là
dịp làm ăn lớn của các công ty chuyên sản xuất phần mềm cho Intranet như Netcape, Sun,
Microsoft, IBM, Oracle, Computer Associates... Cuộc chiến thực sự giữa các công ty khổng
việc cập nhật định kỳ không phải là vấn đề khó.
Đôi lời kết
Năm 1945, ông Vannevar Bush, cố vấn khoa học của Tổng thống Mỹ Frank Roosevelt trong
Thế chiến thứ hai đã tưởng tượng ra một thế giới mới cho các nhà khoa học cần chinh
phục. Một trong những ý tưởng đó là ông tưởng tượng ra một thiết bị có tên là Mermex
(nguồn gốc từ tiếng Anh Memory Mimic nghĩa là bắt chước cách suy nghĩ của bộ não
người) giúp người ta có thể truy nhập thông tin như cách người ta thường tư duy: đi từ
thông tin này sang thông tin khác như là đi từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác một cách thoải
mái và thông tin lại được lưu trữ lại như ý tưởng được lưu trong bộ não người để sau này
có thể lục lại dễ dàng. Memex giúp người ta liên kết các văn bản lại với nhau. Thời đó,
người ta cho Memex là điều không tưởng và điên rồ. Nhưng đến hôm nay, đã trải qua nửa
thế kỷ, cái Web "rối rắm" của ông V.Bush tưởng tượng đã thành hiện thực. Công nghệ
Internet và Web đã sinh ra Intranet và giúp con người trong một cộng đồng liên kết với
nhau, cùng chia sẻ thông tin và lao động có hiệu quả. Intranet sẽ là chìa khóa của sự thành
công cho các cộng đồng trong việc ứng dụng công nghệ thông tin.
Khi bài viết tới tay bạn đọc thì có thể đất nước đã sang xuân 1997 - chỉ còn ba năm nữa sẽ
tới thế kỷ 21. Hy vọng những chuyên gia hàng đầu về mạng từ các công ty tin học trẻ và
năng động như ONE, hùng mạnh như FPT, 3C hay thâm trầm như Lạc Việt... sẽ thiết lập và
đưa vào ứng dụng thành công mạng Intranet tại Việt Nam giúp nền công nghệ thông tin tiên
tiến thêm một bước mới.
Intranet: Những công ty nên tìm đến
Dưới đây là danh sách một số công ty cung cấp các dịch vụ kể cả phần cứng và mềm cho
Intranet mà tôi sưu tầm được theo quan điểm của tạp chí Fortune.
• Internet/Intranet/Web Software:
Mbps), thông lượng giữa các đầu cuối trên mạng Internet công cộng được đo giữa các trạm
làm việc của mạng LAN và chỉ cỡ 40 Kbps – tương đương với tốc độ liên lạc giữa hai
modem và hơi chậm hơn của mạng ARPANET gốc, trục chính tiền-Internet chạy ở tốc độ
56 Kbps.
Đối với những nhà nghiên cứu, băng thông này và khả năng bất ổn của nó không đủ để hỗ
trợ nhiều ứng dụng mới mà họ muốn và cần. Trong nhiều trường hợp, nếu không có được
hệ thống mạng thích hợp, họ buộc phải mua các thiết bị đắt tiền, thay vì có thể dùng chung
(chẳng hạn như kính hiển vi điện tử). Hoặc họ phải đi xa để xem trình diễn trực tiếp dữ liệu
cần thiết từ các dự án liên quan.
Vấn đề không chỉ đơn giản là yêu cầu "làm ơn cho thêm băng thông". Internet ngày nay
không hỗ trợ nhiều tính năng khác, những tính năng quan trọng đối với thế hệ phần mềm
ứng dụng sắp tới cần có tốc độ cao hơn.
Internet hiện thời cung cấp cái được gọi là "dịch vụ cố gắng nhất". Phiên bản 4 của TCP/IP,
đang chạy trên Internet hôm nay, không dự phòng được khả năng xác định hay bảo đảm
yêu cầu chất lượng dịch vụ (quality-of-service – QoS) và các mức độ khả dĩ của những yêu
cầu này. IPv4 cũng không thể dự phòng băng thông, không bảo đảm hiệu năng mạng tối đa,
không cung cấp đủ tính năng an toàn cần thiết.
Các trường đại học và các viện nghiên cứu hiện nay đang cần đến những tính năng này.
Còn giới các công ty và người dùng thông thường cũng bắt đầu cần đến và nhận thức được
giá trị của các tính năng đó trong Internet thương mại.
Để đạt đến Internet thế hệ tiếp theo cần có phần cứng (ví dụ như các bộ chuyển mạch, bộ
dẫn đường) và các dịch vụ truyền tải, viễn thông thế hệ mới. Nó còn đòi hỏi những giao
thức mới, những công cụ điều hành mạng mới, và sự hiểu biết sâu sắc hơn về nhu cầu
mạng đối với các ứng dụng tốc độ cao. Cũng cần có kế hoạch quản lý dự án và chương
trình trọng yếu để có thể triển khai và điều phối những thay đổi này mà không làm hỏng dịch
kiến tính toán và truyền thông tốc độ cao, hiện giờ NGI trở thành một phần của dự án tính
toán mạng qui mô lớn (Large-Scale Networking) của chính quyền Hoa Kỳ. Mùa thu năm
trước, các nhà nghiên cứu đã trình diễn năm "ứng dụng tiền thân" cho Internet thế hệ mới.
NGI nghiên cứu các giao thức, phát triển và khai thác các mẫu thử nghiệm đầu cuối, cộng
thêm các ứng dụng minh họa. Một số mục đích tương tự cũng được đưa ra trong Internet2
và VBNS.
Trong tất cả các sáng kiến thì NGI là cấp tiến nhất, đặc biệt là loại mạng Class 1 của nó, ở
đó các công nghệ mạng được kiểm nghiệm thích đáng. Một số trong những mạng này
không liên quan gì đến TCP/IP. Chúng bao gồm:
• Collaborative Advanced Interagency Research Network (CAIRN) cung cấp bộ
Ascend Gigarouters cho các nhà nghiên cứu trong phạm vi toàn quốc để thí nghiệm
với RSVP, multicast (kỹ thuật cho phép gửi lên mạng chỉ một bản, khi cần thiết sẽ
tự động nhân bản để gửi đến nơi yêu cầu), và các giao thức IPv6 khác.
• National Transparent Optical Network Consortium (NTONC) có kế hoạch xây dựng
mạng mẫu trị giá 40 triệu USD ở California để làm mô hình thử nghiệm và đánh giá
hiệu năng của các thành phần truyền thông quang học cao cấp. Người ta hy vọng
rằng những tiến bộ kỹ thuật này giúp xây dựng được mạng có khả năng truyền dữ
liệu 10-100 Tbps - dung lượng vượt xa những gì đang dự định hiện giờ.
• Mạng Multiwavelength Optical Network (MONET), trải từ Washington D.C. đến New
Jersey, giúp định hình được cách xây dựng mạng quang học quốc gia hỗ trợ nhiều
độ dài sóng.
• Advanced Technology Demonstration Network (ATDNet) khởi đầu là mạng ở vùng
Washington D.C. có băng thông cỡ OC-48 (2,4 Gbps). Nó được tạo ra để giúp các
cơ quan liên bang triển khai việc sát nhập các công nghệ chế độ truyền dẫn không
đồng bộ (ATM) và mạng quang học đồng bộ (Synchronous Optical Network -
cung cấp các kênh ảo chuyển mạch (switched virtual circuits – SVC)", Charles Lee, Giám
đốc Chương trình VBNS của MCI Telecommunications, phát biểu. "Hai trạm có thể gửi tín
hiệu trực tiếp đến các bộ chuyển mạch ATM của MCI và đi xuyên qua mạng MCI bằng tầng
Layer 2 từ đầu này đến đầu kia mà không cần đến bất kỳ bộ dẫn đường (router) nào".
"Đó là lồng ấp dành cho việc phát triển những ứng dụng thế hệ mới", Lee nói. "Bạn cần phải
phá vỡ nghịch lý trứng-và-gà - không ai phát triển các ứng dụng cho một mạng không tồn
tại, và ngược lại. VBNS là bàn đạp tiến đến công nghệ thế hệ mới".
MCI đang cố gắng mang IPv6 vào VBNS trong tháng Ba này, nhưng điều này có thể bị kéo
dài do vấn đề phần mềm hỗ trợ IPv6.
Đến tháng sáu, MCI hy vọng sẽ đưa ra được những dịch vụ hỗ trợ băng thông dự phòng
(reserved-bandwidth services). "Dịch vụ khởi đầu của chúng tôi sẽ bổ sung dịch vụ băng
thông dự phòng cho kỹ thuật chuyển tiếp IP-datagram truyền thống", Lee nói. "Tính năng
này dành cho những ứng dụng cần băng thông cao để bảo đảm độ trễ và mất mát rất thấp.
Nó thiết lập, trên cơ sở từng ứng dụng, một đường dẫn đặc biệt qua Internet bằng cách gởi
tín hiệu từ hệ thống đầu cuối sử dụng RSVP, và một trong nhưng bộ dẫn đường của chúng
tôi sẽ chuyển nó thành kênh ảo ATM".
Băng thông dự phòng rất quan trọng, Lee nhấn mạnh, "những khi mà các dịch vụ thương
mại không thể hỗ trợ nó cho các trạm cuối". Tương tự, việc sử dụng kỹ thuật Protocol-
Independent Multicast (PIM) hiện đang cho phép thực hiện một số hoạt động mà trước đây
không thể làm được, chẳng hạn như kết nối đến mạng CAnet – một mạng nghiên cứu lớn
của Canada, để cung cấp tính năng IP-multicasting.
Mặc dù bạn có thể sử dụng Multicast Backbone (Mbone) cho tiếng nói và video, "nói chung
là được thực hiện bằng cách dùng các bộ dẫn đường hay các trạm làm việc đặc biệt để làm
các IP đường ngầm", Lee nói.
UCAID (University Corporation for Advanced Internet Development) được thành lập vào
tháng 9/1997 để quản lý Internet2 và trợ giúp các liên đoàn khác, chẳng hạn như một
Gigabit Point of Presence (GigaPOP) của North Carolina. Các GigaPOP sẽ giúp đỡ kết hợp
thông lượng từ các trường đại học, tránh nhiều vấn đề nảy sinh do kiến trúc của các
Network Access Point (NAP) của Internet hiện nay.
Chín công ty thành viên của UCAID – Advanced Network and Service, Bay Networks, Cisco
System, Fore Systems, IBM, Newbridge Networks, Nortel, Starburst Communi-cations, và
3Com – đã liên kết ở cấp độ đối tác. Điều đó có nghĩa là họ đã cam kết mỗi bên đóng góp
hơn 1 triệu USD cho Internet2 trong 3 đến 5 năm tới.
Internet2, VBNS, và NGI cũng có quan hệ tương hỗ,dù rằng Internet2 và VBNS tự thân
chúng cũng có sứ mạng riêng, độc lập với NGI và độc lập với nhau. Hiện tại, VBNS cung
cấp dịch vụ mạng trục chính cho Internet2. Internet2 và UCAID cũng có tham gia phần nào
trong dự án NGI thông qua khối đào tạo cao cấp. Thật vậy, Internet dường như đã đạt được
mục đích đầu tiên của chương trình NGI khi nó nối kết 100 trường đại học hàng đầu và phát
triển những chương trình ứng dụng trên mạng thế hệ mới.
Các kế hoạch của Internet2 dự định sẽ tiến hành thử nghiệm hoạt động vào mùa thu năm
nay, dù rằng khi sử dụng VBNS một số ứng dụng đã được trình diễn, trong đó có một số
ứng dụng trình diễn ở các buổi hội thảo ở Washington D.C. vào mùa thu trước. Các ứng
dụng Internet2 bao gồm nhiều ngành nghiên cứu, giáo dục khác nhau. Một số sẽ là môi
trường cộng tác, một số khác sẽ là các thư viện số. Một số sẽ hỗ trợ nghiên cứu, và một số
khác sẽ cho phép dạy học từ xa.
Internet2 cũng là nơi thử nghiệm nhiều vấn đề mang tính chính sách, chẳng hạn như làm
thế nào để định giá và tính phí đối với kỹ thuật dự phòng băng thông. Nó cũng là chỗ để thí
nghiệm các biện pháp thúc đẩy các GigaPOP, chẳng hạn với cache cục bộ và các server
nhân bản, và với các đường liên lạc vệ tinh lên và xuống để cải tiến hiệu quả mạng.
"Điều đó có thể cần đến một thập niên nữa tùy thuộc vào mọi chuyện như thế nào … và tất
nhiên, chúng ta cũng sẽ đặt nhiều sợi quang hơn", Partridge nói.
Những công nghệ cần thiết cho Internet thế hệ mới
Internet ngày nay đang muốn vỡ tung từ những chỗ chắp vá. Thiết kế ban đầu không ngờ
được kích thước và tính phổ dụng như hiện nay. Xét theo nhiều tiêu chuẩn, nó hoàn toàn
không đáp ứng được nhu cầu liên mạng hiện đại. Các kiến trúc sư mạng Internet chưa bao
giờ ngờ đến những yêu cầu an toàn dữ liệu và quy mô phát triển quá nhanh.
Quy mô Mạng: Khả năng đánh địa chỉ 128-bit cho mạng mở rộng
Thay đổi hiển nhiên nhất đối với các giao thức Internet sẽ là tăng cường khả năng đánh địa
chỉ rộng hơn nhiều so với hiện nay đang hỗ trợ. IPv6 sẽ sử dụng 128 bit - đủ để gán 665
triệu tỉ tỉ (665x1024) địa chỉ trên một mét vuông diện tích bề mặt trái đất.
Khả năng này cung cấp thừa rất nhiều chỗ so với nhu cầu trong tương lai gần. Trong thực
tế, với 128 bit này người ta chỉ dành cho vài trăm triệu địa chỉ trên một mét vuông, phần
không gian còn lại sẽ được dùng cho kỹ thuật dẫn đường và cho các mục đích quản lý
khác. Dù sao đi nữa thì sự mở rộng không gian này vượt quá nhu cầu thực sự của chúng
ta.
Kỹ thuật Multicasting: Làm cho việc truyền thông tin đến nhiều người nhận hiệu quả hơn
Thay đổi tiếp theo cho các giao thức sẽ là việc hỗ trợ kỹ thuật data-multicasting. Đây là
phương tiện cho phép người sản sinh thông tin chỉ cần gửi một bản sao lên mạng, bất kể có
bao nhiêu người nhận. Mạng sẽ tự động sao lại bản này khi cần thiết, dẫn nó đến những
máy chủ yêu cầu nó.
tượng với hàng chữ "Cho tôi dịch vụ tốt hơn, và cứ tính thêm phí", cũng như chưa bao giờ
thấy "Hãy bảo đảm chất lượng cho các dịch vụ cuộc gọi video từ người cố vấn đề tài cho
tôi, nhưng chỉ cần chất lượng thấp và rẻ đối với các cuộc gọi từ bạn bè nếu như họ không
tự thanh toán phí". Các ISP riêng lẻ như Uunet và BBN/GTE bắt đầu cung cấp một số loại
hình dịch vụ bảo đảm, nhưng vẫn còn hàng lô dịch vụ chưa thực hiện được trong khuôn khổ
các giao thức hiện nay.
Nhiều loại ứng dụng khác nhau và nhiều tình huống khác nhau có độ ưu tiên khác nhau
theo cấp độ QoS. Lấy ví dụ, tiếng nói thời gian thực có thể chấp nhận mất tín hiệu chứ
không được trễ, trong khi dữ liệu thời gian thực có thể chịu độ trễ ở mức độ nào đó và
thường cần độ chính xác 100%.
Khi các gói thông tin truyền đến đích, một số đặc tính cần được bảo đảm và được kiểm
soát, chẳng hạn như:
- Dung lượng – Nếu ứng dụng yêu cầu 10Mbps giữa các điểm liên lạc, nó cần có khả năng
khai thác dự trữ mạng nhằm hỗ trợ nhu cầu của nó.
- Quản lý mất mát gói thông tin – nếu sự mất mát gói thông tin là không thể tránh khỏi thì
mức độ mất chừng nào là chấp nhận được?
- Thời điểm truyền, nhận gói thông tin – Vào thời điểm nào gói thông tin cần cho ứng dụng?
Hạn chế về chính xác thời điểm đến chừng nào là chấp nhận được?
- Tương tự, khi các gói thông tin đạt đến đích, những đặc tính nào cần được kiểm soát?
- Kiểm soát điểm vào – Những gói thông tin nào được phép vào chỗ nhận? Đối với những
tầng nào thì đây là vấn đề cần xét.
- Phân biệt các gói thông tin – Có những gói thông tin nào quan trọng hơn các gói khác?
Khi đường xương sống của Internet chuyển sang chuẩn mới có tên là IP Version 6 (IPv6),
các mạng cộng tác cũng sẽ phải chuyển đổi để có thể bắt kịp trào lưu. Tuy nhiên, theo ý
kiến thống nhất của giới quan sát viên thì đây là quá trình lâu dài và gian khó.
Nguyên nhân của việc chuyển đổi từ IPv4 sang IPv6 một phần là do sự thiếu hụt số lượng
địa chỉ IP. Số lượng địa chỉ này trở nên bị hạn chế khi có quá nhiều máy tính và thiết bị khác
nối vào Internet. Những ưu điểm của giao thức mới về sự đơn giản trong việc triển khai các
thiết bị IP cũng như khả năng bảo mật được tăng cường sẽ trợ giúp cho người dùng cộng
tác.
Những công ty lớn nhất cần phải bắt đầu quá trình chuyển đổi này sớm nhất. Theo khuyến
cáo của một công ty nghiên cứu, công ty nào có trên 1000 địa chỉ IP thì phải có kế hoạch
ngay từ bây giờ. Quá trình chuyển đổi này cũng đặc biệt quan trọng đối với những khách
hàng phụ thuộc vào Internet để hoạch định tài nguyên xí nghiệp, trao đổi dữ liệu điện tử và
thương mại điện tử. Những ứng dụng này thường là loại đòi hỏi nhiều băng thông cho xử lý
giao dịch, môi trường tương tác hay các ứng dụng "phát tin" và tiếng nói qua IP.
Bây giờ hay tương lai?
Vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất là nên làm gì và vào thời điểm nào. Một số người cho rằng
giao thức này sẽ có mặt trước khi các mạng diện rộng cần được chuyển đổi từ 3-5 năm
nhưng một số khác thì lại nói sự chuyển đổi này cần được chú ý sớm hơn và đòi hỏi của nó
là không nhỏ. Phần cứng, phần mềm và các ứng dụng mạng cần được nâng cấp để làm
việc với những trường địa chỉ mới, dài hơn. Các cơ sở IP lớn phải có sẵn Network Address
Translation (NAT) và Dynamic Host Control Protocol (DHCP) để giải quyết những vấn đề khi
gán địa chỉ mới và gia tăng tính năng của việc định danh địa chỉ này. Hiện thời, trong vòng
hai năm tới, những nhà quản trị mạng vẫn còn nhiều vấn đề lớn hơn cần giải quyết là năm
2000 và chuyển sang cộng đồng chung châu Âu.
Anycast: một loại gói thông tin IPv6, cho phép cập nhật hiệu quả nhất bảng dẫn đường cho một
trong các nhóm máy chủ.
Dual stacking: cơ chế truyền IPv6 "Transition Mechanics for IPv6 Hosts and Routers"; đặc tả cơ
chế chồng kép như một phương pháp chuyển đổi từ IPv4 sang IPv6 và hỗ trợ cho cả IPv4 cũng
như IPv6 trong các máy chủ và bộ dẫn đường.
Dynamic Host Control Protocol (DHCP): chiến lược để giảm những vấn đề thường gặp do
thiếu địa chỉ IP; cho phép định vị địa chỉ IP một cách tự động.
Internet Engineering Task Force (IETF): chịu sự giám sát của Ban Kiến Trúc Internet (IAB)
thuộc Hiệp Hội Internet (IA); chịu trách nhiệm phát triển và triển khai các giao thức Internet.
Địa chỉ IP (địa chỉ Internet): xác định thông tin người gửi và người nhận trên các gói thông tin.
Để có mặt trên Internet, một tổ chức cần có địa chỉ mạng. Địa chỉ trong phiên bản IPv4 là 32 bit;
trong phiên bản IPv6 là 128 bit, gia tăng theo cấp số mũ số địa chỉ có thể có.
Multicast: cho phép truyền thông giữa một người gửi và nhiều người nhận. Trong IPv6, cho
phép nhận dữ liệu băng thông cao như video và âm thanh.
Network Address Translation (NAT): chiến lược để giảm những vấn đề thường đi kèm với
thiếu địa chỉ IP; cho phép truy cập đến những địa chỉ IP riêng, không đăng ký.Nguồn tin từ PCworld
NHỮNG ĐIỀU TRÔNG ĐỢI Ở INTERNET
Internet đang sụp đổ rồi chăng? Điều đó phụ thuộc vào việc bạn nói chuyện với ai, và đối
với họ Internet là gì. Nhưng có điều không thể chối cãi được là quan điểm chung của người
Câu chuyện về sự thoái vị sắp tới của Internet là một chủ đề mà nhiều người đã nói bóng
gió trong vài năm nay. Trong mục thư tín "Com-priv" trên Internet, người ta đặt câu hỏi rằng
có phải Internet không phân phối được một cách thỏa đáng, và nếu vậy phải làm gì đây?
(Mục thư tín Com-priv là nơi các nhà phát triển Internet, các nhà cung cấp dịch vụ Internet
(ISPs= Internet service providers) và những người quan tâm khác thảo luận các vấn đề liên
quan đến Internet thương mại)
Đối với người sử dụng cá nhân, việc dùng Internet thường mất thời gian chờ đợi để được
kết nối tới một địa chỉ hay thực hiện truy tìm vì nó chậm chạp và luôn bận rộn.
Đó thực sự không phải là lỗi của Internet. Các chủ sở hữu cơ sở Web đã không cung cấp
đủ năng lực theo đòi hỏi của người dùng. Họ có thể quyết định tăng sức mạnh cho server,
nhưng đó là điều không chắc xảy ra trong phút chốc. Các nhà cung cấp địa chỉ Web chủ
yếu như BBN Planet Corp., Digital Express Group Inc., và The Internet Co. theo dõi mức độ
máy server một cách thận trọng, và nếu như một server không thể đáp ứng được đòi hỏi
của người dùng, các công ty này sẽ khuyến cáo chủ nhân của nó nên mua máy mạnh hơn.
Vấn đề đối với phương án tiếp cận này là có lẽ nó đáp ứng không kịp thời. Nếu một khách
hàng đến với bạn và phải bỏ đi, hoặc buộc phải chờ đợi quá lâu, họ có thể sẽ không bao
giờ quay trở lại.
Khi các ISP và các nhà quản lý địa chỉ (site administrator) đáp ứng được nhu cầu ngày càng
tăng thì nhiều người sẽ phải kinh ngạc về khả năng của Internet - một ngành công nghiệp
phát triển qua 7 - 8 năm, từ chỗ không có gì lên đến 2.000 công ty cung cấp dịch vụ, và phải
chăng nó vẫn đang hoạt động tốt? Đó là một điều kỳ diệu về sự lớn mạnh của Internet.