Tiểu luận
Một số vấn đề về tỷ giá
hối đoái và chính sách tỷ
giá hối đoái ở Việt Nam
Mục Lục
N mă ................................................................................................................25
T giá USD/VNDỷ .......................................................................................25
L m phátạ ........................................................................................................25
2
A - LỜI MỞ ĐẦU
Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến
các phạm trù kinh tế khác và đóng vai trò như là một công cụ có hiệu lực,
có hiệu quả trong việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi
nước, đồng thời là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệ quốc
gia. Đã bao thời nay, loài người đã và đang tiếp tục đứng trước một vấn đề
có tầm quan trọng đặc biệt này và cố gắng tiếp cận nó, mong tìm ra một
nhận thức đúng đắn để từ đó xác định và đưa vào vận hành trong thực tế
một tỷ giá hối đoái phù hợp, nhằm biến nó trở thành một công cụ tích cực
trong quản lý nền kinh tế ở mỗi nước.
Tỷ giá hối đoái, như các nhà kinh tế thường gọi là một loại "giá của
giá" , bị chi phối bởi nhiều yếu tố và rất khó nhận thức, xuất phát từ tính
trừu tượng vốn có của bản thân nó. Tỷ giá hối đoái không phải chỉ là cái gì
đó để ngắm mà trái lại, là cái mà con người cần phải tiếp cận hàng ngày,
hàng giờ, sử dụng nó trong mọi quan hệ giao dịch quốc tế, trong việc sử lý
những vấn đề cụ thể liên quan đến các chính sách kinh tế trong nước và
quốc tế. Và do vậy, nhận thức một cách đúng đắn và sử lý một cách phù
hợp một cách tỷ giá hối đoái là một nghệ thuật.
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày nay, khi mà quá trình quốc
tế hoá đã bao trùm tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và trong cuộc
sống, thì sự gia tăng của hợp tác quốc tế nhằm phát huy và sử dụng những
lợi thế so sánh của mình đã làm cho việc quản lý đời sống kinh tế của đất
n
): đây là tỷ giá hôí đoái được biết
đến nhiều nhất do ngân hàng nhà nước công bố trên các phương tiện thông
tin đại chúng hàng ngày.
- Tỷ giá hối đoái thực tế (e
r
) được xác định e
r
= e
n
* P
n
/P
f
Pn: chỉ số giá trong nước
Pf: chỉ số giá nước ngoài
Tỷ giá hối đoái thực tế loại trừ được sự ảnh hưởng của chênh lệch
lạm phát giữa các nước và phản ánh đúng swsc mua và sức cạnh tranh của
một nước.
2. Sự hình thành tỷ giá hối đoái
a- Cầu về tiền trên thị trường ngoại hối
Có cầu về tiền của nước A trên thị trường ngoại hối khi dân cư từ các
nước khác mua hàng hoá và dịc vụ được sản xuất ra tại nước A. Một nước
xuất khẩu càng nhiều thì cầu đối với đồng tiền nước đó càng lớn trên thị
trường ngoịa hối.
Đường cầu về một loại tiền là hàm của tỷ giá hối đoái của nó xuống
dố phía bên phải, điều này cho thấy nếu tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng
hoá của nước ấy càng trở lên đắt hơn đối với những người n\ớc ngoài và ít
hàng hoá xuất khẩu hơn
hai loại
5
-Tỷ giá điện hối mà tỷ gía mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách
nhiệm chuyển ngoại hối bằng điện( telegraphic transfer -T/T)
-Tỷ giá thư hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách
nhiệm chuyển ngoại hối bằng thư ( mail transfen M/T)
b- Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái chia ra các
loại
- Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do nhà Nước công bố được hình thành
trên cơ sở ngang giá vàng.
-Tỷ giá tự do là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường do quan hệ
cung cầu qui định .
- Tỷ giá thả nổi là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường và nhà
nước không can thiệp vào sự hình thành và quản lý tỷ giá này.
- Tỷ giá cố định là tỷ giá không biến động trong phạm vi thời gian
nào đó.
c- Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá được chia ra các
loại:
- Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ.
- Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu
có kỳ hạn bằng ngoại tệ.
- Tỷ giá chuyển khoản là tỷ giá mua bán ngoại hối trong đó việc
chuyển khoản ngoại hối không phải bằng tiền mặt, bằng cách chuyển khoản
qua ngân hàng.
- Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc chuyển trả
ngoại hối bằng tiền mặt.
d- Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối:
- Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mau bán
ngoại hối của chuyến giao dịch đầu tiên trong ngày.
- Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá vào cuối giờ giao dịch hay tỷ giá mua
máy tính hiện đại có thể trao ddổi hàng tỷ USD giá trị tiền tệ mỗi ngày.
Trên đây là 4 nguyên nhân cơ bản gây lên sự dịch chuyển đường
cung và cầu trên thị trường ngoại hối. Sự dịch chuyển này đến lượt nó sẽ
gây ra những dao động của tỷ giá hối đoái, và như vậy phản ứng dây
chuyền, những biến động của tỷ giá hối đoái lại tác động đến nền kinh tế
trong nước.
III- Tác động của tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế
1-Thực trạng tác động của tỷ giá đối với các lĩnh vực tài chính, ngân
sách thời gian qua.
1.1-Thực trạng quan hệ giữa tỷ giá với ngân sách:
7
Mọi sự biến động của các loại tỷ giá đều tác động trực tiếp tới thu
chi ngân sách. Trước năm 1990 nhà nước thực hiện chính sách tỷ giá kết
toán nội bộ, mức tỷ giá nhà nước công bố thường cố định trong thời gian
tương đối dài. ở thời điểm công bố mức tỷ giá thấp hơn nhiều so với mức
giá trên thị trường và tình hình sức mua của đồng tiền tính chung thời kỳ
1985-1988, 1rúp mua trên dưới 1.500VND hàng xuất khẩu, 1USD trên
dưới 3.000VND, trong khi đó tỷ giá kết toán nội bộ thanh toán trong quan
hệ xuất nhập khẩu giữu mức 150VND/Rúp và 225VND/USD. Nhìn chung
1Rúp hàng xuất khẩu phải bù lỗ 1.350VND và 1USD phải bù 2.775VND.
Kim ngạch xuất khẩu của năm 1987là 650 triệu R-USD trong đó khu vực
đồng Rúp 500 triệu và khu vực đồng USD 150 triệu, Ngân sách nhà nước
đã phải bù lỗ 900 tỷ. Đối với các ngành, các địa phương càng giao nhiều
hàng xuất khẩu để thực hiện nghĩa vụ với bạn, thì ngân sách nhà nước càng
phải bù lỗ nhiều. Ngân sách nàh nước không bù lỗ đủ hoặc chậm trễ trong
việc thanh toán thì công nợ giữa các doanh nghiệp và các ngành càng tăng
và càng thiếu vốn để tiếp tục kinh doanh. Đối với hàng nhập, thì khi vật tư
nguyên liệu thiết bị về nước nhà nước đứng ra phân phối cho các ngành
trong nền kinh tế quốc dân với mức giá thấp (phù hợp với mức tỷ giá 150
VNĐ/Rúp và 225VND/USD nêu trên). Như vậy, các ngành, các địa
khoản cấp phát của ngân sách Nhà nước cho nền kinh tế quốc dân và cho
các hoạt động khác có sử dụng ngoại tệ.
Việc tạo ra một tỷ giá chính thức tưởng là giữ giá trị đồng Việt Nam
so với ngoại tệ để kế hoạch hoá và ổn định kinh tế, nhưng thực chất là đẩy
xuất khẩu Việt Nam vào ngõ cụt, không khuyến khích sản xuất hàng xuất
khẩu và đẩy mạnh hàng xuất khẩu, hệ quả là cán cân thương mại bị nhập
siêu nghiêm trọng, ngân sách Nhà nước phải gánh chịu thêm các thua thiệt.
Khi buộc phải thả nổi và phá giá mạnh đã làm cho chi phí của các
doanh nghiệp tăng lên đáng kể và lợi nhuận bị giảm, do đó mức thu từ thuế
lợi tức của các tổ chức kinh tế cho ngân sách Nhà nước cũng bị ảnh hưởng.
Mặt khác, các khoản chi tiêu cho các cơ quan và tổ chức được Nhà nước
cấp cũng được tăng lên tương ứng với mức mất giá của đồng nội tệ. Tình
hình đó đã tác động đến yếu tố làm tăng bội chi ngân.
Từ năm 1989, cùng với các cải cách kinh tế, tài chính, tiền tệ, Nhà
nước đã bỏ chế độ tỷ giá trước đây (tỷ giá kết toán nội bộ) , giảm căn bản
bù lỗ cho hoạt động xuất - nhập khẩu và thực hiện chính sách giá sát với tỷ
giá thị trường. Ngân hàng nhà nước công bố tỷ giá chính thức của VNĐ với
các ngoại tệ mạnh, nhất là với USD trên cơ sở đó các ngân hàng thương
mại xây dựng và công bố tỷ giá hàng ngày với biên độ chênh lệch cho phép
(khoảng 5%) so với tỷ giá chính thức.
Về mặt ngân sách Nhà nước, chính sách một tỷ giá hối đoái sát với
thị trường khiến cho việc tính toán thu chi Ngân sách Nhà nước phản ánh
trung thực và chính xác hơn, không bị bóp méo. Tỷ giá đó góp phần làm
cho công tác kế hoạch hoá vay nợ và trả nợ nước ngoài từ ngân sách Nhà
nước thuận lợi hơn và có cơ sở vững chắc hơn.
* Mặc dù có những thành công rất đáng kể trong lĩnh vực tỷ giá và
quản lý ngoại tệ, nhưng vẫn còn một số hạn chế đã làm ảnh hưởng không
tốt đến quản lý, điều hành ngân sách, đó là
- Nguồn ngoại tệ không được quản lý chặt chẽ, còn bị buông lỏng đã
khiến cho lực lượng ngoại tệ của Nhà nước tăng chậm và chưa tương xứng
- Tỷ giá giữa Yên và USD (đại bộ phận doanh số vay của các doanh
nghiệp kể trên là vay đồng Yên cuả các công ty Nhật trong khi đó đồng
Yên tăng giá).
- Tỷ giá giữa đồng Việt nam và USD (trong khi đó đồng Việt nam bị
giảm giá).
Sự biến động của tỷ giá cùng các với yếu tố ngoại hối, nhưng nó có ý
nghĩa đặc biệt riêng của nó đối với việc huy động vốn, thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, thu chi ngân sách nhà nước, ổn định kinh tế và xã
hội. Ngược lại, vực nợ nước ngoài nếu không quản lý tốt và không sử dụng
10
có hiệu quả sẽ trở thành gánh năngk đối với nền kinh tế hiện tại và tương
lai, có khi còn ảnh hưởng đến nền độc lập và chủ quyền quốc gia.
Về vay nợ chính phủ phải có quy chế chặt chẽ quy định được vay về
trách nhệm,nghĩa vụ và quyền hạn của các pháp nhân kinh tế và pháp nhân
công quyền trước các khỏan vay và khỏan trả nợ. Hiện nay chúng ta có qui
định Nhà nước vay Nhà nước trả, doanh nghiệp vay doanh nghiệp trả, Nhà
nước không gánh hộ nợ doanh nghiệp.
Thiếu vốn phải vay, nhưng không phải ai cho vay với điều kiện nào
cũng chấp nhận cả. Phải thấy rằng, nếu tỷ giá hối đoái đồng Việt Nam hạ,
đồng ngoại tệ tăng, thì khoản trả nợ của Ngân sách Nhà nước của doanh
nghiệp sẽ phải tăng , nhưng xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ lại có lợi, đó là
một bài toán khó, phải tính xem lợi ích do xuất khẩu mang lại cho phát
triển kinh tế có bù lại được thiệt hại của số tiền Ngân sách Nhà nước và
doanh nghiệp phải trả nợ cao hơn không?
Vì lẽ đó, chúng ta phải tỉnh táo đàm phán với các chủ nợ khi vay,
không thể chấp nhận bất cứ điều kiện nào và không thể không nghĩ đến
việc trả giá, đặc biệt phải chú trọng đến các vấn đề chính trị của các khoản
vay. Phải thấy được rằng các chủ nợ cho vay là để lấy lãi chứ không phải
làm việc nghĩa. Vấn đề là ơe chỗ làm thế nào để giải quyết hài hoà giữa lợi
ích của bên cho vay và bên vay. Việc quảnlý nợ khônghcỉ quy định trách
1.3 Thực trạng tác động cuả tỷ giá đến lãi suất và trái phiếu chính
phủ.
Tỷ giá ngoại hối có liên quan chặt chẽ đến lãi suất và có tác dụng
điều chỉnh lãi suất. Trong nền kinh tế thị trường khi đồng nội tệ mất giá
khối lượng nội tệ cung ứng ngoài thị trường lớn đòi hỏi phải điều chỉnh
tăng lãi suất, trong trường hợp này làm tăng chi ngân sách về thanh toán lãi
suất huy động nội tệ. Khi đồng nội tệ lên giá nhà nước phải điều chỉnh
giảm mức lãi suất, điều này sẽ giảm chi ngân sách về thanh toán lãi suất
huy động nội tệ, nếu không điều chỉnh mức lãi suất thì những nhà sản xuất
kihn doanh sẽ bán ngoại tệ cho ngân hàng lấy nội tệ gửi vào ngân hàng
hoặc mua trái phiếu chính phủ để hưởng lãi suất cao. Điều này sẽ tác động
xấu đến sản xuất-kinh doanh trong khi đó ngân sách phải tiếp tụcthanh toán
lãi suất về huy động tiền gửi. Kinh nghiệm của một số nước châu á (như
Malaixia, Thái lan, Indonexia) cho thấy việc sử lý hài hoà phối hợp điều
hành lãi suất và tỷ giá ngoại hối đã làm cho tỷ giá giữ được biên độ ổn định
và tiền tệ không có biến động mạnh.
Do đồng USD mất giá ở mức cao, nên hiện nay Mỹ đang đẩy mạnh
xu hướng nâng cao lãi suất. Việc làm này sẽ làm tăng lãi suất tiền vay bằng
ngoại tệ USD, và do đó sẽ tác động trực tiếp đến các khoản vay nợ của Việt
nam. Với diễn biến này đòi hỏi chúng ta cần có sách lược chọn đồng tiền
với mức lái suất thích hợp, nhằm đảm bảo cho việc sử dụng vốn vay đạt
hiệu quả.
Tóm lại: từ những vấn đề phân tích trên đây và thực trạng Việt nam
cho thấy, tình hình taì chính quốc gia (đặc biệt là ngân sách nhà nước) và
chế độ ngoại tệ, tỷ giá có quan hệ biện chứng qua lại hết sức chặt chẽ, một
mặt tình hình tài chính (mà biểu hiện tập trung là ngân sách nhà nước) là
một nhân tố hàng đầu quyết định đến sự lựa chọn tỷ giá, phương án điều
chỉnh tỷ giá, mặt khác chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá cũng có ảnh hưởng
hết sức mạnh mẽ, toàn diện đến quản lý. Nền tài chính quốc gia thông qua
12
cân bằng tỷ lệ với các mức giá tương đối giữa một nước với đối tác ngoại
thương của mình, tức là đối với sức mua so sánh giữa các đồng tiền các
quốc gia. Như vậy tỷ giá sức mua so sánh được coi là chỉ số thích hợp cho
cân bằng tỷ giá giưã các đồng tiền với tỷ lệ lạm phát quy định tỷ lệ thay đổi
của tỷ giá danh nghĩa theo thời gian. Việc áp dụng tỷ giá so sánh sức mua
bao gồm việc sử dụng tỷ giá hối đoái hiện hữu để tính mặt bằng giá tương
đối theo các đại lượng tiền tệ thông dụng. Bất cứ sự sai lệch nào của tỷ giá
thực so với giá trị gốc của nó sẽ được coi là dấu hiệu tỷ giá đã đi lệch ra
khỏi giá trị tỷ giá so sánh sức mua cân bằng.
13
Tiếp cận khác, có sức hấp dẫn hơn là định nghĩa tỷ giá hối đoái thực
như là giá so sánh tương đối giữa hàng hoá mậu dịch và hàng hoá không
mậu dịch hoá được, nó đưa ra thước đo các động lực quyết định sự phân
phối nguồn lực giữa hai khu vực trọng yếu này của nền kinh tế: nếu giá nội
địa của hàng hoá thương mại hoa so với hàng hoá không thương mại hoá
được thì nguồn lực sẽ được phân phối lại sang khu vực hàng hoá thương
mại hoá và cán cân ngoại thương sẽ được cải thiện. Theo nghĩa đó, thì điểm
cân bằng của tỷ giá thực sẽ tương ứng với giá so sánh giữa hàng hoá
thương mại hoá và hàng hoá không thương mại hoá đem lại đồng thời sự
cân bằng nội và cân bằng ngoại. Cân bằng nội có nghĩa là thị trường hàng
hoá không thương mại hoá được thanh toán liên tục, cân bằng ngoại có
nghĩa là thâm hụt cán cân vãng lai được tài trợ một cách bền vững từ luồng
vốn nước ngoài vào.
Ngoài chỉ số giá thực tế thì vẫn còn có các vấn đề tiềm tànglên quan
đến biến động chỉ số và sức cạnh tranh với bên ngoài. Một số nghiên cứu
gần đây chỉ ra sự thay đổi chỉ số tỷ giá thực quan được có thể là biểu hiện
của sự thay đổi điểm cân bằng của tỷ giá thực do các loại cơn sốc trong
nước và nước ngoài gây ra (ví dụ: sự tác động cảu chênh lệch mức tăng
năng suất, thay đổi điều kiện ngoại thương, cải cách thuế quan, thay đổi
trong điều hành ngân sách chính phủ, sự tăng lên của lãi suất thực quốc tế)
giảm và tỷ giá thực sẽ tăng. Cũng như vậy, một sự thay đổi cơ cấu thuế sẽ
tác dộng tới tỷ giá thực cân bằng bằng cách gây nên sự dịch chuyển của
hành vi đầu tư-tiết kiệm của nền kinh tế. Về nguyên tắc, nhiều sự kết hợp
của biện pháp ngân sách sẽ cho cùng một kết quả cân banừg ngân sách tổng
thể, nhưng với mỗi sự kết hợp sẽ cho một tỷ giá thực cân bằng. Vì vậy
điểm cân bằng của tỷ giá hối đoái thực không chỉ định do vị thế ngân sách
quy định, mà còn do cơ cấu chi và thu của chính phủ quy định.
Một sự tăng lên lãi xuất quốc tế sẽ tác động đến điểm cân bằng của
tỷ giá hối đoái thực thông qua hai kênh: thứ nhất, dưới chế độ tỷ giá cố
định thì lãi xuất trong nước tăng lên để giữ được mức so sánh với lãi xuất
quốc tế, do đó làm giảm chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm. Một sự cải
thiện cán cân vãng lai như vậy sẽ gây nên việc giảm tỷ giá thực cân bằng.
Thứ hai, phụ thuộc vào việc nước đó là chủ nợ hay con nợ ròng, một sự cải
thiện hoặc xấu đi phản ánh sự thay đổi tương ứng cảu sự thay đổi vị thế
chuyển giao các nhân tố thu nhập, tác động này sẽ thúc đẩy thêm việc giảm
tỷ giá thực cân bằng là không rõ ràng, nếu một nước là con nợ lớn. Tác
động của lãi xuất quốc tế cao hơn cũng phụ thuộc vào phản ứng ngân sách
của chính phủ. Nếu chính phủ làm trung hoà tác động của ngân sách lên sự
thay đổi lãi xuất bằng cách giảm chi tiêu hàng hoá thương mại hoá, thì tỷ
giá thực cân bằng sẽ có xu hướng giảm trong dài hạn. mặt khác, tỷ giá thực
cân bằng sẽ tăng nếu việc trả lãi xuất được tài trợ bằng cách tăng thuế, hoặc
nếu kèm theo việc giảm chi tiêu chính phủ đối với hàng hoá không thương
mại hoá.
Tỷ giá hối đoái thực, sức cạnh tranh quốc tế và lạm phát:
Trong khi tỷ giá thực có thể chênh lệch ra khỏi điểm cân bằng vì một
số các cơn sốc gây nên thì nguyên nhân chủ yếu của viêvj xấu đi sức cạnh
tranh đối với bên ngoài ở hầu hết các nước đang phát triển là tỷ lệ lạm phát
nội địa cao kèm theo việc duy trì chế độ tỷ giá tỷ giá danh nghĩa cố định.
Các tiếp cận để ngăn ngừa sự xấu đi của sức cạnh tranh quốc tế là thực hiện
quy tắc tỷ giá thực.
Chính sách hỗ trợ đối với các biến động của giá thông qua điều chỉnh
tiền tệ và tỷ giá sẽ tác động đến quá trình hình thành tiền lương trong nền
kinh tế. Theo chính sách đó thì người lao động sẽ không quan tâm nhiều
đến tác động lên công ăn việc làm của việc định ra tiền lương danh nghĩa
cao hơn, vì các công ty có đủ khả năngchuyển chi phí tiền lương cao hơn
sang giá cao hơn, vì vậy sự tăng lương sẽ phản ánh đầy đủ trong tiền lương
và tăng giá cả tiếp tục theo đó. Tác động lên tổng sản phẩm của các chính
sách hỗ trợ tài chính và tỷ giá hối đoái sẽ phụ thu vào nguồn gây nên biến
động. Nếu cơn sốt cung thống trị, thì biến động của tổng sản phẩm sẽ tăng
lên do chỉ số hoá đầy đủ tỷ giá hối đoái. Ngược lại, nếu cơn sốt cầu thóng
trị thì các chính sách hỗ trợ sẽ làm ổn định tổng sản phẩm.
16