Tài liệu Đồ án tốt nghiệp Bàn về việc tự học thông qua việc ôn tập chương - Pdf 85

Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
Đồ án tốt nghiệp
Bàn về việc tự học thông qua việc ôn
tập chương

1
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
Mục lục
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN........................................................................................................................5
CƠ SỞ LÝ LUẬN...................................................................................................................................5
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỰC TRẠNG DẠY TỰ HỌC VÀ TỰ HỌC ÔN TẬP CHƯƠNG Ở TRƯỜNG
THPT...............................................................................................................................................................22
2.1. Một số lưu ý khi dạy học ôn tập chương..................................................................................25
2.2. Đề xuất và nội dung phương pháp............................................................................................28
2.2. Thiết kế một số bài dạy ôn tập chương....................................................................................30
MỤC TIÊU.........................................................................................................................................30
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC..................................................................................31
NỘI DUNG ĐỀ TÀI VÀ CÁC PHIẾU HỌC TẬP.....................................................................................31
2
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
Mở Đầu
Lý do chọn đề tài:
Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin mà ở đó khối lượng tri
thức của loài người tăng lên với tốc độ cực kỳ nhanh chóng. Người ta tính được
sau 10 năm thì lượng tri thức tăng lên gấp đôi. Đứng trước thực tế này, GD nhà
trường đã có những thay đổi căn bản: từ quan niệm học tập chỉ trong một thời gian
nhất định bằng quan niệm: “học thường xuyên, học liên tục, học suốt đời”. Để có
thể học tập suốt đời đạt hiệu quả, đương nhiên mỗi người phải lựa chọn cho mình
một cách phù hợp nhất, lấy tự học làm nền tảng.
Việt nam đang bước vào giai đoạn CNH – HĐH với mục tiêu đến năm 2020

cuộc sống, vì thế có hiểu biết linh hoạt và thực tế hơn so với thế hệ cùng lứa tuổi
cách đây vài chục năm. Trong học tập, các em không thỏa mãn với vai trò của
người tiếp thụ thông tin thụ động, không dừng lại ở việc tiếp nhận các giải pháp
được đưa ra. Các em mong muốn được thể hiện trong quá trình phù hợp. Đó là
quá trình lĩnh hội một cách độc lập các tri thức và phát triển kỹ năng. Tuy các
phương thức học tập tự lực ở các em nếu muốn được hình thành một cách có chủ
định thì cần phải có sự hướng dẫn, đặc biệt là ở lứa tuổi nhỏ các em chưa biết tổ
chức các hoạt động trí tuệ cho mình, chưa nắm được một số thủ pháp tư duy, ghi
nhớ, tập trung chú ý, … đối với tài liệu học tập.
Vì vậy nhiệm vụ của nhà trường phổ thông trong khi tiến hành đổi mới
PPDH là phải theo hướng phát huy tích cực, độc lập sáng tạo của người học; giúp
người học tự tìm tòi, tự khám phá và suy nghĩ trong quá trình học tập. Trên cơ sở
đó mà học tập suốt đời.
Chương trình SGK hiện nay đã góp phần thực hiện giáo dục toàn diện đức,
trí, thể, mĩ bảo đảm tính hệ thống sự liên tục giữa các cấp học, liên thông giữa
giáo dục phổ thông với giáo dục chuyên nghiệp…. Những hạn chế là: “chưa trực
tiếp giúp đỡ giáo viên và học sinh chuyển từ cách dạy học thụ động áp đặt, chủ
yếu là đối phó với thi cử sang cách dạy học tích cực, chủ động để phát triển năng
lực sáng tạo và phương pháp tự học của học sinh.
4
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
Vì vậy chúng tôi lựa chọn đề tài: “Bàn về việc tự học thông qua việc ôn tập
chương” làm đề tài nghiên cứu, với mong muốn được góp phần nhỏ bé vào quá
trình đổi mới PPDH ở trường THPT hiện nay, bằng cách tìm hiểu xây dựng cách
ôn tập chương và một số tiết ôn tập.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CƠ SỞ LÝ LUẬN
a. Lịch sử nghiên cứu vấn đề tự học:
a.1. Vấn đề tự học ở nước ngoài:

khẳng định vai trò của người học trong quá trình dạy học, song bên cạnh đó cũng
khẳng định vai trò rất quan trọng của người thầy và các PP, phương tiện dạy học.
Khái niệm người học trong giai đoạn này cũng không còn được quan
niệm cá thể hóa cực đoan như trước đây, tuy nó vẫn được chú ý. Theo J.Dewey: “
học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục”. Tư tưởng
“lấy học sinh làm trung tâm” đã được cụ thể hóa thành nhiều phương pháp cụ thể
6
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
như: “PP hợp tác” (cooperative methods), “PP tích cực” (active methods), “PP cá
thể hóa”, “ PP nêu vấn đề”, … trong đó “PP tích cực” được nghiên cứu triển khai
rộng hơn cả. Theo phương pháp này, giáo viên đóng vai trò gợi sự chú ý kích
thích, thúc đẩy học sinh tự hoạt động. Vì thế, người học đóng vai trò trung tâm
của quá trình dạy học, còn người dạy là chuyên gia của việc học. Nhìn chung tư
tưởng “lấy học sinh là trung tâm trong quá trình dạy học nói riêng và GD nói
chung đòi hỏi có sự phối hợp của nhiều phương pháp, trong đó “PP tích cực” là
chủ đạo mang tính nguyên tắc. Đây chính là cơ sở để đưa ra những biện pháp bồi
dưỡng NLTH cho học sinh.
Đồng tình với quan điểm trên, các nhà GD Xô Viết đã khẳng định vai trò
tiềm năng to lớn của HĐTH trong GD nhà trường. Đặc biệt, nhiều tác giả còn
nghiên cứu sâu sắc cách thức nhằm nâng cao hiệu quả HĐTH của người học ,
trong đó nêu lên những biện pháp tổ chức hoạt động độc lập nhận thức của học
sinh trong quá trình dạy học.
a.2. Vấn đề tự học ở Việt Nam:
Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ lâu. Ngay từ thời kỳ phong
kiến, GD chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất. Những
nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những ông đồ tài giỏi dạy dỗ, thì yếu tố quyết
định đều là tự học của bản thân. Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc tự
học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài. Nhưng nhìn chung, lối GD còn
rất hạn chế “người học tìm thấy sự bắt chước, đúng mà không cần độc đáo, người
học học thuộc lòng …”[9].

nhân hóa việc học của trò phải kết hợp với việc dạy của thầy và quá trình hợp tác
của bạn trong cộng đồng lớp học, tức là quá trình xã hội hóa việc học.
a.3. Nhận xét từ những nghiên cứu về vấn đề tự học:
Tự học có vai trò ý nghĩa rất lớn, không chỉ trong GD nhà trường mà cả
trong cuộc sống. Trong nhà trường bản chất của sự học là tự học, cốt lõi của dạy
học là dạy việc học, kết quả của người học tỉ lệ thuận với NLTH của người học.
Ngoài việc nâng cao kết quả học tập, tự học còn tạo điều kiện hình thành
và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó
tạo điều kiện và cơ hội học tập suốt đời.
8
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
Tự học là nhu cầu, một năng lực cần có của mọi người trong thời đại
ngày nay, do đó mục tiêu quan trọng nhất của nhà trường không phải trang bị cho
người học tri thức mà là PPTH.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tự học. Tuy nhiên các
công trình này hoặc mang tính chất tổng hợp các kết quả nghiên cứu về tự học
hoặc nêu định hướng chung. Chưa có công trình nào nghiên cứu tỉ mỉ về vấn đề
phát triển NLTH thông qua việc tự tổng kết chương học. Nhất là đưa ra quy trình
ôn tập cụ thể cho mỗi chương học.
b. Những cơ sở khoa học của dạy học tự học:
b.1. Cơ sở triết học:
Theo triết học duy vật biện chứng, mâu thuẫn là động lực thúc đẩy quá trình
phát triển. Mâu thuẫn trong học tập nảy sinh giữa yêu cầu nhận thức với tri thức,
kỹ năng còn hạn chế của người học.
b.2. Cơ sở tâm lý:
Theo các nhà tâm lý học, chỉ tư duy tích cực khi có nhu cầu hoạt động, chỉ
có kết quả cao khi chủ thể ham thích tự giác và tích cực. Thực tế cho thấy nếu
học sinh chỉ học một cách thụ động được nhồi nhét kiến thức, không có thói quen
suy nghĩ một cách sâu sắc thì kiến thức nhanh chóng bị lãng quên.
“Nhu cầu giáo dục nảy sinh theo từng giai đoạn phát triển của cá nhân. Trẻ

cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc
học của mình”.
Nguyễn Cảnh Toàn [1] cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử
dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người
học, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức
nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình”.
Theo Nguyễn Kỳ [2] cho rằng: “Tự học là đặt mình vào tình huống học, vào
vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra:
nhận biết vấn đề xử lý thông tin, tái hiện kiến thức, xây dựng các giải pháp giải
quyết vấn đề, xử lý tình huống…”.
Tóm lại, tổng hợp các quan niệm về tự học của các tác giả có thể đưa ra
khái niệm về tự học như sau: “Tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng các
khả năng trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (sử
dụng các công cụ thực hành), cùng các phẩm chất của cá nhân như: động cơ, tình
cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, không ngại khó, có ý trí, kiên trì,
10
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ...) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó
của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của riêng mình”.
d. Một số hình thức tự học:
Trong quá trình tự học ở THPT, học sinh có thể hình thành hoạt động tự
học dưới nhiều hình thức khác nhau, trong những điều kiện khác nhau.
Một là, hoạt động tự học (HĐTH) của học sinh diễn ra nhằm đáp ứng nhu
cầu hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng tri thức ngoài chương trình đào tạo ở
trường không có sự điều khiển của người giáo viên. Người học tự đọc tài liệu, tự
suy nghĩ rút ra kinh nghiệm. Đó là tự học ở mức độ cao.
Hai là, HĐTH cũng có thể diễn ra do nhu cầu của giáo viên, nhưng không
có sự điều khiển trực tiếp của giáo viên. Ở đây, học sinh phải tự sắp xếp quỹ thời
gian và điều kiện vật chất để có thể tự ôn tập, củng cố tự đào sâu những tri thức
hoặc tự hình thành những kỹ năng kỹ xảo ở một lĩnh vực nào đó theo yêu cầu của

quát hóa,…tự tìm ra tri thức kỹ năng kỹ xảo mà thầy đã định hướng cho hoạt
động này.
e. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển NLTH toán
của học sinh
Qua tổng hợp các nghiên cứu của các nhà khoa học, chúng tôi cho rằng sự
hình thành và phát triển NLTH của học sinh THPT chịu ảnh hưởng của các yếu tố
sau đây:
e.1. Ảnh hưởng của ý thức học tập và động cơ nhận thức của bản thân học
sinh:
Ý thức học tập và động cơ nhận thức có ý nghĩa quyết định trong quá trình
hình thành và phát triển NLTH của học sinh. Vì xét cho cùng chất lượng học tập
12
THẦY
TR
Ò
TRI
THỨC
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
phải là kết quả trực tiếp của sự nỗ lực của chính bản thân người học. Nếu người
học không xác định được vai trò quyết định của mình trong sự thành bại của sự
học, thì không bao giờ tự học thành công.Chỉ khi đã xác định được mục đích và
động cơ học tập đúng đắn. Học sinh mới có thể phát huy được “nội lực” trong học
tập, từ đó kết hợp các yếu tố “ngoại lực” khác để tổ chức các hoạt động học tập
diễn ra một cách hợp lý và thu được kết quả cao.
e.2. Ảnh hưởng của vốn tri thức hiện có của bản thân học sinh:
Toán học là một khoa học chứng minh, những tri thức sau được xây dựng
trên những cơ sở của kiến thức kết quả có trước. Không thể học tập toán có kết
quả nếu không có các tri thức toán học đã có.
Để chiếm lĩnh các tri thức khoa học toán học, người học cũng như người
trèo thang không qua nấc thang thấp thì không thể tiến lên nấc cao hơn. Để tự học

sinh.
Hoạt động kiểm tra đánh giá của thầy ảnh hưởng đến hoạt động tự kiểm tra
đánh giá của trò. Thật vậy, trong quá trình tự tìm ra kiến thức, người học tự tạo ra
một sản phẩm ban đầu, có thể chưa chính xác, chưa khoa học. Nhưng thông qua
trao đổi với bạn bè và kiểm tra kết luận của thầy , người học tự kiểm tra để sửa sai
hoặc hoàn thiện sản phẩm của mình. Nếu quá trình này diễn ra thường xuyên sẽ
hình thành năng lực tự kiểm tra đánh giá của học sinh, làm cho NLTH ngày càng
phát triển.
Qua hoạt động dạy học, người thầy còn hướng dẫn học sinh đọc SGK và tài
liệu tham khảo làm cho năng lực tự đọc, tự nghiên cứu của học sinh ngày càng
được hình thành và phát triển. Đây cũng là con đường quan trọng để người học
tiếp thu tri thức, để người học có thể tự học suốt đời.
e.5. Ảnh hưởng của phương pháp học tập của trò:
Nhà sinh lý học người Pháp Penna từng nói: “phương pháp học tốt giúp ta
phát huy được tài năng vốn có; phương pháp học dở sẽ cản trở tài năng phát
triển”. Như vậy phương pháp học tập có vai trò rất quan trọng để người đó có thể
thành công trong học tập.
Mỗi người có một phương pháp làm việc riêng, thói quen hoạt động trí óc
riêng không ai giống ai. Theo A.D.LaGarandrie thì mỗi người có thể có những
thói quen sau:
14
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
 Thói quen gợi lại những cái cụ thể đã gặp trong cuộc sống hàng
ngày .
 Thói quen ghi nhớ máy móc.
 Thói quen suy luận logic.
 Thói quen tưởng tượng sáng tạo.
Trong quá trình dạy học người giáo viên không nên ép buộc học sinh phải
suy nghĩ theo thói quen suy nghĩ của mình. Mặt khác cần chú ý bồi dưỡng phát
triển các thói quen chưa có cũng như còn yếu của các em, từ đó cũng ghóp phần

f.1. Kỹ năng nghe giảng và ghi chép bài giảng hợp lý:
Nghe giảng và ghi chép là ngững kỹ năng quan trọng của học sinh trong
quá trình học tập nói chung và nhất là trong học toán nói riêng. Kết quả của việc
nghe giảng và ghi chép ngoài việc thể hiện năng lực nhận thức, tư duy của người
học còn thể hiện ở kỹ năng tự học của người đó. Để rèn luyện kỹ năng nghe giảng
và ghi chép hợp lí cho học sinh. Người giáo viên cần hướng dẫn học sinh:
 Cách kết hợp giữa việc vừa nghe giảng vừa nghi chép.
 Nghe giảng với thái độ độc lập và có phê phán; ghi chép hoặc thắc
mắc những chỗ còn hoài nghi hoặc chưa hiểu để hỏi bạn và thầy.
 Nghe giảng đồng thời phải tư duy tích cực, khẩn trương: Liên hệ
những kiến thức đang nghe với kiến thức đã học để tìm ra mối liên
hệ.
 Ghi chép bài giảng theo ý hiểu của mình, có thể dùng các ký hiệu
toán học hoặc chữ viết tắt để tiết kiệm thời gian ghi chép dành thời
gian cho việc nghe giảng.
f.2. Kỹ năng đặt câu hỏi trong tự học toán:
Trong học tập thì hỏi là thao tác thường xuyên diễn ra. Khi dạy học, giáo
viên phải giúp học sinh biết cách tự hình thành câu hỏi trong óc, yêu cầu học sinh
phải tự mình suy nghĩ, động não để tự tìm câu trả lời cho câu hỏi đó. Trong quá
trình suy nghĩ để tìm câu trả lời, có thể vấn đề cần hỏi đó được giải quyết ngay,
nhưng cũng có thể chưa giải quyết ngay được, lúc này học sinh cần tiếp tục suy
nghĩ, đến khi bản thân cảm thấy không trả lời được thì hỏi bạn hỏi thầy. Trong lúc
nghe thầy hoặc bạn trình bày, người học vẫn phải giữ vai trò chủ thể tích cực, chủ
động để có thể tìm ra cho mình câu trả lời thỏa đáng nhất.
f.3. Kỹ năng ghi nhớ các tri thức toán học:
16

Trích đoạn Thiết kế một số bài dạy ôn tập chương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status