Tài liệu Tiểu luận triết P91 - Pdf 86

Tiểu luận Triết học
SV: Trần Trung Dũng - Lớp 32A
lời mở đầu
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo
thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng.
Ngày nay, triết học là một bộ phậ
n không thể tách rời với sự phát triển
của bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức
và thực tiễn, phương pháp biện chứng... luôn là cơ sở, là phương hướng, là
tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát
từ một lập trường triết học đúng đắn, con người có thể có được nh
ững cách
giải quyết phù hợp với các vấn dề do cuộc sống đặt ra. Việc chấp nhận hay
không chấp nhận một lập trường triết học nào đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự
chấp nhận một thế giới quan nhất định, một cách lý giải nhất định về thế giới,
mà còn là sự chấp nhận một cơ sở phương pháp luận nhấ
t định chỉ đạo cho
hoạt động.
Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ
nghĩa Mác. Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là
triết học của chủ nghĩa Mác. Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính
ưu việt hơn cả. Trên cơ sở nền tảng triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước
ta đã họ
c tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương
hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp
với hoàn cảnh đất nước. Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi
song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế,
từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu v
ực và thế

- Chân lý còn có tính tuyệt đối và tính tương đối, tính cụ thể. Chân lý
còn là một quá trình vì nhận th
ức của con người là một quá trình.
c) Nhận thức:
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Nhận thức là quá trình
phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào
trong đầu óc của con người trên cơ sở thực tiễn.
- Được dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
+ Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập đối vớ
i ý thức
con người.
Tiểu luận Triết học
SV: Trần Trung Dũng - Lớp 32A
+ Thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người, coi nhận
thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là hoạt
động tìm hiểu khách thể của chủ thể.
+ Khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng tích cực, tự
giác và sáng tạo. Quá trình đó diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ hiện
tượng
đến bản chất, từ biết ít đến biết nhiều, từ kém sâu sắc đến sâu sắc hơn.
+ Coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động
lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
2. Quá trình nhận thức
- Nhận thức là một quá trình biện chứng diễn rất phức tạp, bao gồm
nhiều giai
đoạn, trình độ, vòng khâu và hình thức khác nhau.
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi nhận thức không phải là sự phản
ánh giản đơn, thụ động, mà là một quá trình gắn liền với hoạt động thực tiễn.
Quá trình đó đã được Lênin chỉ ra như sau: "Từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện

c tiếp trước chủ
thể. Con người không cần quan sát trực tiếp sự vật mà vẫn hình dung ra chúng
dựa trên sự tiếp xúc nhiều lần trước đó. Do đó, ở biểu tượng nhận thức đã
chứa đựng những yếu tố gián tiếp. Biểu tượng là khâu trung gian giữa trực
quan sinh động và tư duy trừu tượng.
Như vậy: cảm giác, tri giác và biểu tượng là những giai đoạn kế
tiếp
nhau của hình thức nhận thức cảm tính. Trong nhận thức cảm tính đã tồn tại
cả cái bản chất lẫn không bản chất, cả cái tất yếu và ngẫu nhiên, cả cái bên
trong lẫn bên ngoài sự vật. Nhưng ở đây, con người chưa phân biệt được cái
gì là bản chất với không bản chất, đâu là tất yếu với ngẫu nhiên, đâu là cái bên
trong với bên ngoài. Yêu cầu của nhậ
n thức đòi hỏi phải tách ra và nắm lấy
cái bản chất, tất yếu, bên trong, chỉ có chúng mới có vai trò quan trọng cho
hoạt động thực tiễ và nhận thức của con người nên nhận thức sẽ vượt lên một
trình độ mới, cao hơn về chất, đó là trình độ nhận thức lý tính hay là giai đoạn
tư duy trừu tượng.
- Tư duy trừu tượng hay là nhận thức lý tính, là giai đoạn phả
n ánh gián
tiếp, trừu tượng và khái quát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của
đối tượng. Đây là giai đoạn nhận thức thực hiện chức năng quan trọng nhất là
tách ra và nắm lấy cái bản chất có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng. Vì
vậy, nó đạt đến trình độ phản ánh sâu sắc hơn, chính xác hơn và đầy đủ hơn
Tiểu luận Triết học
SV: Trần Trung Dũng - Lớp 32A
cái bản chất của đối tượng, là giai đoạn cao của quá trình nhận thức khái
niệm, phán đoán, suy lý.
+ Khái niệm: là hình thức cơ bản nhất của tư duy trừu tượng, nó phản
ánh, khái quát những đặc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của một lớp các sự
vật, hiện tượng nhất định (đó chính là những đặc tính bản chất của sự vật).

SV: Trần Trung Dũng - Lớp 32A
thức cảm tính là giai đoạn thấp, phản ánh khách thể một cách trực tiếp đem lại
những tri thức về bản chất và quy luật của khách thể.
b) Từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn
- Nhận thức phải trở về thực tiễn để kiểm tra, khẳng định, kiểm nghiệm
là tri thức đúng hay sai lầm, tri thức ấy có chân thực không.
- Quay trở về
thực tiễn, nhận thức hoàn thành một chu trình biện chứng
của nó. Trên cơ sở hoạt động thực tiễn mới một chu trình nhận thức tiếp theo
lại bắt đầu và cứ như thế mãi mãi.
- Xét trong toàn bộ nhận thức của con người về thế giới, thực tiễn là yếu
tố không thể thiểu được của quá trình nắm bắt chân lý - là vòng khâu "chuyển
hoá" kết quả nhận thứ
c thành chân lý khách quan.
3. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
a) Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất của chân lý.
Nhờ có thực tiễn, chúng ta phân biệt được chân lý và sai lầm, tức thực
tiễn đóng vai trò là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
- Thực tiễn là hoạt động vật chất có tính tất yếu khách quan, diễn ra độc
lập đối với nhận thức, nó luôn luôn vận động, và phát triển trong lịch sử. Nhờ
đó là mà thúc đẩy nhận thức cùng v
ận động, phát triển. Mọi sự biến đổi của
nhận thức suy cho cùng không thể vượt ra ngoài sự kiểm tra của thực tiễn. Nó
thường xuyên chịu sự kiểm nghiệm trực tiếp của thực tiễn.
- Chính thực tiễn có vai trò làm tiêu chuẩn, thước đo giá trị của những
tri thức đã đạt được trong nhận thức. Đồng thời nó bổ sung, chỉnh sửa, điều
ch
ỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức. C.Mác đã viết "vấn đề
tìm hiểu tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không,
hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính

p được
với hiện thực khách quan còn tri thức sai, sai lầm thì không thể phù hợp với
hiện thực khách quan được.
b) Chân lý có tính cụ thể, có đặc tính gắn liền và phù hợp giữa nội
dung phản ánh với một đối tượng nhất định cùng các điều kiện, hoàn cảnh
lịch sử cụ thể. Thực tiễn lại có "tính phổ biến" và là "hiện thực trực tiếp" nhờ
đó thực tiễ
n có thể "vật chất hoá" được tri thức, biến tri thức thành các khách
thể vật chất có tính xác thực cảm tính.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status