Tài liệu Xét nghiệm nước tiểu - Pdf 86

Xét nghiệm nước tiểu
1. Các phương pháp lấy bệnh phẩm.
Lấy bệnh phẩm là yếu tố rất quan trọng để chẩn đoán xác định bệnh thận. Yêu cầu phải
tuân thủ đúng phương pháp mới cho kết quả chính xác. Bao gồm các cách lấy bệnh
phẩm như sau:
1.1. Lấy nước tiểu 24 giờ:
Lấy toàn bộ số lượng nước tiểu trong một ngày đêm (đủ 24 giờ).
+ Chỉ định:
- Định lượng protein niệu 24h, glucose niệu/24h.
- Creatinin niệu/24h để tính mức lọc cầu thận.
- Quản lý chế độ ăn, uống nước của một số bệnh lý (cần dựa vào số lượng nước tiểu
24h) để cho lượng nước vào cho phù hợp.
+ Cách tiến hành:
- Tối hôm trước tắm rửa, vệ sinh sạch bộ phận sinh dục-tiết niệu, chuẩn bị bô có nắp
đậy đựng nước tiểu, bô được rửa sạch, tráng 5ml dung dịch HCl đậm đặc để sát khuẩn.
6 giờ sáng bệnh nhân đái bỏ đi, và bắt đầu ghi thời gian. Lưu ý lượng nước uống trong
ngày: nếu có phù thì lượng nước uống bằng số lượng nước tiểu trong 24h + 500ml do
nước mất qua da và hơi thở, nếu không phù thì uống khoảng 2 lít/ngày.
- Sau đó cả ngày và đêm nước tiểu được đựng vào bô, kể cả lượng nước tiểu lúc đại
tiện cũng phải gom cho vào.
- 6 giờ sáng hôm sau đi tiểu lần cuối cùng vào bô.
Đo số lượng nước tiểu trong bô (thể tích nước tiểu 24h), ghi vào giấy xét nghiệm và
bệnh án. Lấy 10ml mang tới labô xét nghiệm.
1.2. Lấy nước tiểu giữa dòng:
+ Chỉ định: Cấy tìm vi khuẩn niệu, kháng sinh đồ.
+ Tiến hành:
- Tối hôm trước cho bệnh nhân tắm rửa và vệ sinh sạch bộ phận sinh dục-tiết niệu bằng
xà phòng.
- Sáng hôm sau (ngày làm xét nghiệm) cho bệnh nhân vệ sinh lại bộ phận sinh dục-tiết
niệu.
- Cần có vị trí sạch và thuận tiện cho việc lấy nước tiểu của bệnh nhân.

thông đi vào bàng quang có thể đẩy vi khuẩn từ đó vào bàng quang, chờ khi bàng
quang có đủ nước tiểu thì tiến hành thủ thuật:
. Tư thế bệnh nhân: nằm trên bàn soi hoặc trên giường.
. Khử khuẩn bộ phận sinh dục-tiết niệu bằng thuốc sát khuẩn không gây đau rát như:
nước muối ưu trương, betadin.
. Cho bệnh nhân đái bỏ đi (vào bô) một ít nước tiểu rồi ngừng đái và đặt ống thông vô
khuẩn vào bàng quang, bỏ đi một ít nước tiểu đầu, rồi hứng vào 2 ống nghiệm vô
khuẩn, mỗi ống 5-10ml nước tiểu gửi đi xét nghiệm.
Trường hợp có chỉ định soi bàng quang thì phải kết hợp lấy nước tiểu xét nghiệm ngay
trước khi đặt ống soi vào bàng quang.
1.5. Lấy nước tiểu qua chọc hút bàng quang:
+ Chỉ định: Cấy tìm vi khuẩn niệu, kháng sinh đồ, nhất là đối với trẻ em.
+ Tiến hành:
- Chuẩn bị bệnh nhân: giải thích cho bệnh nhân, vệ sinh sạch và cạo lông vùng bụng
dưới trên xương mu như trước phẫu thuật. Buổi sáng, cho bệnh nhân uống 300ml
nước, chờ bàng quang căng đầy sẽ tiến hành chọc hút.
- Chuẩn bị phương tiện:
. Săng có lỗ, gạc, bông vô khuẩn, găng vô khuẩn, băng dính.
. Kim chọc hút nước tiểu (kiểu kim chọc tủy sống lấy nước não tủy).
. Bơm kim tiêm và thuốc gây tê novocain 1%.
- Thao tác chọc hút:
. Tư thế bệnh nhân nằm ngửa trên bàn soi hoặc trên giường sạch, 2 chân co.
. Xác định cầu bàng quang, gây tê.
. Vị trí chọc: trên đường trắng giữa, trên xương mu 1cm.
. Chọc kim thẳng đứng qua da, tổ chức dưới da rồi qua thành bàng quang (dặn bệnh
nhân nhịn đái). Khi kim đã qua thành bàng quang thì vừa chọc vừa hút (cần bỏ 5ml
nước tiểu đầu để loại bỏ hồng cầu ở kim chọc khi qua thành bụng và bàng quang).
- Hút 10ml nước tiểu cho vào ống nghiệm vô khuẩn gửi đi cấy vi khuẩn, làm kháng sinh
đồ.
- Hút 10 ml nước tiểu cho vào ống nghiệm vô khuẩn khác để soi tươi và nhuộm Gram.

. Có tủa đặc: (++++).
+ Các yếu tố có thể gây sai kết quả:
- Cách lấy nước tiểu không đúng phương pháp có thể có dịch ở phần phụ lẫn vào nước
tiểu cũng có thể có protein.
- Nước tiểu có máu của người đang có kinh.
Ngoài ra còn có các phương pháp khác để định tính protein niệu như: đốt nước tiểu
trong ống nghiệm, vắt nước cốt chanh vào ống nước tiểu, dùng giấy thử nhúng vào
nước tiểu, nhưng cho kết quả không chính xác bằng dùng axit sulfosalisilic 3%.
2.1.2. Định lượng protein niệu 24 giờ:
+ Tiến hành:
- Gom nước tiểu chính xác trong 24h.
- Lắc đều, đo số lượng nước tiểu ghi vào giấy xét nghiệm.
- Lấy 10ml nước tiểu gửi tới khoa sinh hoá.
Kết quả sẽ cho protein niệu 24h hoặc có thể cho protein niệu trong một phút, gồm các
phương pháp:
. Định lượng protein niệu bằng phương pháp đo độ đục: được dùng là máy quang phổ
kế có bước sóng 600nm (nanomet). Máy đo trược tiếp độ đục của nước tiểu khi có
protein niệu.
. Định lượng protein niệu bằng phương pháp đo màu:
Được dựa trên nguyên lý: protein cho cùng với đỏpyrogallol/molybdate sẽ tạo nên phức
hợp màu đỏ. Màu đỏ này tỷ lệ thuận với protein và được máy quang phổ kế đo trực tiếp.
Phương pháp này chỉ đo được lượng protein niệu từ > 300mg/lít (30mg/dl) nên cũng
hạn chế (vì không biết > 300mg/lít là bao nhiêu và < 300mg/lít thì máy lại không phát
hiện được).
Như vậy 2 phương pháp trên chỉ xác định được macroalbumin niệu mà thôi, không phát
hiện được microalbumin niệu.
Định lượng microalbumin niệu được sử dụng bằng các phương pháp: kỹ thuật miễn
dịch phóng xạ (RIA: radio immuno assay); phương pháp miễn dịch enzym trong dung
dịch hoặc trên băng thử.
+ Trong lâm sàng dựa vào protein niệu/24h để chẩn đoán xác định một số bệnh thận.

+ Đái ra hồng cầu vi thể:
- Soi tươi: 3 hồng cầu/vi trường (++).
5 hồng cầu/vi trường (+++).
- Cặn Addis ³ 1000 hồng cầu/phút.
+ Đái máu đại thể: đái máu với số lượng nhiều, mắt thường nhìn thấy nước tiểu có màu
hồng như nước rửa thịt cho đến màu đỏ, để lâu hồng cầu sẽ lắng xuống. Lượng máu tối
thiểu bắt đầu làm thay đổi màu sắc nước tiểu vào khoảng 1 ml máu trong 1 lít nước tiểu.
Soi tươi thấy hồng cầu dày đặc vi trường.
Có thể làm nghiệm pháp 3 cốc để chẩn đoán vị trí chảy máu. Cách làm: cho bệnh nhân
đái một bãi chia làm 3 phần lần lượt vào 3 cốc thuỷ tinh. Nếu lượng máu nhiều nhất ở
cốc đầu tiên thì thường là chảy máu ở niệu đạo; lượng máu nhiều nhất ở cốc thứ 3
thường chảy máu ở bàng quang; lượng máu tương đương ở cả 3 cốc thường chảy máu
ở thận hoặc niệu quản. Tuy nhiên, liệu pháp này chỉ có tính chất tương đối. Muốn xác
định chính xác thì cần phải có nhiều xét nghiệm khác.
Trong lâm sàng, đái ra hồng cầu gặp trong các bệnh viêm cầu thận, lao thận và sỏi tiết
niệu (sỏi đài-bể thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang), viêm bàng quang, ung thư bàng
quang; có thể do các bệnh toàn thân (bệnh hệ thống tạo máu, rối loạn quá trình đông
máu). Khoảng 1% các trường hợp đái ra máu không tìm thấy nguyên nhân.
+ Đái ra bạch cầu:
- Soi tươi:
Đái ra BC khi: 3 - 5 BC/vi trường (+)
> 5 BC/vi trường (++)
> 10 BC/vi trường (+++)
> 20 BC/vi trường (++++).
- Cặn Addis > 2000 BC/phút.
Trong lâm sàng khi BC (+++) hoặc (++++) là có nhiễm khuẩn tiết niệu. Nếu có trụ BC
càng chắc chắn lầ viêm đường tiết niệu. > 30 BC/vi trường (BC dày đặc vi trường) và có
nhiều BC thoái hoá: được gọi là đái ra mủ. Trong các trường hợp này, nước tiểu nhìn
bằng mắt thường có nhiều vẩn đục gặp trong viêm thận-bể thận cấp và mãn.
+ Đái ra trụ hình: trụ hình là các cấu trúc hình trụ có trong nước tiểu. Bản chất của trụ là

phương pháp mới cho kết quả có giá trị. Có 3 cách lấy nước tiểu (đã được trình bày ở
phần 1.1).
2.3.2. Các phương pháp và đánh giá kết quả:
+ Soi tươi: Ly tâm mẫu nước tiểu 2000 vòng/phút trong 5’, rồi gạn lấy 1 giọt soi trên kính
hiển vi với vật kính 40 X.
Nếu có > 20 vi khuẩn/vi trường thì có khả năng nhiễm khuẩn tiết niệu.
+ Nhuộm Gram: để phân lập các loại vi khuẩn gây bệnh do trực khuẩn Gram (-)
hoặc cầu khuẩn Gram (+).
+ Cấy nước tiểu:
Nước tiểu lấy vào buổi sáng, giữa dòng:
. Số lượng vi khuẩn > 10
5
vi khuẩn/ml: nhiễm khuẩn tiết niệu rõ.
. Số lượng vi khuẩn > 10
4
- 10
5
vi khuẩn/ml: nghi ngờ nhiễm khuẩn tiết niệu.
. Số lượng vi khuẩn > 10
4
vi khuẩn/ml: cần theo dõi, có thể do lây lan vi khuẩn từ cơ
quan lân cận tới đường tiết niệu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status