Sinh Viên: Trần Hướng Dương Trường ĐH Hùng Vuơng TP.HCM
Mssv:854011349 Khoa: QTKD
Môn:Tư Tưởng Hồ Chí Minh Lớp:08qk2
BÀI THU HOẠCH
Đi tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh
I/Trình bày khái quát các sự kiện trong thời kỳ tìm đường cứu nước 1911-1920 của
Nguyễn Ái Quốc(Hồ Chí Minh):
Sau khi rời trường Dục Thanh ở Phan Thiết, thầy giáo Nguyễn Tất Thành xin vào
học trường Bách nghệ chuyên đào tạo công nhân tại Sài Gòn. Ngày 5/6/1911, với cái tên
anh Ba, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã
xuống tàu Admiral Latouche Tréville tại Bến Nhà Rồng xin
làm chân đầu bếp, để có điều kiện sang châu Âu và bôn ba
khắp thế giới tìm đường cứu nước.Từ bến cảng Nhà Rồng,
thành phố Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh), Bác rời
Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước chỉ với hai bàn tay trắng
nhưng với một quyết tâm sắt đá, một tình yêu nước thiết
tha, và sự nhiệt tình cháy bỏng hành trang của Bác cũng thật
nặng trĩu.
Theo hành trình của tàu, Nguyễn Tất Thành đã dừng
chân ở cảng Mácxây, cảng Lơ Havơrơ của Pháp. Những
ngày đầu tiên trên đất Pháp, được chứng kiến ở Pháp cũng
có những người nghèo như ở Việt Nam. Bác thấy được
nhiều điều như có những người Pháp trên đất Pháp tốt và
lịch sự hơn những tên thực dân Pháp ở Đông Dương.
Không dừng lại ở Pháp, năm 1912 Bác làm thuê cho một chiếc tàu của hãng Sácgiơ
Rêuyni đi vòng quanh châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng của một số nước như
Tây Ban Nha, BồĐào Nha, Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Xênêgan, Rêuyniông…
Đến đâu Bác cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã man,
vô nhân đạo của bọn thống trị.
Bác theo con tàu tiếp tục đi qua Máctiních (Trung Mỹ), Urugoay và Áchentina
(Nam Mỹ) và dừng lại ở nước Mỹ cuối năm 1912. Tại đây,Bác có dịp tìm hiểu cuộc đấu
Hội nghị hoà bình Pari, nhưng thực chất đó là nơi chia phần giữa các nước đế quốc thắng
trận và trút hậu quả chiến tranh lên đầu nhân dân các nước thua trận và các dân tộc bị áp
bức. Văn kiện chính của hội nghị là Hiệp ước Vécxây xác định sự thất bại của nước Đức và
các nước Đồng minh của Đức, phân chia lại bản đồ thế giới theo hướng có lợi cho các đế
quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam
tại Pháp,Bác cùng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường thảo ra bản Yêu sách của nhân dân
An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây. Dưới bản Yêu sách Bác ký tên: Nguyễn Ái Quốc.
Đây là lần đầu tiên tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Nguyễn Ái Quốc tới lâu đài
Vécxây gửi bản Yêu sách cho văn phòng Hội nghị, sau đó lần lượt gửi bản Yêu sách đến
các đoàn đại biểu các nước Đồng minh dự hội nghị. Hầu hết các đoàn đại biểu đều có thư
trả lời Nguyễn Ái Quốc. Bản Yêu sách gồm tám điểm, phản ánh nguyện vọng của nhân dân
Việt Nam không được hội nghị xem xét nhưng giống như quả bom nổ giữa Hội nghị
Vécxây. Thực dân Pháp bắt đầu chú ý tới người có tên Nguyễn Ái Quốc. Trong một lần
đến theo dõi buổi nói chuyện ở Hội trường Hooctiquyntơ tại Pari, viên mật thám Pháp Pôn
Ácnu (Paul Arnoux) chuyên theo dõi người Việt Nam sống ở Pari, tận mắt chứng kiến
Nguyễn Ái Quốc đang phân phát truyền đơn in bản Yêu sách cho những người có mặt, đã
phải thốt lên dự cảm: “Con người thanh niên mảnh khảnh và đầy sức sống này có thể là
người sẽ đặt chữ thập cáo chung lên nền thống trị của chúng ta ở Đông Dương”.
Từ yêu cầu thực tiễn đấu tranh, Nguyễn Ái Quốc thấy cần phải học viết báo để tố
cáo tội ác của thực dân Pháp. Phong trào công nhân và chủ nghĩa xã hội ở Pháp đã đưa Bác
đến với hoạt động báo chí. Trong hai năm 1919-1920, Nguyễn Ái Quốc đã viết 5 bài báo.
Bài đầu tiên làVấn đề bản xứ, đăng trên báo Nhân đạo (L’ Humanité),ngày 2-8-1919. Báo
Dân chúng (Le Populaire) đăng bài Đông Dương và Triều Tiên của Nguyễn Ái Quốc. Bài
báo nhắc đến sắc lệnh của Thiên Hoàng công bố tại Tôkyô ngày 19-8-1919 với nội dung
định rõ quyền bình đẳng giữa người bản xứ Triều Tiên với người Nhật trong tất cả các luật
lệ. Qua các bài báo trên, chúng ta thấy rõ về mặt tư tưởng, Nguyễn Ái Quốc là một người
yêu nước tiến bộ, căm thù chủ nghĩa thực dân Pháp. Khát vọng của Người là đấu tranh giải
phóng dân tộc, nhưng làm thế nào và đi theo hướng nào để đạt được mục đích đó, Nguyễn
Ái Quốc vẫn còn đang tìm kiếm.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào cộng sản và công nhân
III hay ở lại Quốc tế II, thành lập Đảng Cộng sản, hay giữ nguyên Đảng Xã hội. Nguyễn
Ái Quốc tham dự đại hội với tư cách là đại biểu chính thức và duy nhất của các nước thuộc
địa Đông Dương.
Bằng những sự thật nhân dân Đông Dương không những bị áp bức và bóc lột một cách
nhục nhã mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm,Nguyễn Ái Quốc tố cáo những
sự tàn bạo mà bọn thực dân Pháp đã gây ra ở Đông Dương, và cho rằng:
Tại đại hội lịch sử này, cùng với những người cách mạng chân chính của nước
Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III Quốc tế Cộng sản, trở
thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và Người cũng trở thành
người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Đó là một sự kiện chính trị vô cùng quan trọng trong
đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và trong lịch sử cách mạng nước ta. Nếu
như cuộc đấu tranh của Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị Vécxây năm 1919 mới là phát pháo
hiệu thức tỉnh nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh chống thực dân Pháp, thì việc Người
tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 đã đánh dấu một bước chuyển biến
quyết định, bước nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính
trị của Người: Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Lênin.
Như vậy, từ năm 1911 đến năm 1920, là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc khảo sát, nghiên
cứu để lựa chọn con đường giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của bọn thực dân,
phong kiến. Người đã vượt qua ba đại dương, bốn châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ. Trải qua
những tháng năm lao động kiếm sống, thâm nhập đời sống thực tế của những người lao
động nhiều nước trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc thấy rõ cảnh bất công, tàn bạo của xã hội
tư bản, Người vô cùng xúc động trước đời sống khổ cực của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động các nước. Đến một số nước thuộc địa châu Phi, Người thấy rõ ở đâu người
dân mất nước cũng khổ cực như nhau. Bước đầu Người rút ra kết luận quan trọng là: ở
đâu chủ nghĩa tư bản cũng tàn ác và vô nhân đạo, ở đâu nhân dân lao động cũng bị áp bức,
bóc lột rất dã man; các dân tộc thuộc địa đều có một kẻ thù chung là bọn đế quốc thực dân.
Người nhận rõ giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước đều là bạn, chủ nghĩa đế
quốc ở đâu cũng là kẻ thù. Sau này Người đã khái quát thành một chân lý: “Dù màu da có
khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc
lột. Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”.
bức tượng, bắt chước theo những hành động của Bác trên các tranh ảnh mà chụp hình.
Chụp vô tư, không phải chụp làm tư liệu vì họ bắt chước một cách thô tục, một cách vô tội
vạ. Nhưng nó làm mất sự tôn nghiêm, mất đi giá trị của các hiện vật lịch sử ấy. Em có một
cảm nghĩ rằng tại sao nơi đây không cấm những điều như vậy.