Luận văn tốt nghiệp Khoa văn hoá
du lịch
Lời mở đầu
Lý do chọn đề tài:
Trong thời đại công nghiệp hóa-hiện đại hóa, mức sống của con người đã
được nâng cao, theo vào đó nhu cầu sống của họ cũng thay đổi. Nó không đơn
thuần là nhu cầu ăn,mặc, ở nữa mà những nhu cầu đó được nâng lên ở mức cao
hơn. Đó là nhu cầu được khám phá, tìm hiểu những điều mới lạ để mở rộng tầm
hiểu biết hoặc thưởng thức những đặc sản của từng vùng miền, từng quốc gia.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu du lịch ngày càng trở thành nhu cầu cần
thiết, không thể thiếu được và số lượng khách theo đó cũng tăng nhanh. Điều đó
đã tạo điều kiện ngành du lịch phát triển ngày càng mạnh mẽ và trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới .
Trong sự phát triển của ngành du lịch thì hoạt động kinh doanh khách sạn
đóng góp một phần rất lớn. Trong đó đối tượng của hoạt động kinh doanh khách
sạn chính là khách du lịch. Khách du lịch đã đem lại những lợi nhuận cho khách
sạn đồng thời khách sạn cung cấp dịch vụ lưu trú, ăn uống và những dịch vụ
khác cho khách. Bên cạnh nhu cầu được nghỉ ngơi thoải mái trong những căn
phòng đầy đủ tiện nghi và sang trọng, du khách còn muốn được tìm hiểu phong
tục tập quán, lối sống và văn hóa ứng xử của từng vùng miền, quốc gia nơi họ
đến.Và ẩm thực chính là một trong những phương tiện hữu hiệu để quảng bá
những nét văn hóa đó.Như chúng ta đã biết tại Hà Nội có trên mười khách sạn
được xếp hạng 4*-5*. Mỗi khách sạn lại mang một nét sắc thái-cung cách, phong
cách phục vụ, trang trí làm nổi bật lên những đặc trưng riêng. Trong đó mảng ẩm
thực cũng là mảng góp phần tạo nên phong cách riêng của từng khách sạn. Các
khách sạn đã nắm vững được điều này nên ra sức cạnh tranh, lập nên những thực
đơn với các món ăn độc đáo riêng có mang đặc trưng của từng vùng miền, quốc
gia cùng với những đầu bếp tên tuổi để tạo nên vị thế của mình. Vậy làm thế nào
1
Luận văn tốt nghiệp Khoa văn hoá
du lịch
-Phương pháp thống kê.
Ngoài phần mở đầu, mục lục, phụ lục, kết luận, bài viết gồm ba phần
chính:
Bố cục của đề tài:
Chương 1: Giới thiệu chung về khách sạn Hà Nội Horison.
Chương 2: Hoạt động kinh doanh ăn uống của khách sạn.
Chương 3: Thực trạng kinh doanh, phương hướng và một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của khách sạn.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các anh chị cán bộ
công nhân viên trong khách sạn Hà Nội Horison, các thầy cô và các bạn trong
khoa Văn hoá Du lịch. Đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của giảng viên- Ths. Phan
Thị Bích Thảo đã giúp em hoàn thành luận văn này.
3
Luận văn tốt nghiệp Khoa văn hoá
du lịch
4
Luận văn tốt nghiệp Khoa văn hoá
du lịch
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KHÁCH SẠN HÀ NỘI
HORISON
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của khách sạn.
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động kinh doanh khách sạn
trên thế giới.
Hoạt động kinh doanh khách sạn trên thế giới xuất hiện từ rất sớm. Những
dấu hiệu đầu tiên về cơ sở lưu trú được tìm thấy ở các quốc gia chiếm hữu nô lệ
ở miền đông cổ đại và muộn hơn là ở khu vực Địa Trung Hải. Trong thời kỳ Ai
cập cổ đại, những cơ sở lưu trú đầu tiên là những căn buồng trang bị thô sơ để
phục vụ việc ngủ qua đêm của những khách bộ hành. Xung quanh các nhà thở Ai
Cập, ở Atxyri và tiếp đó là ở Hy Lạp đã dựng lên những ngôi nhà được trang bị
thích hợp theo yêu cầu của khách-những người theo tôn giáo hoặc phi tôn giáo
lưu trú dọc đường còn xây dựng nhiều nhà trọ và quán trọ vừa là trung tâm
thương mại, vừa có các hoạt động phong phú khác phục vụ người nước ngoài.
Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX là thời xuất hiện bước ngoặt của hoạt
động kinh doanh lưu chú trong khách sạn mang đúng nghĩa hiện đại của nó.
Nguyên nhân sinh ra bước ngoặt này là sự hình thành hình thái kinh tế- xã hội tư
bản chủ nghĩa và đặc biệt là giai đoạn phát triển công nghiệp. Các trung tâm
công thương nghiệp mới với phương tiện giao thông đường thủy (cuối thế kỉ
XIX ) và giao thông đường sắt thuận tiện đã đòi hỏi sự phát triển nhanh chóng
của kinh doanh khách sạn. Sự phát triển của hoạt động này gắn liền với sự phát
triển của CNTB. Một mặt các cơ sở lưu trú thô sơ như nhà trọ vẫn mọc lên nhiều
nơi .Mặt khác đã xây dựng nhiều khachs sạn sang trọng với các buồng khách xa
hoa hơn, các buồng đều được trang trí lộng lẫy và rất rộng rãi.
Khoảng cuối thế kỷ XIX hoạt động kinh doanh lưư trú phân hóa theo vị trí
địa lý của các cơ sở kinh doanh.VD: Cơ sở lưu trú dành cho khách công vụ
thương nằm ở gần ga xe lửa, cơ sở lưu trú dành cho khách nghỉ ngơi giải trí
6
Luận văn tốt nghiệp Khoa văn hoá
du lịch
thường được xây dựng tại các trung tâm nghỉ dưỡng... Ở thời kỳ này, toàn bộ
KHKTđựợc sử dụng rộng rãi và đã thâm nhập vào hoạt động của các khách sạn.
Cạnh tranh trong kinh doanh lưu trú ngày càng trở nên quyết liệt.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thời kỳ nổi tiếng được gọi là ”kỷ
nguyên vàng” trong lịch sử phát triển của kinh doanh khách sạn. Kinh doanh
khách sạn thời kỳ này có một số đặc điểm sau:
- Sự gia tăng nhanh chóng của số lượng khách sạn sang trọng ở thủ đô các
nước trên thế giới.
- Sự mở rộng và hiện đại hóa hàng loạt khách sạn trong các khu nghỉ
dưỡng ở Riviera do sự ham thích nghỉ ngơi ở vùng biển về mùa hè của số đông
khách du lịch.
- Xuất hiện nhiều khách sạn dành cho khách công vụ và khách có khả
51,59% hàng năm. Cơ sở lưu trú thiếu nghiêm trọng. Vì vậy, mặc dù hệ thống
khách sạn còn thấp kém, trang bị không đồng bộ, thiếu các dịch vụ bổ xung, đội
ngũ nhân viên còn yếu kém về chuyên môn, chất lượng phục vụ chưa đáp ứng
nhu cầu của khách nhưng vì cầu lớn hơn cung nên các khách sạn vẫn đông
khách. Công suất sử dụng buồng vẫn rất cao, có khách sạn bình quân năm lên tới
93% hiệu quả kinh doanh.
-Giai đoạn 1995-1996.
Tình trạng thiếu khách sạn nghiêm trọng và công suất sử dụng buồng đạt
mức trung bình 92- 93% đã gây nên một cơn sốt về kinh doanh khách sạn. Một
số lượng lớn các nhà nghỉ, nhà khách chuyển sang kinh doanh khách sạn theo
quy định 317/TTG và chỉ thị 753/TTG của thủ tướng chính phủ. Các đối tác
nước ngoài cũng đầu tư xây dựng khách sạn liên doanh với số lượng buồng lớn.
Sau gần 10 năm đổi mới, từ năm 1995 đến khoảng giữa năm 1996 lượng khách
du lịch và lượng buồng tương đối cân bằng, cung – cầu tương đối ổn định.
Năm 1995 cả nước có khoảng 2318 khách sạn với 42388 buồng, trong đó
có 22384 buồng đạt tiêu chuẩn phục vụ khách quốc tế. Năm 1996 số buồng
8
Luận văn tốt nghiệp Khoa văn hoá
du lịch
khách sạn xây mới đưa vào hoạt động gần 6000 buồng, nâng tổng số buồng
khách sạn lên khoảng 50000 buồng, trong đó có khoảng 27000 buồng đạt tiêu
chuẩn phục vụ khách quốc tế. Công suất sử dụng buồng bình quân đạt 55-60%
(theo tổng cục du lịch). Hầu hết các khách sạn đã chú trọng đến chất lượng phục
vụ, mở thêm nhiều dịch vụ bổ xung, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ
cho đội ngũ nhân viên phục vụ trong khách sạn bằng cách đào tạo lại trong nước
cũng như nước.
Từ tháng 6/1996, kinh doanh khách sạn bắt đầu gặp khó khăn, số lượng
buồng đã có hiện tượng cung vượt quá cầu. Hiệu quả kinh doanh thấp. Công suất
sử dụng buồng bình quân năm giảm xuống còn 47%. Nhiều khách sạn thua lỗ
phải đóng cửa, chủ yếu là các khách sạn có quy mô nhỏ thuộc khối tư nhân.
nước ngoài, dịch vụ hàng không và du lịch. Thêm vào đó năm 1998, ba cơn bão
liên tiếp đổ vào miền trung trong thời gian ngắn đã gây thiệt hại nặng nề. Cơ sở
hạ tầng bị tàn phá nặng nề.Năm 1997 cả nước đón 1,72 triệu lượt khách, đạt
doanh thu từ du lịch 8700 tỷ đồng.
Tình hình khủng hoảng trong nước và khu vực đã tác động đến ngành du
lịch Việt Nam vốn còn non trẻ. Để bảo vệ và phát huy những thành quả ban đầu,
ngành du lịch cần một mặt khẩn trương xây dựng các chiến lược phát triển du
lịch bền vững, mặt khác cần có ngay các chính sách, biện pháp duy trì tốc độ
phát triển của ngành du lịch, giữ vững và phát huy vị thế du lịch Việt Nam đã
dành được trong những năm qua, trong khu vực và trên thị trường quốc tế.
1.1.3. Quá trình hình thành và phát triển của khách sạn Hà Nội Horison.
Khách sạn Hà Nội Horison
Địa chỉ: 40 Cát Linh- Hà Nội- Việt Nam
Điện thoại: (84- 4) 733 0808
Fax: (84- 4) 733 0808
Email:
Webside:Http://www.swiss- belhtel.com
10
Luận văn tốt nghiệp Khoa văn hoá
du lịch
Khách sạn Hà Nội Horison nằm ở trung tâm thủ đô Hà Nội thuộc phố Cát
Linh với những con đường rợp bóng mát. Từ khách sạn, du khách có thể đi thăm
tất cả các điểm du lịch hấp dẫn và nổi tiếng của Hà Nội mà chỉ mất ít phút như:
Văn Miếu Quốc Tử Giám, lăng chủ tịch Hồ Chí Minh, chùa một cột, di tích
thành cổ Hà Nội, bảo tàng quân đội hay những khu phố cổ quanh hồ Hoàn Kiếm.
Ngoài ra khách sạn còn nằm gần các đại sứ quán, văn phòng chính phủ, nằm gần
các trung tâm triển lãm của thủ đô HàNội. Từ khách sạn du khách chỉ mất
khoảng 30 phút đi ôtô ra sân bay quốc tế Nội Bài và khách sạn cách sân bay
khoảng 40Km.
Khách sạn Hà Nội Horison thuộc tập đoàn quản lý khách sạn Swiss -
1.2. Mô hình quản lý và tổ chức bộ máy của khách sạn.
Một trong những nhiệm vụ chính của khách sạn là tổ chức sắp xếp nguồn
lực thành từng bộ phận mang tính độc lập tương đối, tạo ra “tính trồi” trong hệ
thống để đạt được mục tiêu của khách sạn.Việc sắp xếp nhân viên, cơ sở vật chất
kỹ thuật và các nguồn lực khác (với tư cách là đối tượng quản lý) thành từng bộ
phận được gọi là thiết lập mô hình tổ chức bộ máy trong khách sạn. Mô hình tổ
chức bộ máy trong khách sạn một mặt phản ánh vị trí, chức năng, quyền hạn,
trách nhiệm của từng bộ phận, từng cá nhân. Mặt khác phản ánh mối quan hệ
quản lý thông tin và mối quan hệ chức năng giữa cac vị trí, các cá nhân thực hiện
các công việc khác nhau trong khách sạn hướng tới mục tiêu đề ra.
Để thiết lập và vận hành tổ chức bộ máy có hiệu quả, đạt được sứ mệnh,
mục tiêu của doanh nghiệp, nhà kinh doanh khách sạn cần phải phân tích và cân
nhắc các yếu tố: Quy mô của doanh nghiệp, thị trường mục tiêu (các đối tượng
khách chính), phạm vi hoạt động và kiểm soát.
- Quy mô của khách sạn càng nhỏ, sản phẩm có tính đơn nhất cao thì mô
hình tổ chức bộ máy của khách sạn cần giản đơn, gọn nhẹ càng ít bậc quản lý và
ngược lại. Thời gian thực hiện công việc để xác định số lượng người phụ trách
theo ca kíp, đáp ứng nhu cầu của khách, đảm bảo thời gian làm việc liên tục
trong ngày, trong tháng trong năm.
12
Luận văn tốt nghiệp Khoa văn hoá
du lịch
- Thị trường mục tiêu càng nhỏ, tính thuần nhất trong tiêu dùng càng lớn
thì tổ chức bộ máy càng gọn nhẹ, ít các đầu mối và ngược lại.
Là một khách sạn thuộc hạng 5* nên khách sạn Hà Nội Horison cũng áp
dụng mô hình quản lý và tổ chức bộ máy theo nguyên tắc chung:
13
Luận văn tốt nghiệp Khoa văn hoá du lịch
Tổng giám đốc
Phó tổng giám
Bộ
phận
quản
trị
nhân
lực
BP
quản
trị
thiết
bị
điện
Các
bộ
phận
khác
Các
nhà
hàng
Bar
phục
vụ
đồ
uống
Bếp
Các
điểm
phục
vụ
khác
hành chính, thư ký văn phòng tổng giám đốc, thư ký riêng tổng giám đốc.
- Khối lưu trú: Bao gồm các bộ phận đóng vai trò cơ bản trong việc cung
cấp dịch vụ cho khách trong suốt thời gian lưu trú tại khách sạn. Khối lưu trú tạo
nên doanh thu chủ yếu cho khách sạn. Các bộ phận trực thuộc khối lưu trú gồm:
+ Bộ phận buồng: Chịu trách nhiệm cho việc kinh doanh buồng, vệ
sinh buồng khách và khu vực công cộng, giặt là...
+ Bộ phận lễ tân: Chịu trách nhiệm nhận đặt buồng, làm thủ tục
đăng ký của khách sạn,cung cấp dịch vụ và đáp ứng yêu cầu của khách,làm thủ
tục thanh toán cho khách...
+ Bộ phận hỗ trợ đón tiếp: Gồm các nhân viên chuyển hành lý, nhân
viên lái xe, nhân viên trực cửa chịu trách nhiệm đón tiếp khách, vận chuyển hành
lý, chuyển và gửi thư từ, bưu phẩm, nhắn tin, tổ chức tham quan cho khách...
+ Bộ phận an ninh: Chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh, an toàn tính
mạng và tài sản cho khách, cán bộ công nhân viên khách sạn. Bộ phận này thực
hiện việc tuần tra 24/24h trong và ngoài khu vực khách sạn và giám sát các trang
thiết bị của khách sạn.
- Khối phục vụ ăn uống: Đây là một trong những bộ phận lớn và quan
trong của khách sạn. Bộ phận này có doanh thu chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong
tổng doanh thu của toàn khách sạn. Bộ phận này phải luôn đảm bảo các dịch vụ
ăn uống không chỉ thỏa mãn nhu cầu sinh lý mà còn thỏa mãn nhu cầu tâm lý của
khách. Chức năng của bộ phận này là phục vụ khách các món ăn, đồ uống một
cách tốt nhất theo đũng mong muốn của khách.
16
Luận văn tốt nghiệp Khoa văn hoá
du lịch
Mục tiêu quản lý đặt ra ở bộ phận này là tạo ra những món ăn ngon (nghệ
thuật văn hóa ẩm thực), an toàn thực phẩm, giá cả hợp lý, phục vụ khách tận tình
với thái độ văn minh lịch sự và hiếu khách, tạo ra bầu không khí thoải mái, làm
cho khách cảm thấy không chỉ ăn ngon, uống say mà còn cảm thấy dễ chịu như ở
nhà mình. Các chức danh ở bộ phận này là: Giám đốc, phó giám đốc, trợ lý giám
Để sự vận động của bộ máy tổ chức đạt được mục đích của khách sạn thì
bộ máy tổ chức của khách sạn phải có một cơ chế vận hành đảm bảo được tính
thang bậc, tính thống nhất, tính ủy quyền và tính phối hợp:
-Tính thang bậc trong bộ máy tổ chức là sự phản ánh mối quan hệ quyền
lực thông tin trong bộ máy tổ chức của khách sạn. Thông qua sơ đồ tổ chức bộ
máy mà bất cứ người lao động nào trong khách sạn cũng có thể nhận ra vị trí của
mình, vị trí đó phải chịu sự chỉ huy, điều hành trực tiếp của ai, làm việc với ai,
quan hệ thông tin như thế nào?
-Tính thống nhất trong tổ chức và điều hành là mỗi nhân viên chỉ chịu
trách nhiệm trước một và chỉ một cấp trên mà thôi (chỉ có một thủ trương trực
tiếp).
-Tính ủy quyền trong tổ chức và điều hành là sự thỏa thuận giữa cấp trên
và cấp dướivề mức độ trách nhiệm, mức độ tư do hành động và quyền hạnh đối
với công việc được giao. Ủy quyền là giao quyền hạn, trách nhiệm và kết quả
cuối cùng. Nếukhông có ủy quyền sẽ không có bộ máy tổ chứcvà nếu có chỉ là
hình thức. Cơ sở của ủy quyền là mức độ tin cậy của cấp dưới đối với cấp
18
Luận văn tốt nghiệp Khoa văn hoá
du lịch
trên.Ủy quyền phải rõ ràng hoàn chỉnh và đảm bảo tính hiệu lực. Người thủ
trưởng giỏi là người biết giao quyền và kiểm soát quyền lực cho cấp dưới và
người giúp việc.
- Tính phối hợp hoạt động gữa các bộ phận là yêu cầu cần thiết và có ý
nghĩa quyết địnhđến năng suất chất lượng và hiệu quả kinh doanh của toàn khách
sạn. Thứ nhất, tính độc lập tương đối giữa các bộ phận trong khách sạn trong khi
đó lại có rất nhiều các bộ phận chính và trong mỗi bộ phận chính lại có nhiều bộ
phận nhỏ cấu thành. Thứ hai, khách cần thỏa mãn tổng hợp và đồng bộ các yêu
cầu. Thứ ba, khách sạn phải là kết quả tạo ra từ hành động thống nhất trong hoạt
động của từng cá nhân, từng bộ phận theo chức năng, nhiệm vụ được phân công.
Thứ tư, chất lượng các dịch vụ lưu trú và ăn uống trong khách sạn có những đặc
- Bộ phận bảo dưỡng.
1.3.2. Khu vực lối vào dành cho công vụ (Area of service entrance):
Khu vực này bao gồm:
- Chỗ tập kết và kiểm tra hàng hóa cung ứng
- Cửa ra vào dành cho nhân viên
- Bộ phận cung ứng vật tư
- Nơi để bao bì đã sử dụng và chai lọ
- Nơi đổ rác
20
Luận văn tốt nghiệp Khoa văn hoá
du lịch
1.3.3. Khu vực kho và bếp (storage and kitchen area):
Khu vực này bao gồm:
- Các kho hàng hóa vật tư
- Các kho thực phẩm
- Các kho buồng lạnh bảo quản thực phẩm
- Khu chuẩn bị, sơ chế và chế biến món ăn. Khách sạn này có 3 khu bếp
chính là: Bếp Âu, bếp Á và bếp bánh.
- Nơi rửa bát đĩa
1.3.4. Khu vực dành cho sinh hoạt nhân viên (Personal area)
Khu vự này bao gồm:
- Phòng họp nhỏ
- Phòng ăn nhân viên
- Phòng thay quần áo
- Phòng tắm
- Nhà vệ sinh
1.3.5. Khu vực nhà hàng (Restaurant area)
Các nhà hàng được trang bị đồng bộ và hiện đại với các đầu bếp và nhân
viên có tay nghề cao, chuyên chế biến các món ăn Âu , Á, Nhà hàng rất coi trọng
đến chất lượng các món ăn, đặc biệt là khẩu vị của mỗi loại khách, đồng thời sử
, chiều cao buồng
≥
2,5m.
- Phòng ngủ khách sạn có các thiết bị đồ gỗ đảm bảo quy cách như các loại
giường tủ, bàn ghế, giá hành lý, giá để ti vi...
22
Luận văn tốt nghiệp Khoa văn hoá
du lịch
- Phòng ngủ có đầy đủ thiết bị đồ điện và tự động như tủ lạnh, ti vi, đầu
video, điều hòa nhiệt độ, các loại đèn, điện thoại , két an toàn.
- Các thiết bị dụng cụ khác có trong phòng ngủ như: Minibar, dụng cụ pha
và uống trà, cafe, bình nước lọc, lọ hoa, bộ đồ ăn hoa quả, dép đi trong phòng,
tập gấp đựng tài liệu hướng dẫn gồm: Các tờ rơi giới thiệu về cơ sở vật chất của
khách sạn, các dịch vụ khách sạn, thực đơn phục vụ tại buồng, các số điện thoại
quan trọng, phiếu giặt là, phong bì, giấy viết thư, một số báo, tạp chí...
- Phòng vệ sinh có các thiết bị dụng cụ như: Bồn rửa tay, vòi hoa sen, bồn
tắm, bình nóng lạnh, máy sấy tóc, máy cạo râu, nút gọi cấp cứu và các vật phẩm
khác như kem đánh răng, nước hoa, nước lọc, khăn tắm, khăn lau tay, áo choàng
tắm.
- Vị trí buồng rất quan trọng đối với khách. Phần lớn khi khách đặt phòng
thường chọn vị trí buồng có quang cảnh đẹp, yên tĩnh. Tất cảc các phòng của
khách sạn Horison đều quay về hướng Tây và nhìn ra bể bơi. Buồng luôn được
bài trí theo những nguyên tắc sau:
- Đảm bảo về số lượng, chất lượng trang thiết bị và đồ dùng theo loại,
hạng buồng.
- Phù hợp với đặc điểm từng loại, hạng buồng về diện tích, thiết kế, tính
chất hoặc mục đích sử dụng.
- Tiện dụng cho khách khi nghỉ ngơi hoặc làm việc và tiện lợi cho nhân
viên khi dọn buồng, đồng thời bảo vệ tốt tài sản.
- Gọn, đẹp, cân đối, thuận chiều gió, thuận ánh sáng, đồng bộ, đồng kiểu.
mức giá giống nhau. Có hai loại giá buồng mà khách sạn thường áp dụng:
- Giá chuẩn: Hay còn gọi là giá niêm yết hoặc giá công bố được in sẵn trên
bảng giá của khách sạn, đặt tại quầy lễ tân là mức giá cao nhất. Trong thực tế ít
khi khách sạn bán được buồng theo mức giá chuẩn mà hầu hết các buồng được
bán ra theo một tỷ lệ nhất định.
- Giá đặc biệt: Là loại giá có sự ưu dãi cho các đoàn khách hoặc khách
tiềm năng nhằm mục đích khuyến mại và tăng công suất buồng. Gồm:
+ Giá khuyến mại: Dành cho trưởng đoàn, những người tổ chức hội
nghị hoặc một số đối tượng ưu tiên nhằm khuyến khích công việc kinh doanh
trong tương lai.
+ Giá hợp tác: Dành cho công ty có hợp đồng thuê buồng của khách
sạn và thường xuyên gửi khách tới khách sạn.
+ Giá khuyến khích: Dành cho các đối tượng khách theo đoàn hoặc
tour do hãng lữ hành hoặc đại lý du lịch tổ chức. Đôi khi để khuyến khích khách
sử dụng buồng ngủ vào thời điểm vắng khách hoặc các kỳ nghỉ cuôi tuần, khách
sạn còn đưa ra mức giá “đại hạ giá” hoặc nghỉ ba đêm, tính tiền hai”, “thuê bốn
buồng tặng một.”…
+ Giá mời: Dành cho quan chức chính phủ, những người có địa vị
cao trong xã hội, những ca sỹ nổi tiếng, những khách đặc biệt đã và sẽ mang lại
lợi nhuận cho khách sạn trước đây và trong tương lai. Những khách này còn góp
phần tích cực trong việc kinh doanh của khách sạn.
25