Tài liệu Tục ngữ ca dao về miền Núi Ấn Sông Trà - Pdf 86


TỤC NGỮ CA DAO MIỀN NÚI ẤN SÔNG TRÀ

Trong văn chương truyền khẩu của dân tộc ta, tục ngữ ca dao chiếm một vị trí quan
trọng.
Ngoài những câu được phổ biến trong cả nước hoặc được truyền tụng qua nhiều địa
phương, mỗi địa phương lại có những câu tục ngữ ca dao mang tính chất đặc thù của địa
phương mình. Tính chất đặc thù nầy, hoặc nói lên bản sắc của người dân địa phương thuộc
mỗi vùng, hoặc phản ảnh một số địa danh, đặc sản, nghề nghiệp, tập quán hoặc ngôn ngữ của
từng địa phương.
Tại miền núi An sông Trà cũng đã sản sinh nhiều câu tục ngữ ca dao mang tính chất
riêng biệt của mình, hoặc dù không phản ảnh một cách trung thực cá tính địa phương nhưng
trên thực tế lại chỉ được truyền tụng trong địa phương Quảng Ngãi, và ở một vài địa phương
lân cận như Quảng Nam ở phía Bắc và Bình Định ở phía nam mà thôi.
Có lẽ không một người dân Quảng Ngãi nào lại không biết đến câu tục ngữ:
Quảng Nam hay cãi,
Quảng Ngãi hay co . . .
Đã có nhiều cách giải thích câu tục ngữ nầy, đặc biệt là câu thứ hai nói riêng về người
dân Quảng Ngãi. Có nhiều người cho rằng”co” ở đây là co cụm, co lại, là không muốn
“chuyện bé xé ra to”, là chỉ muốn “dĩ hòa vi quý”. Lại có người cho rằng”co” ở đây là co
cượng, là đôi co, là chỉ muốn phần hơn về mình, không cần phân biệt phải trái. Cả 2 cách giải
thích nầy đều không nêu đúng bản chất của người dân Quảng Ngãi. Bởi lẽ cả 2 cách giải
thích đã chỉ nhằm vào mặt giá trị tiêu cực của từ “co” mà không đánh giá đúng mặt giá trị
tích cực của nó.
Gần nửa thiên niên kỷ sống dưới chế độ phong kiến hà khắc, mấy mươi năm sống
dưới ách thực dân cai trị, người dân Quảng Ngãi đã phải vô cùng khôn ngoan, vô cùng kiên
cường mới có thể tồn tai trong cái xã hội đầy rẫy bất công thời xưa. Cái chính là tinh thần bất
khuất, ý chí kiên cường của người dân Quảng Ngãi mới nói lên giá trị tích cực đích thực của
câu “Quảng Ngãi hay co”.
Thổ ngơi Quảng Ngãi, vùng đất sỏi cây cằn, thuở xưa lắm rừng, nhiều truông, núi
chạy ra gần sát biển, lại thường xuyên phải hứng chịu những thiên tai khốc liệt đã hun đúc

Mỗi địa phương có một số đặc sản tiêu biểu. Những đặc sản nầy thường được ghi lại
qua những câu tục ngữ hay ca dao được lưu truyền trong từng địa phương. Chẳng hạn ở
Quảng Nam có câu:
Nem chả Hòa Vang,
Bánh tổ Hội An,
Khoai lang Trà Kiệu,
Thơm rượu Tam Kỳ.
Ơ Khánh Hòa có câu:
Yến sào Hòn Nội,
Vịt lội Ninh Hòa,
Tôm hùm Bình Kha,
Nai khô Diên Khánh.
Thì ở Quảng Ngãi cũng có câu:
Chim mía Xuân Phổ,
Cá bống sông Trà,
Kẹo gương Thu Xà,
Mạch nha Thi Phổ.
Cá bống là một loại thủy sản thường xuất hiện nhiều ở hai con sông Trà Khúc và sông
Vệ, ngon nhất là cá bống ở vùng con nước bến Tam Thương (Thị xã Quảng Ngãi). Cá bống
kho tiêu là là một nghệ thuật đặc biệt về ẩm thực của người dân Quảng Ngãi. Thế nên, dù đi
bất cứ đâu, khi nhớ về quê nhà, người dân Quảng Ngãi vẫn thường nhắc đến món ăn “cá
bống kho tiêu” nầy:
Anh đi anh nhớ quê nhà,
Nhớ món cá bống sông Trà kho tiêu.
Hay: Đi đâu cũng nhớ Thu Xà,
Nhớ mùi cá bống mặn mà hương tiêu.
Một loại thủy sản khác mang tính chất đặc biệt Quảng Ngãi, đó là “don”. Don là một
loại thủy sản thuộc họ nhà hến, chỉ xuất hiện ở vùng nước chè hai của con sông Trà Khúc.
Nếu người dân Huế biết dùng con hến để tạo nên món “cơm hến”, một món ăn đặc
biệt của giới bình dân xứ Huế, người dân Quảng Ngãi cũng đã dùng một loại hến có tên là

Sơn (Mộ Đức) một xã cận sơn, đã dùng mõ gỗ để xua đuổi hùm beo mỗi khi chúng xuống
làng bắt gia súc hay phá hoại mùa màng.
Hoặc có những câu phản ảnh một tập tục về sinh hoạt thương mại địa phương :
Chợ phiên ngày bảy, ngày hai
Không đi thì nhớ, đi hoài mỏi chân.
Nhớ ai như nhớ Nghĩa Hành,
Nhớ phiên Tam Bảo không đành không đi !
Chợ phiên Tam Bảo nguyên là nơi buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa người Kinh và
người Thượng thuộc các quận Nghĩa Hành, Minh Long, Ba Tơ và Sơn Hà. Đây có lẽ là phiên
chợ xuất hiện lâu đời nhất tại Quảng Ngãi và còn tồn tại mãi cho đến sau này. Ta không rõ
đích xác chợ xuất hiện lần đầu tiên vào năm nào, và nơi họp đầu tiên là ở đâu, nhưng đến đời
vua Tự Đức (1848-1883) thì chợ chính thức tọa lạc tại Kim Thành Hạ (Nghĩa Hành) và chợ
họp với ngày phiên không thay đổi : ngày mồng hai và ngày mồng bảy Am lịch mỗi tháng.
Lại có những câu phản ảnh một sự kiện lịch sử và được xem như những câu ca dao
lịch sử, chẳng hạn như :
Tiếc công Bình Định xây thành,
Để cho Quảng Ngãi vô giành thủ khoa !
Nguyên vào đời vua Tự Đức năm thứ 4 (1851), triều đình cho lập trường thi Hương
đầu tiên tại Bình Định dành riêng cho sĩ tử thuộc các tỉnh từ Quảng Ngãi vào Bình Thuận. Ba
khoa thi đầu tiên sĩ tử Bình Định giành trọn chức thủ khoa, vì thế tại Bình Định xuất hiện câu
ca dao :
Tiếc công Quảng Ngãi đường xa,
Để cho Bình Định thủ khoa ba lần.
Để rửa “mối hận” khoa cử này, sĩ tử Quảng Ngãi đã dốc chí dùi mài kinh sử, và mấy
khoa kế tiếp, sĩ tử Quảng Ngãi đã giành cả thủ khoa lẫn á khoa. Vậy là, một câu ca dao khác
đã xuất hiện để đáp lại câu ca dao “nói khích” của mấy năm về trước :
Tiếc công Bình Định xây thành,
Để cho Quảng Ngãi vô giành thủ khoa !
Sự xuất hiện của những câu ca dao kể trên dù sao cũng là một động lực tốt thúc đẩy sĩ
tử hai tỉnh cố gắng học hành để chiếm khôi nguyên, mang vinh dự về cho tỉnh mình.

Qua cầu cầu yếu phải nương
Chầu rày bạn cũ thôi thương mình rồi.
Tai nghe bạn cũ có đôi
Trong lòng nóng nảy như vôi mới hầm.
Kề tai bạn cũ khóc thầm,
Chầu rày quế đã phụ trầm trầm ơi !
“Chầu rày” tức là giờ đây, lúc này đây, nói về hiện tại. Đây cũng là một từ mang tính
đặc biệt của người dân Quảng Ngãi.
Có những câu tục ngữ và ca dao nhắc đến tên của từng vùng đồng thời nói lên phong
cảnh, sản vật, tính chất địalý hay nhân văn của những địa phương đó.
Ở Bình Sơn có câu :
Tiếng đồn Đông Phước nhiều tre,
Tham Hội nhiều lúa, Châu Me nhiều tiền.
Đông Phước và Tham Hội là hai ấp thuộc xã Bình Hoàng và Châu Me thuộc xã Bình
Đức.
Hay như câu :
Đi ngang qua mũi Sa Kỳ,
Ngó ra cù lao Ré xiết chi thảm sầu . . .
Sa Kỳ là một cửa biển nhỏ thuộc xã Bình Đức, cù lao Ré tức hải đảo Lý Sơn.
Ở Sơn Tịnh, ta nghe những câu như :
Cách sông nên phải lụy đò,
Cách truông Ba Gò nên phải luy anh.
Hay như câu :
Đưa anh về Quảng em lo,
Ao Vuông là một, Ba Gò là hai.
Kiêng dè trong buổi hôm mai,
Đàng trong ổ cướp, đàng ngoài hang beo.
Ao Vuông và Ba Gò là 2 vùng nằm trên đường thiên lý Bắc-Nam , Ao Vuông nằm
về mạn bắc quân Bình Sơn, Ba Gò nằm giữa 2 quận Bình Sơn và Sơn Tịnh. Vào thời xa xưa,
đây là những vùng cây cối rậm rạp, thường là nơi trú ẩn của bọn thảo khấu.

Vạn Tượng những chông cùng gai,
Con gái mốc thếch, con trai đen sì !
Ba La, Vạn Tượng là 2 ấp thuộc xã Tư Bình. Có lẽ đây là phần còn lại của một bài hát
đối đáp nam nữ, vì có giá trị hài hước cao nên còn được lưu truyền riêng đến bây giờ.
Vào đến Mộ Đức, ta có những câu :
Đèo nào cao bằng đèo Đồng Ngổ
Bộ nào rộng bằng bộ An Ba
Thấy anh ăn nói thiệt thà
Muốn vô gầy dựng cửa nhà cùng anh !
Hay như câu :
Đồng nào sâu bằng đồng Thi Phổ
Thổ nò cao bằng thổ Ba Tơ
Em thương anh chín đợi mười chờ
Mía kia lên ngọn trổ cờ đã lâu !
(Ba Tơ là tên ngày xưa của An Ba, không phải là quận Ba Tơ ngày nay)
Hay như câu :
Không đi sợ mất lòng chồng
Ra đi thì sợ cánh đồng Chu Me
Hay như :
Củ lang mỏng vỏ đỏ da
Ai về Long Phụng theo ta mà về.
Ai về Long Phụng thì về,
Gần sông tắm mát, chợ kề một bên.
Vào đến Đức Phổ, ta được nghe những câu như :
Anh về Mỹ Á chi lâu
Để em ôm chiếc thuyền câu một mình.
Mỹ Á là tên một cửa biển thuộc xã Phổ Xuân.
Quê em có núi Xương Rồng
Có cửa Mỹ Á, có sông Thủy Triều.
Hay như câu :

Kể từ sông Vệ, chợ Gò
Ngó vô Thi Phổ thấy dò Dứt Giây
Chợ Đồng Cát buôn bán sum vầy
Ngó vô Lò Thổi thấy cây sùm xòa
Tú Sơn một đỗi xa xa
Ngó vô Quán Sạn bạn hàng đà nghỉ ngơi
Chợ Huyện là chỗ ăn chơi
Ngó vô Quán Vịt là nơi hữu tình
Trà Câu sao vắng bạn mình
Hai hàng châu lụy như bình nước nghiêng !
Lượng tục ngữ ca dao chuyên chở những nội dung kể trên được xem là ít so với lượng
ca dao tình cảm khá phong phú và đa dạng.
Phong cách giáo dục trong gia đình của cha ông ta ngày xưa rất nghiêm khắc. “Yêu
cho roi cho vọt” được xem là quan niệm chính thống trong việc giáo dục con em. Ong bà,
cha mẹ dùng roi vọt để dạy dỗ, răn đe con cháu. Thầy giáo dùng roi vọt để răn đe học trò.
Không ai phàn nàn, không ai cho đây là một hành vi ngược đãi. Có nhiều bậc trưởng thượng
đôi khi quá nặng tay trong việc răn đe. Dẫu vậy, con cái cũng vẫn một lòng vâng lời, thương
yêu và kính trong cha mẹ :
Mẹ cha là biển là trời,
Phận con đâu dám cãi lời mẹ cha.
Con cái có dám can gián cũng chỉ là những lòi can gián nhẹ nhàng với lòng tôn kính,
thương yêu nồng nàn :
Mẹ ơi, đừng đánh con đau,
Để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ.
Mẹ ơi, đừng đánh con khờ,
Để con đan lờ thả cá mẹ ăn !
Cái nhìn của người con đối với cha mẹ thật là mặn nồng, chân chất. Không là những
hứa hẹn cao xa, mà chỉ là những hứa hẹn đơn giản “để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ” hay “để
con đan lờ thả cá mẹ ăn”. Hay như :
Đói lòng ăn trái chà là,

Và ơn cha nghĩa mẹ lúc nào cũng canh cánh bên lòng :
Ơn cha, nghĩa mẹ trìu trìu,
Mưa mai lòng sợ, nắng chiều dạ lo.
Ơn cha núi đất trời Tây,
Lai láng nghĩa mẹ nước đầy biển Đông !


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status