Triết lý nhân sinh qua các món ăn của người Thái Tây Bắc
Trần Vân Hạc
Nói đến Tây Bắc là phải nói tới huyền thoại hoa ban, những điệu xòe nồng say,
những điệu khắp trữ tình và thiên truyện thơ: “Tiễn dặn người yêu” nổi tiếng.
Song không chỉ có thế, người Thái Tây Bắc còn có một phong tục tập quán độc
đáo, mà ngay trong văn hóa ẩm thực đã có một phong cách rất tinh tế giầu tính
nhân văn. Các món ăn của người Thái Tây Bắc vừa giản dị, dân dã, vừa chứa đựng
bao điều sâu xa: Đất – Trời, Lửa – Nước, Âm dương – ngũ hành và triết lý nhân
sinh sâu sắc.
Người Thái định cư ở Tây Bắc từ lâu đời (từ TK IX đến TK XIII), có tiếng nói,
chữ viết từ rất sớm, điều đó ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển xã hội, văn học
nghệ thuật, phong tục tập quán…
Là cư dân của nền văn minh lúa nước, người Thái rất coi trọng lúa, gạo, gà, cá…
các loại rau rừng và do trồng trọt. Người Thái dậy con cháu:
“Không xòe không tốt lúa
Không xòe thóc cạn bồ
Không xòe hoa sẽ tàn héo
Không xòe trai gái không thành đôi”
Những hạt gạo thơm ngon nổi tiếng trong cả nước có được nhờ bàn tay lao động
của các mẹ các chị trên những cánh đồng Mường Thanh (Điện Biên), Mường Lò
(Nghĩa Lộ – Yên Bái), Mường Than (Than Uyên – Lai Châu), Mường Tấc (Phù
Yên – Sơn La)… hóa thân thành những món ăn thơm ngon, độc đáo.
Đó là “Xôi nếp ngũ sắc”. Để có món xôi tuyệt vời này phải dùng gạo nếp ngon
ngâm với các loại lá, hoa, củ truyền thống để có các mầu: Đỏ, đen, xanh, vàng và
mầu trắng nguyên thủy của gạo. Bà con ngườu Thái có thể xôi riêng từng chõ,
hoặc dùng lá dong, lá chuối ngăn không cho lẫn mầu, rồi ghép xôi năm mầu trên
một đĩa. Đĩa xôi như đất trời Tây Bắc thu nhỏ, ngào ngạt hương hoa, như bông
hoa ban huyền thoại. Các mầu nóng lạnh tương trưng cho Âm - Dương. Mỗi mầu
lại có tiếng nói riêng: Mầu đen của đất đai trù phú; mầu vàng của ước mong no
ấm, phồn thịnh; mầu đỏ tượng trưng cho ước mơ khát vọng; mầu xanh tượng trưng
cho bầu trời lồng lộng và sức sống diệu kỳ và mầu trắng của tình yêu trắng trong
Tây Bắc. Hoa ban dù xôi, xào hay nấu canh vẫn còn nguyên sắc trắng và tỏa
hương thơm dịu. Tận hưởng cả hồn vía của hoa mà lòng người cứ dưng dưng một
nỗi niềm, để rồi biết quí trọng hơn những gì đã có mà phấn đấu cho cuộc sống tốt
đẹp hơn.
Món ăn chế cùng hoa ban còn có măng đắng ngâm chua, gắn với câu chuyện tình
của chàng “Khôm”, tức đắng, nghèo khổ yêu nàng “Ban” xinh đẹp, bị ngăn trở,
không lấy được nhau chàng hóa thân thành cây măng vầu. Lấy măng vầu đắng thái
mỏng ngâm với nước hoa ban thì bớt đắng và trở nên thơm ngon lạ lùng. Cái vị
chua chua, ngăm ngăm đắng với dư vị ngọt ngào đọng mãi không tan khiến người
ta cứ phải suy ngẫm mãi về cuộc đời, về tình yêu, về nhân tình thế thái. Có thành
công nào, có hạnh phúc nào không đổi bằng bao nỗ lực vượt qua gian khó, có lúc
cả những đắng cay đau khổ và cuộc sống của bao người.
Trong đám cưới của người Thái Tây Bắc bao giờ cũng phải có món “Cáy háp hó”,
“Pa hó”, “Pa háp” và “Nhứa bẳng” trong đồ dẫn cưới của nhà trai.
“Cáy háp hó” gồm bốn con gà tơ chừng gần một cân được luộc chín, cứ một con
trống được buộc úp bụng vào một con cái thành hai cặp rồi gói vào lá dong tươi.
Nhà gái sau khi cúng chặt mời khách cúng hưởng phúc lành.
Với món “Pa hó” lại dùng cá nướng gói từng đôi bằng lạt nhuộm mầu hồng rồi gói
trong lá dong tươi.
Còn món “Pa háp”, dùng cá xấy khô buộc từng đôi bằng lạt hồng rồi cho vào
những chiếc giỏ đan bằng nan tren nhuộm mầu xanh đỏ.
Món ‘Nhứa bẳng” làm từ thịt trâu ướp thính đựng trong ống nứa đậy nắp bằng
giấy đỏ.
Khi gánh đồ dẫn cưới đến nhà gái, các đồ lễ này cũng được chia đều cân đối ở hai
bên gánh. Các đồ lễ này được bầy thắp hương ở bàn thờ tổ tiên để tỏ lòng biết ơn
và báo hỷ với tiền nhân.
Đã bao năm rồi, phong tục tốt đẹp này vẫn được các thế hệ người Thái giữ gìn và
kế thừa. Những đồ dẫn cưới vừa tỏ lòng kính trọng, hiếu thảo với bậc sinh thành,
vừa chuyên chở những ước mơ thầm kín, cao đẹp về hạnh phúc lứa đôi, gia đình
hạnh phúc.