VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN THẠNH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CĨ CƠNG
VỚI CÁCH MẠNG Ở TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CƠNG
HÀ NỘI, 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN THẠNH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CĨ CƠNG
VỚI CÁCH MẠNG Ở TỈNH AN GIANG
Ngành: Chính sách cơng
Mã số: 8340402
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TĂNG VĂN THẠNH
HÀ NỘI, 2021
1
Nhất là, kể từ khi đất nước ta thực hiện cơng cuộc đổi mới một cách tồn diện năm
1986 đến nay đã tạo được thế và lực cũng như sức mạnh tổng hợp mới. Hệ thống
văn bản thực hiện chính sách ưu đãi NCC với cách mạng hoàn thiện hơn. Chính trị xã hội ổn định, người dân đồng thuận, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế được
nâng cao, tạo tiền đề quan trọng thực hiện chiến lược phát triển KT - XH được
khẳng định qua Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 01/6/2012 Hội nghị lần thứ V Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đề ra, trong đó có nội dung thực hiện các
chính sách ưu đãi NCC với cách mạng. Theo số liệu rà soát thống kê năm 2020 số
lượng NCC với cách mạng trên địa bàn tỉnh là tương đối lớn, hiện đang quản lý hồ
sơ và thực hiện chế độ ưu đãi trên 40.000 hồ sơ NCC với cách mạng, tham gia cách
mạng.
Trong những năm qua, công tác tổ chức thực thi chính sách ưu đãi NCC với
cách mạng trên địa bàn tỉnh An Giang đạt được nhiều thành tích, góp phần cải thiện
và nâng cao chất lượng cuộc sống cho NCC với Cách mạng trên địa bàn tỉnh; đưa
chính sách ưu đãi, chăm sóc NCC với cách mạng đến với mọi nhà. Đồng thời thể
hiện được tinh thần trách nhiệm của Đảng và Nhà nước nhằm xoa dịu và bù đắp
những công lao và hy sinh mất mát đối với hàng triệu thân nhân liệt sỹ - ông, bà,
cha, mẹ, người vợ, người chồng, người con, anh chị em đã mãi mãi ra đi và nằm sâu
trong lịng đất, đem lại hịa bình, độc lập, tự do và hạnh phúc như ngày hôm nay.
Với những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách ưu đãi NCC với cách
mạng ở tỉnh An Giang vẫn còn một số khó khăn, hạn chế nhất định như: Việc ban
hành văn bản thiếu tính thống nhất, thiếu thực tế và chậm; thẩm quyền ban hành và
giải quyết chồng chéo nhau; thủ tục hành chính cịn khó khăn, rườm rà, khó hiểu
dẫn đến việc giải quyết chế độ cho các đối tượng NCC với cách mạng có lúc có nơi
cịn bất cập. Bên cạnh, trình độ của cán bộ - cơng chức cịn hạn chế, cơng tác tun
truyền hướng dẫn người dân thực hiện chính sách vẫn còn hạn chế, nên trong thực
tế vẫn còn NCC với cách mạng chưa tiếp cận được với những chương trình mà họ
xứng đáng được hưởng, điều này ảnh hưởng rất lớn tới công tác quản lý, lãnh đạo
giá thực trạng thực thi chính sách ưu đãi NCC với cách mạng, những tồn tại, hạn
chế và đề ra những giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế và thực hiện
tốt hơn chính sách ưu đãi NCC với cách mạng trên địa bàn huyện Hòa Vang.
Luận văn Thạc sĩ “Thực hiện chính sách ưu đãi người có cơng với cách
mạng trên địa bàn huyện Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội”, của học viên Nguyễn
3
Thị Thanh Hường, bảo vệ năm 2017 tại Học viện Hành chính quốc gia, nêu lên
những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ưu đãi NCC với cách mạng, thực
trạng thực thi chính sách, giải pháp và phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách ưu đãi NCC với cách mạng trên địa bàn huyện Nam Từ Liêm, thành phố
Hà Nội.
Luận văn Thạc sĩ “Thực hiện chính sách người có cơng với cách mạng từ
thực tiễn q̣n Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng”, của học viên Nguyễn Thị Thanh, bảo
vệ năm 2018 tại Học viện Khoa học xã hội, nêu lên cơ sở lý luận về thực hiện chính
sách NCC với cách mạng, thực trạng thực hiện chính sách NCC với cách mạng,
quan điểm, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện trên chính sách
NCC với cách mạng từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Luận văn Thạc sĩ “Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có cơng trên
địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, của học viên Nguyễn Văn Tài, bảo vệ
năm 2018 tại Học viện Khoa học xã hội, trình bày cơ sở lý luận, thực trạng và giải
pháp nâng cao hiệu quả công tác chính sách ưu đãi đối với NCC trên địa bàn huyện
Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Luận văn Thạc sĩ “Thực thi chính sách đối với người có cơng trên địa bàn
q̣n Liên Chiểu, thành phố Hà Nội”, của học viên Lê Thị Thanh Phúc, bảo vệ năm
2017 tại Học viện Hành chính quốc gia, trình bày cơ sở khoa học, thực trạng và giải
pháp hoàn thiện thực thi chính đối với NCC trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành
phố Đà Nẵng.
Bài viết: Người có cơng với cách mạng là vốn q của đất nước, là tấm
Luận văn nghiên cứu tập trung làm rõ lý luận chính sách ưu đãi NCC với
cách mạng, từ đó đề xuất hệ thống hóa giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách ưu đãi NCC với cách mạng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc thực thi chính sách ưu đãi đối với NCC
cách mạng;
Phân tích và đánh giá thực trạng chính sách ưu đãi NCC với cách mạng ở
tỉnh An Giang;
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách ưu đãi NCC với cách
mạng ở tỉnh An Giang.
5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là việc thực hiện chính sách ưu đãi NCC
với cách mạng ở tỉnh An Giang.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu các nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách ưu đãi
NCC với cách mạng ở tỉnh An Giang.
Về thời gian: Nghiên cứu việc thực hiện chính sách ưu đãi NCC với cách
mạng ở tỉnh An Giang giai đoạn 2016 - 2020.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của
Đảng và Nhà nước Việt Nam làm phương pháp luận để thực hiện nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu khoa học của luận văn được vận dụng dựa trên các
mạng ở tỉnh An Giang.
Chương 3. Quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách ưu đãi người có cơng với cách mạng ở tỉnh An Giang.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI
NGƯỜI CĨ CƠNG VỚI CÁCH MẠNG
1.1. Người có cơng với cách mạng và chính sách ưu đãi người có cơng với cách mạng
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm người có cơng với cách mạng
1.1.1.1. Khái niệm người có cơng với cách mạng
Hiện nay căn cứ pháp lý để thực hiện chính sách ưu đãi NCC với cách mạng
quy định tại Khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số
26/2005/PL-UBTVQH11 đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung
một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có cơng với cách mạng số
04/2012/UBTVQH13 “Người có cơng giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích
giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gờm:
- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;
- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi
nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945;
- Liệt sỹ;
- Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;
- Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;
- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
- Bệnh binh;
- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;
- Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;
thân thể, xương máu, nhiễm chất độc hóa học, khơng được tham gia lao động như
bao nhiêu người khác, và thậm chí mất đi thiên chức làm cha, làm mẹ, làm ông, làm
bà, trở thành người già neo đơn khơng có người thân để chăm sóc, phụng dưỡng lúc
tuổi già. Với những mất mát, hy sinh đó họ ln có tinh thần u nước nồng nàn,
luôn trung thành với lý tưởng cách mạng mà Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đã chọn.
Những đặc điểm trên giúp cho NCC với cách mạng, các thương binh, bệnh binh xoa
dịu bớt đi nỗi đau da thịt hành hạ thân thể trong những lúc giao mùa và biến đổi khí
hậu.
9
Đối với các gia đình thương binh, gia đình liệt sỹ và gia đình NCC với cách
mạng ln có những đặc điểm khác nhau: Người mãi mãi mất đi tình thương, người
khơng tham gia lao động, nhà thì chưa được kiên cố, người thì khơng có đủ thu
nhập để sống, người thì khơng có người chăm sóc. Mỗi giai đoạn lịch sử thì họ có
những khó khăn khác nhau.
1.1.2. Chính sách ưu đãi người có cơng với cách mạng
1.1.2.1 Khái niệm chính sách ưu đãi người có cơng với cách mạng
Chính sách ưu đãi NCC với cách mạng là đường lối, chủ trương của Đảng,
Nhà nước căn cứ nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ cách mạng, dựa trên cơ sở là sự
phát triển KT - XH của nước ta nhằm ghi nhận cơng lao, đóng góp, sự hy sinh cao
cả NCC với Cách mạng. Phản ánh được sự đặc biệt quan tâm đầy trách nhiệm của
nhà nước, của cộng đờng tồn thể xã hội, của thế hệ đi sau đối với thế hệ đi trước
của ông cha ta, thể hiện qua các văn bản pháp luật và các cơ sở pháp lý ưu đãi cho
NCC với Cách mạng theo từng giai đoạn lịch sử.
Để góp phần ổn định chính trị xã hội, đồng thời cũng thể hiện sự ghi nhận và
biết ơn của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với NCC và gia đình NCC với cách
mạng địi hỏi Đảng, Nhà nước ta khơng ngừng hồn thiện thể chế hóa chính sách ưu
đãi cho NCC với cách mạng ngày một tốt hơn.
với Cách mạng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: “Đối với những người
con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng
đáng?”[27,tr.135]. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu Đảng, Nhà nước ta đã
ban hành nhiều văn bản, chính sách có liên quan đến quy định về vấn đề thương
binh, tử sỹ,… và những ưu đãi cho họ. Đồng thời Đảng và Nhà nước cũng khuyến
khích, động viên toàn dân nổi lên phong trào giúp đỡ, chăm sóc đối tượng này.
Giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1975: Đây là giai đoạn chiến tranh ác liệt
của quân và dân ta, nhưng Đảng và Nhà nước ta khơng ngừng hồn thiện chính sách
ưu đãi NCC, thương binh, liệt sỹ và gia đình họ. Đã ban hành nhiều văn bản ưu đãi
nổi bậc nhất là Nghị định số 161/CP, ngày 30/10/1964 kèm theo bản Điều lệ tạm
thời về chế độ đãi ngộ với quân nhân, thanh niên xung kích và quy định chế độ
thương tật mới là 08 hạng, mức khởi điểm là 21%. Đây cũng là những văn bản góp
phần to lớn vào việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội, củng cố và tăng
cường tiềm lực trong kháng chiến.
11
Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1986: Đây là giai đoạn đất nước vừa được
thống nhất, trong điều kiện đất nước cịn rất nhiều khó khăn về kinh tế, an ninh chính trị luôn bất ổn, chịu sự chống phá quyết liệt của các thế lịch thù địch - bại
chiến. Nhưng Nhà nước đã ban hành hàng trăm văn bản liên quan đến việc ưu đãi
NCC với cách mạng, đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội, từ cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong giai đoạn này chú ý nhất là Nghị định số 236/HĐBT, ngày 18/9/1985 của
Hội đờng Bộ trưởng bổ sung, xóa bỏ sự khác biệt trong các quy định ưu đãi
trong lịch sử để lại.
Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1994: Đây là giai đoạn đất nước ta phát
triển, tiến bộ vựơt bậc. Hệ thống văn bản, các Nghị định, Thông tư thi hành chính
sách trên lĩnh vực ưu đãi NCC với cách mạng cũng tiến bộ theo hướng hoàn thiện
hơn, cụ thể nhất là Quyết định số 79/HĐBT, ngày 05/7/1989, Quyết định số 08/HĐBT
- Liệt sỹ;
- Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;
- Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;
- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
- Bệnh binh;
- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;
- Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;
- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm
nghĩa vụ quốc tế;
- NCC giúp đỡ cách mạng.
b. Thân nhân của người có cơng với cách mạng.
- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945: Là người được cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền cơng nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày
01 tháng 01 năm 1945.
- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi
nghĩa tháng Tám năm 1945: Là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công
nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động
cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng
Tám năm 1945.
13
- Liệt sỹ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo
vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của Nhân dân
được Nhà nước truy tặng bằng khen “Tổ quốc ghi công” thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
+ Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;
+ Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch;
+ Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn
năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp “Giấy
chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
+ Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;
+ Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại
thương tích thực thể;
+ Làm nghĩa vụ quốc tế;
+ Đấu tranh chống tội phạm;
+ Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng,
an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và Nhân dân;
+ Làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện KT - XH đặc
biệt khó khăn;
+ Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ do cơ
quan có thẩm quyền giao;
+ Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc
phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm;
- Bệnh binh: Là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng
lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền
cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh" thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;
+ Hoạt động liên tục ở địa bàn có điều kiện KT - XH đặc biệt khó khăn từ
mười lăm tháng trở lên;
+ Hoạt động ở địa bàn có điều kiện KT - XH đặc biệt khó khăn chưa đủ
mười lăm tháng nhưng đã có đủ mười năm trở lên công tác trong Quân đội nhân
dân, Công an nhân dân;
15
+ Đã công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đủ mười lăm năm
+ Người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy
chương kháng chiến;
Tóm lại, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh lịch sử chính trị - kinh tế xã hội
nào của đất nước thì tiêu chí cơ bản để xác định NCC với cách mạng là những cống
hiến về tính mạng, sức lực, tài năng, trí tuệ, … khơng những trong thời chiến mà
cịn trong thời bình, trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển của đất nước.
Họ được Đảng, Nhà nước và nhân dân tôn vinh, đền ơn, tri ân, ưu đãi về vật chất và
tinh thần, nhằm bù đắp một phần mất mát và được lưu truyền mãi ngàn đời trong
dân tộc Việt Nam.
1.1.3. Thực hiện chính sách ưu đãi người có cơng với cách mạng
1.1.3.1. Khái niệm thực hiện chính sách ưu đãi người có cơng với cách mạng
Thực hiện chính sách ưu đãi NCC với cách mạng là chu trình chính sách, q
trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách đến đối tượng chính sách, được hiện
thực do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định nhằm đưa chính sách ưu đãi
NCC với cách mạng vào cuộc sống qua các nội dung cụ thể về nguyên tắc, tuân thủ
theo một trình tự, thủ tục nhằm đạt đến mục tiêu của chính sách.
1.1.3.2. Ý nghĩa của việc tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có cơng với
cách mạng
Việc tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi NCC với cách mạng nhằm đạt được
mục đích của chính sách nhằm tơn vinh, ghi nhận sự cống hiến, hy sinh, góp phần
chăm sóc, ổn định đời sống vật chất và tinh thần của NCC với cách mạng và gia
đình NCC với cách mạng, tạo sự ổn định chính trị, phát triển xã hội. Đồng thời thể
hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của
dân tộc Việt Nam đối với NCC với cách mạng của nước ta.
Tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi NCC với cách mạng là thực hiện một
chính sách lớn, quan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước. Chủ
thể thực hiện chính sách chính là Đảng và Nhà nước. Chính sách được thực hiện tốt
đồng nghĩa với việc đường lối, chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đề
Nhà nước ta, đảm bảo sự công bằng và đồng thuận của xã hội. Chính vì vậy, Nhà
nước phải điều chỉnh, bổ sung chính sách cho phù hợp điều kiện phát triển của đất
nước nhằm chăm lo đời sống NCC ổn định và có cuộc sống ngày càng tốt hơn.
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), thực hiện đổi mới toàn
diện do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng đưa nước ta phát triển vượt bậc, mức
18
tăng trưởng GDP từ 3,4% năm 1986 đến năm 1995 tăng lên là 9,5%. Hệ thống pháp
luật cũng thay đổi theo hướng hoàn thiện hơn, nhà nước ban hành nhiều chính sách
ưu đãi đối với NCC với Cách mạng theo hướng có lợi cho các đối tượng thụ hưởng.
Trong giai đoạn này, điển hình nhất là Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách
mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh và bệnh binh, người hoạt động kháng
chiến, NCC với Cách mạng giúp đỡ cách mạng ngày 29/8/1994 và Pháp lệnh quy
định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm 1994. Đây là
hai văn bản pháp luật nhằm thể chế hóa Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp năm
1992, kèm theo các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện hai Pháp lệnh trên tạo
nên hệ thống chính sách ưu đãi NCC với Cách mạng trong giai đoạn này. Đến năm
1998 và năm 2000, Pháp lệnh ưu đãi người có cơng được sửa, đổi bổ sung kèm theo
nhiều văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết và tổ chức thực hiện Pháp lệnh ưu đãi
NCC với Cách mạng
Trong năm 2005, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa XI đã thơng qua Pháp
lệnh ưu đãi người có cơng với cách mạng thay thế Pháp lệnh ưu đãi người có cơng
năm 1994, đờng thời sửa đổi, bổ sung ngày 21/6/2007 nhằm phù hợp với tình tình
phát triển xã hội.
Đến năm 2012, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII sửa đổi, bổ sung một
số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có cơng với cách mạng năm 2005.
Chính phủ ban hành Nghị định số 34/2013/NĐ-CP, ngày 09/4/2013 quy định
chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với
cách mạng năm 2005. Đến ngày 15/5/2013, Bộ LĐ - TB & XH ban hành Thông tư
- Trợ cấp, phụ cấp hàng tháng: là khoản tiền trợ cấp ưu đãi hàng tháng của
Nhà nước cho NCC với cách mạng, được quy định bằng một văn bản quy phạm
pháp luật hiện hành, gồm các đối tượng NCC với Cách mạng: Người hoạt động
cách mạng trước ngày 01/01/1945; người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945
đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; thân nhân liệt sỹ; Bà mẹ Việt Nam Anh
hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ
kháng chiến; thương binh; người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh;
Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách
mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; NCC giúp đỡ cách mạng và
20
Trợ cấp ưu đãi hàng tháng tại các trường đào tạo, trường phổ thông nội trú cho các
đối tượng nêu trên bản thân hoặc con học tập tại đó.
- Trợ cấp nuôi dưỡng: là khoản tiền trợ cấp ưu đãi nuôi dưỡng hàng tháng
của Nhà nước cho người thân của NCC với cách mạng, được quy bằng một văn bản
quy phạm pháp luật hiện hành, gồm các đối tượng: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng,
con từ đủ 18 tuổi trở lên sống cô đơn không nơi nương tựa hoặc con dưới 18 tuổi
mồ côi cả cha mẹ của người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945; người
hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng
Tám năm 1945; thân nhân liệt sỹ; thương binh; bệnh binh; NCC nuôi dưỡng liệt sỹ,
con của liệt sỹ dưới 18 tuổi hoặc con của liệt sỹ trên 18 tuổi mà sống cô đơn không
nơi nương tựa; người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình; Người
phục vụ hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học suy giảm khả năng lao
động từ 81% trở lên sống ở gia đình.
- Trợ cấp tuất hàng tháng: là khoản tiền ưu đãi của Nhà nước theo quy định
của pháp luật ưu đãi NCC với cách mạng hiện hành, trợ cấp hàng tháng cho thân
nhân: của liệt sỹ; của thương binh; của bệnh binh bị mất khả năng lao động từ 61%
trở lên chưa tới tuổi lao động hoặc tới tuổi lao động mà bị tật nguyền bẩm sinh
giúp đỡ cách mạng trong gia đình được tặng Huy chương Kháng chiến, thân nhân
người hoạt động kháng chiến được tặng Huân chương, Huy chương chết trước ngày
01 tháng 01 năm 1995; chế độ bảo hiểm y tế và mai táng phí.
Ngồi ra, Pháp ḷt ưu đãi người có cơng với cách mạng còn quy định người
được hưởng chế độ tiền tuất hàng tháng cịn hưởng thêm tiền tuất ni dưỡng hoặc
đang hưởng trợ cấp hàng tháng được hưởng thêm trợ cấp nuôi dưỡng nếu đang sống
cô đơn không nơi nương tựa.
1.2.1.4. Các cơ quan thực hiện chính sách ưu đãi người có cơng với cách mạng
Các cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện chính sách ưu đãi NCC với cách
mạng gờm: UBND các cấp, trong đó chủ đạo là cơ quan LĐ - TB & XH. Cơ quan
LĐ - TB & XH là cơ quan chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan trong việc xác
nhận, thẩm định hồ sơ đề nghị xác nhận NCC, quyết định trợ cấp ưu đãi theo quy
định; tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành những văn bản phù hợp với tình
hình KT - XH của tỉnh, nhằm đạt hiệu quả mục tiêu đề ra, nâng cao đời sống cho
NCC; Báo cáo UBND tỉnh những đề xuất, kiến nghị lên cấp Trung ương nhằm sửa
đổi những quy định không phù hợp với đặc điểm tình hình, NCC ở tỉnh An Giang,
22