Lai một tính và nguyên lý phân ly
(Quy luật phân ly của Mendel) 1. Kết quả thí nghiệm lai một tính (monohybrid
cross)
Mendel đã tiến hành bảy phép lai một tính khác nhau
và các kết quả thu được được trình bày ở Bảng 1.1.
Bảng 1.1 Các kết quả lai một tính của Mendel
TT Kiểu hình P F
1
F
2
Tỷ lệ
F
2
1
Hạt trơn ×
nhăn
Trơn
5474 trơn : 1850
nhăn
2,96:1
2
Hạt vàng ×
Vàng
6022 vàng : 2001
3,14:1
7
Thân cao ×
thấp Cao 787 cao : 277 thấp2,84:1
Từ tất cả các phép lai trên cho thấy: Khi bố mẹ ở thế
hệ xuất phát (P) thuần chủng khác nhau về một cặp
tính trạng tương phản, thì ở thế hệ F
1
tất cả con lai
đều biểu hiện chỉ một tính trạng của bố hoặc mẹ,
tính trạng đó được gọi là tính trạng trộilặn
(recessive). Sau đó cho các con lai F
1
tự thụ phấn thì
ở thế hệ F
2
ông thu được cả hai kiểu hình
(phenotype) của bố mẹ ban đầu với tỷ lệ xấp xỉ 3/4
trội và 1/4 lặn. (dominant) và tính trạng kia không
quan sát được gọi là tính trạng
Ngoài ra, Mendel cũng cho các cây F
2
tự thụ phấn
riêng rẽ và theo dõi sự phân ly ở thế hệ F
3
. Kết quả
cho thấy 1/4 cây của F
2
sinh ra kiểu hình lặn tất cả
đều là các cây lặn thuần chủng; điều đó có nghĩa là
(heterozygote) - chứa hai alele khác nhau: Aa, tức
dạng lai. Vì allele vàng là trội hơn allele xanh, nên
cá thể dị hợp tử Aa có cùng kiểu hình với thể đồng
hợp trội AA.
P Hạt vàng (AA) × Hạt xanh (aa)
Giao tử P A a
F
1
Aa (vàng)
Giao tử F
1
(½ A : ½ a)
cái
(½ A : ½ a)
đực
Khung Punnett
½ A ½ a
½ A ¼ AA ¼ Aa
½ a ¼ Aa ¼ aa
F
2
Tỷ lệ kiểu gene 1 AA : 2 Aa : 1 aa
Tỷ lệ kiểu hình 3 vàng (A-) : 1 xanh (aa)
Hình 1.3 Sơ đồ biểu diễn kết quả lai một tính của
Mendel.
Trong giảm phân, mỗi bố mẹ thuần chủng hạt vàng
(AA) và hạt xanh (aa) chỉ cho một loại giao tử mang
allele tương ứng là A và a. Do đó kết quả của sự thụ
tinh chỉ tạo ra một kiểu dị hợp tử Aa, nghĩa là tất cả