Thái phiên - nguyễn tử siêm
Sử dụng bền vững
đất miền núi và vùng cao ở việt nam
Nhà xuất bản nông nghiệp
Hà nội - 2002
2
Mục lục
LờI NóI ĐầU...........................................................................................................................4
Chơng 1: ĐặC ĐIểM Tự NHIÊN MIềN NúI Và VùNG CAO......................................5
1.1. Địa bàn và phạm vi nghiên cứu .....................................................................................5
1.2. Phân loại địa hình địa mạo ............................................................................................5
1.3. Đặc điểm tự nhiên theo vùng sinh thái ..........................................................................8
Chơng 2: CáC QUá TRìNH THổ NHƯỡNG CHủ ĐạO ở
MIềN NúI Và VùNG CAO VIệT NAM.........................................................19
2.1. Quá trình phong hoá....................................................................................................19
2.2. Quá trình tích luỹ kết von đá ong trong đất.................................................................21
2.3. Quá trình mùn hoá.......................................................................................................22
2.4. Quá trình bồi tụ hình thành đất bằng ở miền núi.........................................................22
2.5. Các quá trình khác.......................................................................................................23
Chơng 3: PHÂN LOạI ĐấT MIềN NúI VùNG CAO....................................................24
3.1. Các loại đất chính miền núi vùng cao..........................................................................24
3.2. Liên hệ chuyển đổi phân loại đất theo FAO - UNESCO.............................................70
3.3. Đánh giá quỹ đất .........................................................................................................72
Chơng 4: SUY THOáI MÔI TRƯờNG ĐấT...................................................................75
4.1. Đặc điểm chung...........................................................................................................75
4.2. Xói mòn.......................................................................................................................76
4.3. Rửa trôi........................................................................................................................83
4.4. Giảm khả năng trao đổi hấp phụ và độ no bazơ...........................................................84
4.5. Tăng độ chua ...............................................................................................................86
4.6. Tăng cờng hàm lợng sắt nhôm di động và khả năng cố định lân ............................86
4.7. Suy giảm cấu trúc ........................................................................................................87
Miền núi và vùng cao có vị trí đặc biệt trong củng cố quốc phòng và phát triển kinh tế của đất
nớc, là địa bàn c trú của đại bộ phận trong 54 dân tộc anh em. Song đây cũng là vùng môi
trờng bị huỷ hoại nghiêm trọng, thế mạnh cha đợc khai thác, đói nghèo nhất trong cộng
đồng.
Về mặt thổ nhỡng, miền núi và vùng cao nằm trên địa bàn dốc, hệ sinh thái chông chênh.
Do hậu quả của chiến tranh, sự thiếu lơng thực trong thời gian dài và khai thác bóc lột đất
đáng kể, vỏ thổ nhỡng đã bị thoái hoá nghiêm trọng, một phần đáng kể đất bị xói mòn trơ
sỏi đá, đá ong hoặc sa mạc hoá. Một diện tích rộng lớn đã mất hoàn toàn sức sản xuất, trở
thành hoang hoá trống trọc.
Phục hồi môi trờng sinh thái, phát triển kinh tế xã hội miền núi đang thực sự phải đơng đầu
với việc cải tạo rừng, phủ xanh đồi trọc, tạo nền thâm canh cho những phơng thức canh tác
đa dạng.
Trong quản lý quỹ đất Việc Nam, vấn đề này cũng ít đợc nghiên cứu hơn cả. Kế thừa các
nghiên cứu chung đã có, công trình này đi sâu vào việc nghiên cứu bổ sung, tổng hợp đánh
giá chất lợng quỹ đất, các quá trình thổ nhỡng chủ đạo quyết định chủ trơng thâm canh
bảo vệ đất, nêu lên các vấn đề tồn tại để khắc phục nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Cuốn sách này tổng hợp các kết quả nghiên cứu, điều tra khảo sát đánh giá tài nguyên đất
Việt Nam, đồng thời là góp phần thuyết minh đất và sử dụng đất cho các huyện miền núi và
vùng cao.
Hà Nội ngày 20 tháng 1 năm 2001
Thái Phiên & Nguyễn Tử Siêm
5
Chơng i
ĐặC ĐIểM Tự NHIÊN MIềN NúI Và VùNG CAO
1.1. Địa bàn và phạm vi nghiên cứu
Miền núi và vùng cao Việt Nam phân bố từ vùng núi Bắc Bộ đến vùng Đồng bằng sông Cửa
Long. Theo phân định của Chính phủ trong tổng số 61 tỉnh, thành phố và đặc khu của cả
nớc có 39 tỉnh thành có huyện xã miền núi, trong đó có 24 tỉnh có huyện vùng cao, 30 tỉnh
có huyện miền núi. Tổng số cả nớc có 121 huyện vùng cao, 87 huyện miền núi 2061 xã
vùng cao, 1763 xã miền núi, 599 trung tâm cụm xã vùng cao và 388 trung tâm cụm xã miền
1.2.2. Địa hình núi trung bình
Hình thành ở độ cao 1000 m có diện tích 3.283 nghìn ha, chiếm 10% diện tích cả nớc.
Địa hình có đặc điểm đỉnh nhọn kéo dài, sờn dốc, chia cắt sâu mạnh, thung lũng dốc hẹp;
quá trình xâm thực bào mòn phát triển. Khả năng phát triển nông nghiệp rất hạn chế, chủ yếu
phát triển cây dợc liệu, các loại rau, hoa màu và cây ăn quả có nguồn gốc á nhiệt đới.
Địa hình núi trung bình phân bố ở các khu vực sau:
Núi trung bình vòm cổ sông Chảy, Ngân Sơn - Yên Lạc, Phia Biooc thuộc vùng Đông
Bắc và Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn. Hình thành trên các khối macma axit, đá biến chất
và trầm tích lục nguyên.
Núi trung bình lu vực sông Mã, tả ngạn sông Đà thuộc vùng Tây Bắc. Hình thành trên
đá macma axit, đá biến chất và trầm tích lục nguyên.
Núi trung bình dải Trờng Sơn Bắc thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ. Hình thành
trên đá macma axit, đá biến chất và trầm tích lục nguyên.
Núi trung bình dải Trờng Sơn Nam thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Hình thành
trên đá macma axit và trung tính, trầm tích lục nguyên.
1.2.3. Địa hình núi thấp và đồi
Hình thành ở bậc cao trình < 1000 m, chiếm diện tích lớn nhất trong các loại địa hình 14.740
nghìn ha, chiếm 45% so với diện tích cả nớc. Phân bố ở các khu vực sau:
Núi thấp - đồi vùng Đông Bắc và Việt Bắc- Hoàng Liên Sơn hình thành chủ yếu trên đây
trầm tích lục nguyên và biến chất, bị xâm thực và bào mòn mạnh. Đặc điểm địa hình có
đỉnh tròn rời rạc, đờng phân huỷ ít rõ nét, sờn dốc thoải, mạng lới thuỷ văn dày đặc,
thung lũng mở rộng. Diện tích đất có khả năng sản xuất nông nghiệp khoảng 250 nghìn
ha.
Núi thấp - đồi vùng Tây Bắc hình thành chủ yếu trên đá trầm tích lục nguyên và macma
axit, bị xâm thực bóc mòn mạnh. Đặc điểm có đỉnh nhọn, sờn dốc thoải đờng nét địa
hình mền mại, thung lũng sông mở rộng. Diện tích đất có khả năng sản xuất nông
nghiệp khoảng 161 nghìn ha.
Núi thấp - đồi vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ hình thành chủ yếu trên đá trầm tích lục
nguyên và macma axit. Quá trình bào mòn xâm thực phát triển hơn quá trình chia cắt
sâu. Địa hình phát triển trên đá trầm tích lục nguyên và biến chất mền mại và ít dốc hơn
Trọng. Địa hình có dạng đồi bằng, sờn dốc thoải, độ chia cắt yếu, hình thành loại đất
màu đỏ bazan giàu chất dinh dỡng. Đây là dạng cao nguyên có tỷ lệ sử dụng đất cho
nông nghiệp cao nhất ở nớc ta.
Cao nguyên bazan cổ dạng dòng chảy: gồm các cao nguyên Konplông, Kon Hà Nừng,
Đăk Nông - Đăk Mil, Di Linh- Bảo Lộc. Địa hình có dạng đồi cao, đỉnh bằng thoải,
sờn dốc mạnh ở phần chân. Địa hình bị chia cắt mạnh hơn cao nguyên trẻ dạng vòm
phủ, nên tỷ lệ sử dụng đất cho nông nghiệp bị hạn chế.
- Núi - cao nguyên trên đá khác
Địa hình này nằm ở vùng Tây Nguyên, đặc trng là các cao nguyên sau:
Cao nguyên Ma Đrăk (Đăk Lăk) phát triển đá granit, hình thành ở độ cao 500 - 600m.
Địa hình ở dạng đồi thoải, lợn sóng, chia cắt yếu.
Cao nguyên Lang Biang (Lâm Đồng) phát triển trên đá trầm tích và biến chất, hình
thành ở độ cao 1500- 1700m. Địa hình ở dạng đồi tròn, bát úp riêng biệt, thuận lợi phát
triển cây ăn quả.
8
1.2.5. Địa hình bán bình nguyên
- Bán bình nguyên Easoup
(Tây Nguyên) hình thành ở độ cao 300 - 400 m, địa hình có dạng
gò đồi thoải phát triển chủ yếu trên đá trầm tích lục nguyên (phổ biến là cát bột kết). Đất đai
nhìn chung nghèo chất dinh dỡng, tầng đất lẫn nhiều kết von, đá ong. Là vùng có tổng tích
ôn cao, khô nóng, thuận lợi phát triển trồng điều.
- Bán bình nguyên Đông Nam Bộ:
Phân hoá thành 2 bậc có bề mặt song song và dốc thoải
theo hớng Tây Bắc - Đông Nam. Các huyện miền núi thuộc tỉnh Đồng Nai, Sông Bé nằm ở
bề mặt phía trên, độ cao 200 - 300 m, tiếp giáp địa hình núi thấp cực Nam Trung Bộ, đợc
phủ lớp đất đỏ bazan màu mỡ, thuận lợi phát triển cây công nghiệp dài ngày.
- Địa hình thung lũng và trũng giữa núi: ở miền núi và vùng cao xuất hiện các bồn địa và
trũng giữa núi đợc hình thành chủ yếu do:
Kết quả các hoạt động địa chất đã tạo ra tập hợp đá mẹ khác nhau, trong đó liên quan đến sự
hình thành vỏ phong hoá và lớp thổ nhỡng có các nhóm đá chính sau:
1. Nhóm đá trầm tích không vôi:
Phần lớn là hạt thô rất giàu thạch anh nh cát, bột kết (còn
gọi là đá sa phiến, phấn sa) phân bố nhiều ở Quảng Ninh, Hà Bắc. Trầm tích hạt mịn (đá sét)
xuất hiện ở Cao Bằng, Lạng Sơn.
2. Nhóm đá trầm tích có vôi:
có thể chia làm 2 loại
Đá vôi, đá vôi kết dính
Đá vôi sét hoặc sét vôi
Các loại đá vôi phân bố rất phổ biến ở Cao Bằng, Lạng Sơn tạo thành các vùng Kastơ nổi
tiếng. Các loại đá vôi thuần (có hàm lợng CaCO
3
rất cao trên 80-90%) phần lớn tạo thành
các khối núi có vách dựng đứng, hình thành ra các loại đất đen, nâu thẫm giữa các hốc đá và
trên triền núi.
Các loại đá sét vôi thờng phân bố trên địa hình đồi lợn sóng, các khoáng vật giầu CaCO
3
(phấn vôi) bị phong hoá mạnh, rửa trôi, các khoáng vật sét giàu oxit sắt (Fe
2
O
3
, Fe
3
O
4
) tích
luỹ nhiều trong đất tạo ra các đất màu nâu đỏ đặc trng.
3. Các nhóm đá khác ít phổ biến hơn các loại vừa nêu trên là:
Đá granit, riolit thuộc nhóm macma axit phân bố rải rác nh riolit (Lộc Bình, tỉnh Lạng
1.3.2. Vùng Việt Bắc- Hoàng Liên Sơn
Có 22 huyện vùng cao và 25 huyện miền núi thuộc tỉnh Hà Giang, Lào Cai ,Yên Bái, Bắc
Thái, Tuyên Quang, Phú Thọ.
- Địa hình:
Địa hình núi và cao nguyên đá vôi tập trung ở phía Bắc Hà Giang, Lào Cai thuộc các
khối đá vôi Đồng Văn, Quản Bạ, Bắc Hà... thờng đợc gọi là vùng cao nguyên biên
giới. Núi đá chiếm diện tích đáng kể.
Địa hình núi trung bình và cao: bao gồm núi cao thợng nguồn sông Chảy, Phan Xi
Păng, Xà Phình - Pu Luông..., núi trung bình Ngân Sơn... Đây là vùng núi cao nhất nớc
ta.
Địa hình thung lũng và trũng giữa núi bao gồm các bồn địa Quỳnh Nhai, Quang Huy,
Than Uyên, Văn Chấn, Tuyên Quang... Đây là những cánh đồng lúa trù phú, tập trung
dân c với mật độ cao của vùng.
- Địa chất:
Các tỉnh huyện miền núi thuộc vùng sinh thái Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn có đặc điểm địa
chất hết sức độc đáo nh:
Có nền địa chất cổ nhất, hình thành các tập hợp đá biến chất tiền cambri nh khối núi
Con Voi (Phú Thọ và Yên Bái) bao gồm các loại đá phiến mi ca, gơ nai tạo thành các
loại đất đỏ vàng, có độ màu mỡ rất cao, khả năng sử dụng đa dạng với nhiều tập đoàn
thực vật, cây trồng khác nhau.
Các tập hợp đá macma axit, phần lớn là đá granit tạo thành các khối núi đồ sộ và cao
nhất Việt Nam nh Phan Xi Păng, Tây Côn Lĩnh (cao trên dới 3000m). Trong đó đặc
biệt dãy núi Phan Xi Păng là bức ''tờng thành'' ngăn cách, tạo nên hai khu vực có chế độ
khí hậu địa phơng khác hẳn nhau nh vùng Việt Bắc (phần lớn phía đông dãy Hoàng
Liên Sơn) chịu ảnh hởng của gió mùa Đông Bắc.
Các núi đá vôi, sét vôi, phân bố ở hai vùng rõ rệt:
- Vùng cao: Hà Giang nh cao nguyên đá vôi Đồng Văn, Quản Bạ.
- Vùng đồi núi thấp: Phần lớn là vùng núi đá vôi chạy dọc theo vết đứt gãy sông Hồng,
sông Chảy.
Các loại trầm tích bởi rời phân bố chủ yếu ở các trũng và thung lũng giữa núi và ven rìa
là nhóm đất đỏ vàng.
Địa hình thung lũng và trũng giữa núi: bao gồm các bồn địa Điện Biên, Phù Yên, thung
lũng sông Đà... là những vùng trọng điểm nông nghiệp của vùng.
- Địa chất:
Địa chất và tập hợp đá mẹ tạo đất của vùng Tây Bắc có đặc điểm nổi bật sau:
Khối granit phần phía Đông và Đông Bắc của vùng thuộc dãy Phan Xi Păng có đặc điểm
địa chất - thổ nhỡng tơng tự nh khu vực lân cận của Việt Bắc nêu trên.
Khối đá vôi phần trung tâm và phía Đông Nam phổ biến là các dãy núi đá vôi, cùng với
sự phân bố theo 2 khu vực.
1. Các cao nguyên đá vôi Mộc Châu, Sơn La và vùng cao Hoà Bình (cao trên dới
1000m).
2. Các dãy núi đá vôi thấp không liên tục chạy dọc theo sông Đà và sông Mã.
Trầm tích không vôi phần phía Bắc (thuộc các huyện Mờng Tè, Mờng Lay, Điện
Biên) phổ biến nhóm đá trầm tích thô không vôi: sa thạch tím (Tân Lạc, Hoà Bình) tạo
lên loại đất có màu tím có đặc điểm khác hẳn đất phát triển trên đá sa phiến.
Một số loại đá khác phân bố cục bộ, rải rác song đáng chú ý là:
+ Đá siêu bazơ (peridotit) ở Sơn La tạo nên các đất đen giàu khoáng vật chứa Mg, Ca.
+ Đá bazan xuất hiện dạng điểm lộ ở Mờng Pồn, Điện Biên Phủ.
Các loại trầm tích bở rời: chủ yếu là phù sa suối, sản phẩm dốc tụ ở các cánh đồng lớn
hoặc thung lũng giữa núi.
- Khí hậu - thuỷ văn:
Do cấu trúc địa hình, vùng Tây Bắc che khuất cả 2 mùa gió chính nên mùa đông khô hanh
hơn các vùng khác và mùa hè có gió tây khô nóng.
12
Mùa đông tuy ấm hơn 2 vùng Đông Bắc và Việt Bắc Hoàng Liên Sơn, nhng ở các huyện
vùng cao vẫn lạnh, vẫn xuất hiện sơng muối và băng giá.
Mùa ma bắt đầu và kết thúc sớm hơn các vùng khác thuộc Bắc Bộ 1 tháng. Lợng ma
trong vùng phân hoá mạnh: Mờng Tè: 2476mm, Sìn Hồ, 2476mm, Yên Châu 1108mm..
Do đặc điểm địa hình và lợng ma phân bố không đều nên lu lợng dòng chảy và lợng
xâm lợc cũng khác nhau. Khu vực núi và cao nguyên đá vôi có mạng lới thuỷ văn tha
Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế.
- Địa hình:
Đặc điểm nổi bật nhất của vùng là thuộc dải núi Trờng Sơn Bắc với các sờn dốc đổ về biển
Đông và bị chia cắt bởi các thung lũng và núi chạy ngang ra biển.
Địa hình núi trung bình và cao tập trung ở các huyện vùng cao, dọc trên biên giới Việt
Lào. Lớp phủ thổ nhỡng chủ yếu là nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi, có tầng đất mỏng,
sờn dốc.
Địa hình đồi, núi thấp, bị chia cắt mạnh. Nhóm đất đỏ vàng phát triển trên các loại đá
mẹ khác nhau chiếm hầu hết diện tích bị xói mòn rửa trôi mạnh.
13
- Địa chất:
Cấu tạo địa chất và các tập hợp đá mẹ tạo thành đất chủ yếu là:
Dải Trờng Sơn Bắc đợc hình thành trên nền địa chất với 2 nhóm đá chính là macma
axit và trầm tích. Nhóm đá macma axit (chủ yếu là granit) phân bố tập trung ở khu vực
núi cao và trung bình.
Đá trầm tích không vôi hạt thô phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi thấp và khu vực chuyển
tiếp với đồng bằng.
Đá vôi tập trung ở khu vực các huyện miền núi của Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình
là các dải đá vôi chuyển tiếp từ vùng Tây Bắc xuống kết thúc ở các quả núi đá vôi sát
Quảng Trị. Vùng núi tỉnh Thừa Thiên - Huế hầu nh không còn.
Có mấy điểm đáng chú ý:
Khu vực phía Bắc chủ yếu là Thanh Hoá, các đá sét vôi hình thành đất nâu
đỏ trên núi
và đất đen bồi tụ ở thung lũng.
Các đá vôi và đá vôi kết tinh (nh Ninh Bình, Thạch Thành, Thanh Hoá, Kẻ Bàng,
Quảng Bình) không tạo thành các vùng đất phát triển trên đá vôi nh vùng Tây Bắc và
Đông Bắc.
Các khối núi đá vôi (khác hẳn vùng Tây Bắc và Đông Bắc) chỉ phân bố ở vùng đồi núi
thấp (nh Thanh Hoá, Nho Quan, Hoàng Long, Ninh Bình) hoặc ven rìa vùng đồng
nhóm đất này ít nhiều khác biệt và ít hạn chế về sử dụng hơn so với đất ở khu vực phía Bắc.
- Đá trầm tích không vôi: phần nhiều phân bố ở vùng đồi núi thấp không tạo thành dải liên tục
nh khối granit.
- Đá bazan và macma bazơ khác: xuất lộ thành khối độc lập từ Bình Định trở vào, có mấy điển
hình đáng chú ý:
Các khối bazan thỏ, phân tán nh ở Quảng Ngãi (huyện Bình Sơn), Phú Yên (huyện Tuy
Hoà): đá bazan lộ trên mặt tạo thành đất bazan nông cạn xơng xẩu.
Các khối bazan lớn tiếp giáp với vùng núi cao và cao nguyên bazan Tây Nguyên nh
phía Bắc huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định ở cao trình trên dới 1000m.
Khối bazan Bình Thuận: tiếp giáp với vùng bazan thuộc bình nguyên Đông Nam Bộ ở
cao trình trên dới 100m.
- Đá vôi: ở Quảng Nam - Đà Nẵng xuất lộ một số núi đá vôi độc lập không đóng vai trò gì
trong hình thành đất của vùng.
- Khí hậu- thuỷ văn:
Nhiệt độ trung bình lăm từ 25
0
C trở lên, không có mùa đông lạnh, lợng ma phân bố không
đều. Trà Mi: 3740mm, Ba Tơ: 3607mm. Sơn Hoà: 1667mm xuống còn < 1000mm ở các
huyện thuộc tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận.
Là vùng bị bão uy hiếp mạnh có gió tây khô nóng, hạn hán và lũ lụt xẩy ra nghiêm trọng.
Mạng lới thuỷ văn hầu hết là các sông ngắn và dốc. Lợng xâm thực xói mòn 100 - 120
tấn/km
2
/ năm.
1.3.7. Vùng Tây Nguyên
Đây là vùng có toàn bộ các huyện đều là huyện vùng cao và miền núi. Trong đó có 39 huyện
vùng cao và 4 huyện vùng núi thuộc các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Lâm Đồng.
- Địa hình:
- Địa hình núi trung bình và cao thuộc dãy Ngọc Linh và Ch Jang Sin phát triển trên đá
granit và biến chất hình thành nhóm đất mùn trên núi cao và nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi.
Thuộc địa hình núi thấp nh khối Ch Đriu, Sa Thày, Bắc An Khê hoặc lộ ra trên các
cao nguyên đất đỏ bazan.
- Trầm tích bở rời Pleisoxen, Holoxen (còn đợc gọi là phù sa cổ) phân bố ở các bậc thềm cao
của các thũng và thung lũng nh Đăk Tô, Đăk Bla, (tỉnh Kon Tum), Ayunpa (tỉnh Gia Lai),
Krông Ana, Lai (tỉnh Đăk Lăk). Ngoài ra tại các thung lũng còn có các trầm tích hiện đại nh
phù sa sông, suối, sản phẩm dốc tụ.
- Khí hậu - thuỷ văn:
Do vị trí của địa hình đối với hớng gió mùa và do ảnh hởng của đai cao, nên khí hậu của
vùng bị phân dị. Nhiệt độ không khí trung bình năm thay đổi theo đai độ cao nh sau:
Vùng có độ cao 500-800m: Nhiệt độ trung bình 21-230C
Vùng có độ cao 800- 1100m: nhiệt độ trung bình 19-210C
Vùng có độ cao > 1500m: nhiệt độ trung bình 18
0
C
Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất từ 3 - 6
0
C.
16
Vùng có số giờ nắng cao (trừ Đà Lạt, Đăk Gley), các khu vực khác đạt 2000 - 2200 giờ
nắng/năm. Vì vậy những nơi có đủ nớc tới trong mùa khô, hiệu suất quang hợp rất lớn.
Tổng lợng bức xạ cao, lợng bức xạ thực tế nhận đợc tới 120 - 140 KCalo/cm
2
/ năm.
Chênh lệch bức xạ giữa tháng cực đại và tháng cực tiểu không đáng kể.
Lợng ma đạt bình quân 1900mm nhng phân bố không đều theo mùa và khu vực. Mùa
ma từ tháng 4 - 5 đến tháng 9 - 10 tập trung khoảng 85 - 90%
tổng lợng ma năm. Mùa
khô kéo dài 5-6 tháng chỉ nhận đợc 10-15% lợng ma của cả năm. Những khu vực có
lợng ma cao nh Pleiku, Bảo Lộc... Nơi có lợng ma thấp là Cheo Reo, Ayunpa.
ma lớn và phân hoá theo mùa. Nằm trong khu vực có lợng ma khá cao từ l 800-2 500mm
và phân làm 2 mùa: mùa ma kéo dài 6 tháng chiếm > 80% lợng ma của cả năm, 6 tháng
còn lại mùa khô có lợng ma thấp, chỉ chiếm < 20% lợng ma năm.
17
Do nằm ở địa hình cao của vùng, vì vậy mạng lới thuỷ văn khá tha thớt, chủ yếu là các con
suối đầu nguồn của sông Đồng Nai, ít có giá trị trong sản xuất nông nghiệp.
1.3.9. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long:
Chỉ có 2 huyện miền núi là Tịnh Biên, Tri Tôn thuộc tỉnh An Giang.
- Địa mạo - thổ nhỡng:
Là vùng đồi - núi sót của dãy núi từ Căm Pu Chia lan sang. Tuy độ cao tuyệt đối thấp, nhng
có độ cao chênh lệch lớn so với vùng đồng bằng thấp, bằng phẳng, bao bọc xung quanh. Lớp
phủ thổ nhỡng chủ yếu là nhóm đất xám và đất đỏ vàng trên đá trầm tích, sét kết.
- Khí hậu - thuỷ văn:
Nằm trong vùng có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình năm: 26- 27
0
C, lợng ma trung
bình 1 400- 1 500mm/năm.
Do nằm ở địa hình cao, nên hàng năm hoàn toàn không bị ngập lụt nh các khu vực xung
quanh, đồng thời cũng gặp khó khăn trong việc tới nớc cho cây trồng.
1.3.10. Nhận xét chung:
Kết quả nghiên cứu đánh giá các đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của các tỉnh
huyện vùng cao, miền núi có các mối quan hệ chính sau:
Có mối quan hệ giữa địa hình và đất.
Có mối quan hệ chặt chẽ giữa các tập hợp đá mẹ tạo thành lớp phủ thổ nhỡng.
Mối quan hệ tổng hợp của các yếu thành thành đất:
- Quan hệ giữa yếu tố địa hình và đất:
chủ yếu là sự phân hoá theo đai cao: càng lên cao nhiệt
độ càng giảm dần, trong quy luật phổ biến này, các loại đất có xu hớng phát triển nh sau:
Càng lên cao quá trình tích luỹ chất hữu cơ càng tăng, song tích luỹ mùn hữu hiệu
(nguồn cung cấp dinh dỡng trực tiếp cho cây trồng) càng giảm.
Trên vùng đá vôi: hình thành nhiều loại đất khác nhau phụ thuộc chặt chẽ vào thành
phần đá mẹ và sự di chuyển hợp chất chứa can xi cacbonat trong đá nh:
- Đất nâu đỏ phát triển trên đá vôi sét. Sét vôi, can xi bị rửa trôi mạnh, tích luỹ nhiều sắt
trong đất.
- Đất đen tại chỗ phát triển trên núi đá vôi giàu CaCO
3
- Đất đen bồi tụi ở các thung lũng đá vôi, tích luỹ các hợp chất canxi từ trên đa xuống.
- Mối quan hệ tổng hợp của các yếu tố đến đất:
Dới tác động tổng hợp của các yếu tố tự
nhiên và nhân sinh đã tạo ra các lớp phủ thổ nhỡng vùng đồi núi hết sức đa dạng, sự phân bố
lại vật chất theo quy luật sinh - địa hoá đã tạo nên các loại đất khác nhau theo vùng sinh thái
sẽ đợc giới thiệu cụ thể ở các phần sau.
19
Chơng 2
CáC QUá TRìNH THổ NHƯỡNG CHủ ĐạO
ở MIềN NúI Và VùNG CAO VIệT NAM
Lớp phủ thổ nhỡng hiện tại đợc hình thành do tác động tổng hợp của các yếu tố và quá
trình tạo đất. ở vùng núi kéo dài từ Bắc tới Nam do quá trình địa chất phức tạp hình thành
nhiều nhóm đá mẹ tạo đất có thành phần và tính chất khác nhau, địa hình (độ cao, độ dốc) đa
dạng, và hơn nữa khí hậu thời tiết rất biến đổi về chế độ nhiệt ẩm nên đã hình thành nhiều loại
đất khác nhau. Những đặc tính cơ bản của đất đai nh độ cao, độ dốc, độ dày tầng đất mịn,
thành phần cơ giới, độ phì nhiêu, chế độ nớc và nguồn nớc, đặc điểm khí hậu của vùng đất
núi là những yếu tố tác động tổng hợp đến các quá trình hình thành bỏ phong hoá và lớp phủ
thổ nhỡng. Các quá trình thổ nhỡng chủ đạo ở vùng đồi núi nớc ta là:
2.1. Quá trình phong hoá
ở điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm Việt Nam, đặc điểm cơ bản của các quá trình phong hoá hoá
học mạnh hơn quá trình phong hoá vật lý, nền nhiệt độ cao, nớc nhiều do có lợng ma lớn
và ẩm độ cao là tác nhân tạo nên phong hoá hoá học mạnh mẽ. Trong nớc có chứa nhiều
chất phản ứng vô cơ và hữu cơ... làm biến đổi thành phần khoáng vật và thành phần hoá học
của đá mẹ, đá mẹ bị phong hoá vụn bở tiếp tục phong hoá tạo đất. Có thể quan sát thấy đá mẹ
phong hoá đá mẹ tạo đất.
Theo đó độ cao vùng núi nớc ta nhiệt độ giảm đi, thông thờng dới 900m độ cao so với mặt
biển, khí hậu nóng ẩm. Từ 900m đến 1800-2000m khí hậu mát mẻ hơn, lên cao trên 1800-
2000 m khí hậu lạnh, mùa đông có thể có băng giá hoặc tuyết rơi, tuy diện tích không nhiều
và tập trung ở các vùng đỉnh núi nhng cũng cần đợc quan tâm vì có thể thích hợp với những
cây quý hiếm vùng á nhiệt đới và ôn đới nh các loại cây thuốc quý hiếm.
Sản phẩm phong hoá tạo đất nhiệt đới ẩm Việt Nam trong điều kiện lợng ma cao thờng
chứa ít các chất kiềm và kiềm thổ, và ít cả silic làm cho sắt và nhôm tăng lên một cách tơng
đối. Hàm lợng sắt cao (phần nhiều ở các dạng oxyt khác nhau) là nguyên nhân sinh ra màu
đỏ và vàng của các sản phẩm phong hoá và đất. Tên gọi "đất đỏ vàng'' trong bảng phân loại
đất Việt Nam cũng xuất phát từ đặc điểm này của quá trình phong hoá nhiệt đới ẩm. Khoáng
sét trong đất nhóm caolinit chiếm u thế, nhiều oxyt sắt và nhôm; chính vì vậy mà dung tích
hấp thu của đất thấp.
Quá trình phong hoá đá mẹ tạo đất ở vùng núi nớc ta nh đã trình bày đặc điểm chung ở
trên, liên quan đến hình thành đất và sử dụng đất, có một số đặc trng sau:
1. Quá trình phong hoá sâu sắc đá mẹ tạo đất, lớp vỏ phong hoá dày có thuận lợi là thờng
cho tầng đất mịn dày, tạo cho lớp phủ thực vật sinh trởng và phát triển tốt. Cùng với đặc
điểm khí hậu nóng ẩm và ma lớn, thông thờng mùa ma kèo dài 6 tháng hoặc hơn nữa nên
canh tác nhờ nớc trời thuận lợi, một số cây công nghiệp dài ngày không cần tới (nh cao
su) ở các tỉnh phía Bắc cà phê và chè không cần tới cũng có thể cho năng suất khá. Do thuận
lợi về đất đai và khí hậu, nên canh tác nơng rẫy mở rộng đã tàn phá nhiều diện tích rừng .
Độ phì nhiêu đất đai miền núi giảm thấp chính do canh lác nơng rẫy gây ra.
2. Thành phần khoáng và cấu trúc đá mẹ không những làm cho cờng độ phong hoá khác
nhau mà còn phát sinh các loại đất có tính chất và độ phì nhiêu khác nhau. Có thể tạm chia ra
4 nhóm đá mẹ phong hoá tạo đất khác nhau đáng kể:
Đất macma bazơ và trung tính: có rất ít khoáng bền trong quá trình phong hoá, lớp vỏ
phong hoá và đất dày. Đất có thành phần cơ giới nặng nhng tơi xốp, canh tác thuận lợi,
phần lớn diện tích đất ít dốc.
Trầm tích sét và phiến biến chất: lớp vỏ phong hoá và đất dày, đất ít tơi xốp hơn đất
bazan. Độ dốc rất thay đổi nhng tỷ lệ diện tích đất dốc khá lớn nên quá trình rửa trôi
caxtơ ở vùng đá vôi gây mất nớc nhanh. Đất đá vôi vùng cao ở Cao Bằng và Sơn La rất khô
hạn về mùa khô, khó khăn cho sản xuất và đời sống. Vùng cao đá vôi điều kiện sống các dân
tộc khó khăn hơn vùng cao trên đá macma bazơ khác.
Trên các đá mẹ bazơ khác: kết quả giải phóng các hợp chất giàu canxi, manh trong nhóm đất
mẹ siêu bazơ (secpentinit...) bazơ (bazan, gabrô...) đã hình thành vỏ phong hoá cacbonat và
các loại đất đen giàu CaCO
3
và MgCO
3
. Cần phân biệt 2 trờng hợp.
Đất đen hình thành tại chỗ: quanh miệng núi lửa cũ.
Đất đen bồi tụ: các hợp chất giàu cácbonat di chuyển từ nơi khác (vùng cao) tích luỹ ở
các vùng thấp tạo thành các loại đất đen bồi tụ. Các loại này phân bố nhiều ở các trũng
và thung lũng cao nguyên bazan Tây Nguyên.
2.2. Quá trình tích luỹ kết von đá ong trong đất
Nh đã trình bày ở phần trên, sản phẩm phong hoá ở vùng núi nớc ta chứa nhiều oxit sắt
nhôm. ở trạng thái ẩm yếm khí sắt hoá trị 2 di dộng, do vậy vùng núi cao ẩm ớt quanh năm
đất tích luỹ ít sắt có màu nhạt hơn. Vùng núi thấp mùa khô đất ở trạng thái hoá khí, sắt tích
luỹ nhiều tạo cho có màu đỏ vàng điển hình. Cũng chính sự xen kẽ mùa ma và mùa khô dẫn
tới hình thành kết von đá ong trong đất.
Quy luật phân bố kết von phổ biến nhất là chúng thích ứng theo từng loại địa hình nhất định.
Vùng núi cao ẩm ớt quanh năm kết von không hình thành; vùng núi thấp vùng đồi và cao
nguyên có mùa khô ngắn hoặc dài thì kết von và đá ong đợc hình thành có sự liên quan mật
thiết đến điều kiện địa hình và nớc mạch ngầm. ở vùng đồi kết von nhiều nhất, kết von
chùm hình thành nhiều nhất ở vùng chân đồi là nơi chuyển tiếp từ đồi xuống vùng thung lũng
bằng. ở đây các luồng nớc trong đất và nớc mạch ngầm bên sờn chảy mạnh nhất, xuống
đến chân đồi chảy chậm lại và dâng sát mặt đất tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình oxy hoá
hình thành kết von. Khoảng dao động mực nớc ngầm mùa ma và mùa khô là tầng tích luỹ
kết von, kết von chùm liên kết với nhau tạo thành đá ong.
Đất vùng đồi cũng thấy có tích tụ thứ cấp của kết von do các mảnh vụn đá gốc và khoáng vật
khoáng hoá giảm, hàm lợng mùn trong đất cao hơn, có tầng thảm mục, thờng gọi là đất
mùn thô trên núi cao.
Tỷ lệ cacbon của axit Humic trên cacbon axit Fulvic đất núi thấp thờng nhỏ hơn 1 thể hiện
rõ axit Fulvic trong thành phần mùn trội hơn axit Humic. Đây là đặc trng cho đất đỏ vàng
hình thành trong điều kiện nóng ẩm, nghèo bazơ. Chỉ có ở đất giàu bazơ nh đất đen trên đá
bọt núi lửa, đất mùn trên núi cao tốc độ phân giải chất hữu cơ chậm có axit Humic trội hơn
axit Fulvic; tỷ số cacbon axit Humic trên cacbon axit Fulvic biến động trong khoảng từ 1 đến
2.
Những đất có hàm lợng hữu cơ khoảng 3% trở nên đợc xếp vào đất thuận lợi cho canh tác,
đất dới 1% vào loại rất nghèo hữu cơ canh tác phải bón nhiều phân hữu cơ cho đất đã bị kiệt
màu.
Canh tác nơng rẫy ở miền núi làm giảm nhanh hàm lợng hữu cơ trong đất, vì vậy chỉ làm
đợc vài vụ phải bỏ hoang cho thảm thực vật khôi phục độ phì nhiêu đất đai. Do canh tác
nơng rẫy diện tích rừng đã bị phá lớn gấp nhiều lần diện tích thực canh tác.
2.4. Quá trình bồi tụ hình t
h
àn
h
đất bằng ở miền núi
Miền núi đất dốc chiếm tỷ lệ lớn, quá trình rửa trôi xói mòn đất dốc đã lắng đọng sản phẩm ở
các thung lũng, có thể là sản phẩm phù sa ven suối. Những cánh đồng phù sa diện tích lớn ở
miền núi là nơi dân c đông đúc, trọng điểm sản xuất nông nghiệp canh tác lúa nớc trên đất
bằng và cây trồng cạn trên đất dốc.
Thống kê diện tích đất các cánh đồng ở miền núi cho thấy những vùng đồng bằng lớn tập
trung ở Tây Nguyên: Đạ Tẻh (Lâm Đồng) khoảng 40 nghìn ha, Easoup (Đăk Lăn) 60 nghìn
ha, Krông Ana (Đăk Lăn) 20 nghìn ha, Ajunpa (Gia Lai) 170 nghìn ha, Dakbla (Kon Tum) 5
nghìn ha. ở Tây Nguyên không những tiềm năng đất bazan lớn mà còn có nhiều vùng đất
23
bằng lớn cần đợc khai thác triệt để trồng cây lơng thực: ngoài các vùng trên còn nhiều vùng
đất bằng lớn cha đợc khảo sát kỹ nh vùng đất bằng Bắc Easoup thuộc huyện Ch Prông,
2000m).
Diện tích 193.570 ha tơng đơng 1% diện tích các tỉnh huyện miền núi và vùng cao Việt
Nam (TDTN). Có ở các tỉnh núi cao của dãy Hoàng Liên Sơn, Ngọc Linh, Ch Jang Sin,
thuộc đai cao từ 2000m trở lên. Khí hậu hầu nh lạnh, ẩm quanh năm, nhiệt độ không khí
bình quân < 15
0
C, đỉnh Phăng Xi Păng và một số ngọn núi phía Bắc mùa đông thờng có
băng giá. Thực vật thờng là địa y, đỗ quyên, trúc lùn và một số cây lá kim ôn đới.
Do ở điều kiện nhiệt độ thấp, tốc độ phong hoá yếu, đất thờng có tầng mỏng, lẫn nhiều mảnh
vụn của đá nguyên sinh. Trên mặt đất luôn quan trắc thấy tầng thảm mục hoặc lớp thô than
bùn trên núi. Quá trình hình thành và tích luỹ mùn là quá trình hình thành đất chủ đạo của
nhóm này.
Nhóm gồm 2 đơn vị:
- Đất mùn Alit núi cao
- Đất mùn thô than bùn núi cao
Vì đất mùn thô than bùn núi cao diện tích quá nhỏ (chỉ có ở đỉnh Phăng Xi Păng) nên đợc
gộp chung với đất mùn Alit núi cao để mô tả đặc điểm.
Đại diện là 2 phẫu diện: 356: lấy tại cao điểm 1950m thuộc huyện Phong Thổ (Lai Châu) và
phẫu diện 396 lấy tại cao điểm 2900m thuộc huyện Sa Pa (Lào Cai).
Hình thái phẫu diện 356:
Ao (0-1cm): Lớp thảm mục ẩm ớt
AoA1 (1-7cm): Đen nâu (5YR3/2.m.) Cát pha, rất ẩm, nhiều rễ cây chằng chịt, cấu trúc
hạt, không bền, rất xốp, bùng nhùng, chuyển lớp khá rõ.
A1 (7-27cm): Xám, nâu đen (5YR3/2.M.) ẩm ớt, cát pha, cục nhỏ, dễ vỡ, tơi xốp,
nhiều rễ cây, chuyển lớp rõ.
Af (27-32cm): Nâu xám trắng (5YR7/1.M), ẩm ớt, cát pha, không cấu trúc, lẫn nhiều ổ
sét trắng, chuyển lớp từ từ.
25
Bảng 3.1. Kết quả phân tích thành phần cơ giới phẫu diện 356
C,
so với vùng đồi thảm thực vật còn tốt hơn, nhiều khu vực nh Khân Đức, Hiên, Giằng (Quảng
Nam), Ngọc Linh (Kon Tum), Ch Jang Sin (Đăk Lăk), Lang Biang (Lâm Đồng)... còn giữ
đợc khá nhiều diện tích rừng nguyên sinh. Vì địa hình cao, dốc nhiều, chia cắt mạnh nên
những nơi mất rừng đất bị xói mòn mạnh.
Diện tích nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi 3.239.717 ha, chiếm 16,14% TDTN, gồm 5 đơn vị:
- Đất mùn đỏ nâu trên đá vôi (ký hiệu Hv):
Diện tích 66.148 ha chiếm 2% diện tích nhóm đất và 0,3% TDTN, có mặt tại cao nguyên
Đồng Văn- Mèo Vạc, Quản Bạ, Phong Thổ, Sình Hồ, Tủa Chùa, Mộc Châu. Tuy ở địa hình
cao nhng ít dốc, tầng đất dày, tơi xốp cấu tợng tốt, tầng mùn khá dày, thành phần cơ giới
trung bình đến nặng.
Phẫu diện 234 lấy tại độ cao 950m phía Nam nông trờng Mộc Châu tiêu biểu cho đơn vị đất
này.