Tài liệu Đề tài " hạch toán hàng hoá xuất nhập khẩu uỷ thác tại đơn vị uỷ thác và đơn vị nhận uỷ thác cùng với môt số kiến nghị về hoat động này ở Việt Nam " - Pdf 87



…………..o0o…………..
Đề Tài: hạch toán hàng hoá xuất nhập
khẩu uỷ thác tại đơn vị uỷ thác và đơn vị
nhận uỷ thác cùng với môt số kiến nghị
về hoat động này ở Việt Nam 1
LỜI NÓI ĐẦU

Đường lối kinh tế và chiến lược phát triển kinh tế của nước ta là "Đẩy mạnh

ngoại tệ, giá khoán động sản hay bất cứ một loại giấy tờ nào. Những cuộc
thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các "Hợp đồng" mua bán, trao
đổi thực hiện ngay, kể cả những hợp đồng cho tương lai 3 tháng, 6 tháng hoặc
một năm sau mới thực hiện.
Những cuộc trao đổi này lúc đầu chỉ có một nhóm nhỏ, dần dần số người
tăng lên. Đến cuối thế kỷ 15 "khu chợ riêng" này trở thành một "thị trường"
và thời gian họp chợ rút xuống hàng tuần và sau đó là hàng ngày. Trong các
phiên chợ này họ thống nhất với nhau những quy ước cho các cuộc thương
lượng. Dần dần những quy ước đó được tu bổ hoàn chỉnh thành những quy
tắc có giá trị bắt buộc đối với những người tham gia. Từ đó thị trường chứng
khoán bắt đầu hình thành.

3
Phiên chợ đầu tiên năm 1453 tại đai Vanber của Bỉ sau đó được xuất hiện ở
Anh năm 1773, ở Đức 1778, ở Mỹ 1792, ở Thụy sĩ 1876, ở Nhật 1878, ở
Pháp 1801, ở Hương Cảng 1946, ở Inđônêxia 1925, ở Hàn Quốc 1956, ở Thái
Lan 1962, ở Malaysia và Philipin 1963.
Quá trình hình thành và phát triển của các thị trường chứng khoán thế giới
đã trải qua những bước thăng trầm. Thời kỳ huy hoàng vào những năm 1975 -
1913 cùng với sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế. Cũng có lúc thị
trường chứng khoán rơi vào đêm đen như ngày thứ năm đen tối tức ngày
29/10/1929 rồi ngày thứ hai đen tối năm 1987, vừa qua tháng 7/97 thị trường
chứng khoán ở các nước Châu Á sụt giá, mất lòng tin bắt đầu từ Thái Lan.
Đến nay thị trường chứng khoán các nước đang phát triển mạnh mẽ về số
lượng thị trường chứng khoán lên đến 160 sở giao dịch, chất lượng hoạt động
thị trường ngày càng đáp ứng cho số đông những nhà đầu tư trong và ngoài
nước, tiến tới một thị trường chứng khoán hội nhập khu vực và quốc tế.
Hiện nay thị trường chứng khoán đã phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nước
công nghiệp hàng đầu Mỹ, Nhật, Anh, Đức, Pháp… Bên cạnh đó hơn 40 nước
phát triển đã thiết lập thị trường chứng khoán cũng đã hình thành ở các nước

Hoàng Thạch vào cuối năm 994, một số doanh nghiệp khác cũng có hình thức
huy động vốn này để vay của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.
Kỳ phiếu là chứng chỉ của nhà nước phát hành với mục đích vay vốn của
các tổ chức kinh tế xã hội, các tầng lớp dân cư để bù đắp vào thâm hụt của
ngân sách Nhà nước. Trong vài năm trở lại đây, kho bạc nhà nước đã phát
hành kỳ phiếu kho bạc rộng rãi trong cả nước.
b. Thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán (tiếng latinh là Bursa - nghĩa là cái ví tiền) là nơi
mà cung và cầu của các loại chứng khoán gặp nhau để xác định giá cả. Số
lượng của từng loại chứng khoán được giao dịch trên thị trường.

5
Cụ thể hơn thị trường chứng khoán có thể được định nghĩa như là nơi tập
trung các nguồn tiết kiệm để phân phối lại cho người muốn sử dụng những
nguồn tiết kiệm đó theo giá mà người sử dụng sẵn sàng trả. Nói cách khác thị
trường chứng khoán là nơi tập trung và phân phối các nguồn đầu tư này, có
thêm nhiều vốn hơn để đưa vào sản xuất trong nền kinh tế vì vậy có thể làm
cho nền kinh tế tăng trưởng và tạo nên sự thịnh vượng.
Theo định nghĩa nêu trên, thị trường chứng khoán không phải là cơ quan
mua vào hoặc bán ra các loại chứng khoán. Thị trường chứng khoán chỉ là nơi
giao dịch, ở đó việc mua bán chứng khoán được thực hiện bởi những người
môi giới chứng khoán. Như vậy thị trường chứng khoán không phải là nơi
giao dịch (mua - bán) chứng khoán của những người muốn mua hay bán
chứng khoán mà là của những nhà môi giới. Nếu một người muốn mua hay
bán chứng khoán, người này sẽ thông qua người môi giới chứng khoán của
anh ta trên thị trường chứng khoán để tiến hành việc mua bán chứ không trực
tiếp tham gia mua bán. Giá cả chứng khoán được hình thành một cách khách
quan theo hệ thống bán đấu giá hai chiều. Người môi giới mua khác được với
giá thấp nhất, người môi giới bán cạnh tranh với những người môi giới bán
khác để bán được giá cao nhất. Vì thế mà thị trường chứng khoán là thị

chúng và các tờ nhật báo lớn ở các nước chỉ số chứng khoán phản ánh tình
hình hoạt động của các công ty trên thị trường. Nếu các công ty làm ăn có lãi,
giá chứng khoán của các công ty đó sẽ tăng và làm tăng theo chỉ số chứng
khoán. Ngược lại, chỉ số chứng khoán sẽ giảm. Dựa vào chỉ số chứng khoán,
các nhà đầu tư có thể xác định được hiệu quả của một cổ phiếu hoặc một
danh mục các chứng khoán để đầu tư vào.
Bất kỳ một thị trường chứng khoán nào cũng có một chỉ số chứng khoán của
riêng nó. Ví dụ thị trường chứng khoán New york có chỉ số Dow Jones, thị

7
trường chứng khoán Tokyo áp dụng chỉ số Nikkei, Hong Kong áp dụng chỉ số
Hang - xieng, Singapore áp dụng chỉ số "Strai taime"…
Một loại chỉ số chứng khoán được nhiều người biết đến nhất là chỉ số Dow
Jones ra đời cách đây vừa tròn 100 năm (896). Chỉ số này được coi như một
cột mốc của thị trường chứng khoán thế giới. Chỉ số này do hai nhà kinh tế
Mỹ Edward David Jones và Charles Hery Dow đề xuất đo lường mức độ biến
động của thị giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán New York. Chỉ số Dow
Jones bao gồm 65 loại cổ phiếu được chia thành 3 nhóm chỉ số bình quân nhỏ
như sau:
+ Chỉ số Dow Jones công nghiệp bao gồm giá cổ phiếu của 30 công ty hàng
đầu ngành công nghiệp công lại rồi chia cho 1504 (con số này có khi có
giảm).
+ Chỉ số Dow Jones vận tải bao gồm giá cổ phiếu của 20 công ty hàng đầu
ngành giao thông vận tải cộng lại chia cho 2785 (con số này có khi tăng).
+ Chỉ số Dow Jones dịch vụ công cộng bao gồm giá cổ phiếu của 15 công ty
hàng đầu ngành dịch vụ công cộng.
Để biết được tình hình phát triển kinh tế gần đây người ta xác định thêm một
số tiêu chuẩn khác. Đó là các điểm giới hạn và điểm liệt. Chẳng hạn điểm giới
hạn của chỉ số Dow Jones là 800, điểm liệt là 700. Nếu chỉ số Dow Jones
hàng ngày vượt quá 800 điểm chung trong nền kinh tế đang đi lên, nếu dưới

Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp gộp lại được gọi là thị trường chứng
khoán. Hai thị trường này tồn tại quan hệ mật thiết với nhau được ví dụ như
hai bánh xe của một chiếc xe, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề,
thị trường thứ cấp là động lực. Nếu không có thị trường sơ cấp thì sẽ chẳng có
chứng khoán để lưu thông trên thị trường thứ cấp và ngược lại, nếu không có
thị trường thứ cấp thì việc hoán chuyển các chứng khoán thành tiền sẽ bị khó

9
khăn, khiến cho người đầu tư sẽ bị thu nhỏ lại, hạn chế khả năng huy động
vốn trong nền kinh tế.
Việc phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt
lý thuyết. Trong thực tế tổ chức thị trường chứng khoán không có sự phân
biệt đâu là thị trường sơ cấp và đâu là thị trường thứ cấp. Nghĩa là, trong một
thị trường chứng khoán vừa có giao dịch của thị trường sơ cấp vừa có giao
dịch của thị trường thứ cấp. Vừa có việc mua bán chứng khoán theo tính chất
mua đi bán lại.
Tuy nhiên, điểm cần chú ý là phải coi trọng thị trường sơ cấp, vì đây là thị
trường phát hành là hoạt động tạo vốn cho đơn vị phát hành đồng thời phải
giám sát chặt chẽ thị trường thứ cấp, không để tình trạng đầu cơ lũng đoạn thị
trường để đảm bảo thị trường chứng khoán trở thành công cụ hữu dụng của
nền kinh tế.
3. Sở giao dịch chứng khoán:
Thị trường chứng khoán chính thức được tổ chức theo hình thức Sở giao
dịch chứng khoán.
a. Các hình thức tổ chức sở giao dịch chứng khoán.
Hiện nay trên thế giới có 3 hình thức tổ chức sở giao dịch chứng khoán.
Thứ nhất: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức theo hình thức "Câu lạc
bộ" tự nguyện của các thành viên. Trong hình thức này, các thành viên của sở
giao dịch (hội viên) tự tổ chức và tự quản lý sở giao dịch chứng khoán theo
pháp luật không có sự can thiệp của nhà nước. Các hội viên của Sở giao dịch

khoán quốc gia đưa vào. Hội đồng quản trị có quyền quyết định nhưng thành
viên nào được phép buôn bán tại sở giao dịch, những loại chứng khoán nào đủ
tiêu chuẩn được phép niêm yết tại phòng giao dịch. Hội đồng này có quyền
đình chỉ hoặc huỷ bỏ việc niêm yết một chứng khoán nào đó. Hội đồng quản
trị có quyền kiểm tra quá trình kinh doanh của các thành viên sở giao dịch.

11
Nếu phát hiện vi phạm, Hội đồng quản trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc
kinh doanh của thành viên trong một thời gian nhất định hoặc trục xuất không
cho phép mua bán trên sở giao dịch. Nếu phát hiện vi phạm, Hội đồng quản
trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc kinh doanh của thành viên trong một thời
gian nhất định hoặc trục xuất không cho phép mua bán trên sở giao dịch
chứng khoán nữa. c. Thành viên sở giao dịch chứng khoán.
Thành viên sở giao dịch chứng khoán có thể là các cá nhân hoặc các công ty
chứng khoán. Để trở thành thành viên của sở giao dịch chứng khoán trước hết
công ty phải được công ty có thẩm quyền của nhà nước cấp giấy phép hoạt
động. Phải có số vốn tối thiểu theo quy định, có chuyên gia kinh tế, pháp lý đã
được đào tạo về phân tích và kinh doanh chứng khoán. Ngoài ra công ty còn
phải thoả mãn các yêu cầu của từng sở giao dịch chứng khoán cụ thể. Một
công ty chứng khoán có thể là thành viên của nhiều sở giao dịch chứng khoán
khác nhau nhưng không được là thành viên của thị trường chứng khoán phi
tập trung và ngược lại công ty chứng khoán có thể thực hiện một hay nhiều
nghiệp vụ khác nhau trên thị trường chứng khoán.
d. Giám sát thị trường chứng khoán.
Để đảm bảo cho các giao dịch được công bằng đảm bảo lợi ích của các nhà
đầu tư, sở giao dịch chứng khoán có một bộ phận chuyên theo dõi giám sát
các giao dịch chứng khoán để ngăn chặn kịp thời các vi phạm trong giao dịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status