Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài : Những biện pháp cần được áp
dụng nhằm nâng cao hiệu quả thu xếp và
huy động vốn tại công ty tài chính dầu
khí
Lời nói đầu
Đất nước chúng ta đang trong thời kỳ đổi mới và thúc đẩy phát triển
nền kinh tế thị trường với sự quản lý của nhà nước.Nền kinh tế thị trường tạo
ra cho cac doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều cơ hội thuận lợi và củng
không ít những khó khăn, thách thức mà các doanh nghiệp cần phải nỗ lực
phấn đấu để hoạt động nhằm đem lại hiệu quả cho nền kinh tế.
Các tổ chức, các doanh nghiệp không ngừng cải tiến tổ chức hoạt động
doanh nghiệp của mình nhằm tạo ra sức mạnh cạnh tranh với các tổ chức
doanh nghiệp khác.
Một trong những yếu tố rất quan trọng đối với các tổ chức doanh
nghiệp đó là vấn đề về tài chính của doanh nghiệp.Đứng trước những yêu
cầu cấp thiết đó Tổng công ty dầu khí Việt Nam đã lựa chọn và đưa ra những
giải pháp được thảo luận trong nhiều năm và đi đến quyết định thành lập nên
công ty tài chính dầu khí.
Như chúng ta đã biết, Tổng công ty dầu khí Việt Nam đóng góp một tỷ
lệ lớn vào thu Ngân sách của nhà nước,nó gánh vác một trọng trách trong
Sản xuất cái gì
Sản xuất như thế nào
Sản xuất cho ai
Nhưng trước tiên để bắt tay vào 3 quá trình sản xuất như nêu trên thì
doanh nghiệp phải cần một khoản đầu tư ban đầu đó là vốn.
Vậy vốn là gì?
Theo các nhà kinh tế học thì họ đã đưa ra những quan điểm sau về vốn.
Theo cuốn kinh tế học của D.Begg thì đã đưa ra 2 định nghĩa sau về
vốn.
Thứ nhất đó là về vốn hiện vật: Đó là dự trữ hàng hoá đã sản xuất ra để
sản xuất các hàng hoá khác.
Thứ hai đó là về vốn tài chính:Đó là tiền và các giấy tờ có giá của
doanh nghiệp.
Theo quan điểm của K.Marx thì: Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng
dư,là đầu vào của quá trình sản xuất.
Các nhà kinh tế học đều thống nhất đó là: Vốn đó là đầu vào của quá
trình sản xuất,kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích tối đa hoá giá
trịchủ sở hữu.
2. Vốn - quyền sở hữu và quyền sử dụng.
Khó khăn lớn nhất trong cơ chế quản lý đối với DNNN là vấn đề sử lý
quan hệ giữa quyền sở hữu vốn của nhà nước và quyền sử dụng vốn và tài
sản của doanh nghiệp. Bên cạnh những lợi thế so với doanh nghiệp tư nhân
về các mặt hoạt động, DNNN cũng có những điểm hạn chế phát sinh từ vấn
đề sở hữu và sử dụng vốn. ở doanh nghiệp tư nhân, người sở hữu vốn là
người quản lý vốn luôn luôn được đặt trong mối quan hệ phụ thuộc sống
còn. Do đó, cơ chế quản lý của loại doanh nghiệp này được hình thành một
cách tự nhiên và rất chặt chẽ. Nói cách khác, ở doanh nghiệp tư nhân, quyền
sở hữu và quyền sử dụng luôn được" nhân cách hoá", tức là có con người cụ
thể gắn bó với những con người đó. Còn ở DNNN thì quyền sở hữu nhà
nước rất mơ hồ, không có con người cụ thể đảm nhận hoặc đại diện với sự
quan, song ngay ở đây, đã hàng chục năm nay, cuộc tranh luận về quyền sở
hữu và quyền sử dụng cũng chưa ngã ngũ. Người ta vẫn chưa thể "nhân cách
hoá" được quyền sở hữu và quyền sử dụng và thậm chí, ranh giới hoạt động
của hai loại quyền này cũng chưa rỏ ràng.
ở nước ta, các ý kiến tranh luận về vấn đề này cũng rất sôi nổi và đa
dạng. Có người cho rằng, không có vấn đề phân biệt quyền sở hữu và quyền
sử dụng, mà hai quyền này phải được hợp nhất vào một cá nhân - giám đốc
doanh nghiệp. ý kiến khác thì nhấn mạnh tới vai trò của nguời lao động, coi
tập thể lao động là người đại diện cho quyền sở hữu của Nhà nước tại doanh
nghiệp. Lại có người cho rằng, người đại diện cho quyền sở hữu của Nhà
nước là cơ quan chủ quản. Mổi ý kiến vừa nêu đều chứa đựng những luận cứ
có sức thuyết phục nhất định. Song bên cạnh đó, vẫn có những thiếu sót hoặc
sai lầm.Thực vậy, người giám đốc của DNNN cũng như doanh nghiệp cổ
phần không thể là người có quyền hoặc đại diện cho quyền sở hữu của Nhà
nước hay của cá cổ đông. Chỉ có ở doanh nghiệp tư bản tư nhân, khi nhà tư
bản tự bỏ vốn kinh doanh thì hai quyền sở hữu và sử dụng mới nhập vào cá
nhân anh ta. Còn người lao động trong doanh nghiệp, thì nghĩa vụ lớn nhất
của anh ta là làm việc có hiệu quả để thu nhập cao cho gia đình và bản thân.
Thêm vào đó, ở vị trí của mình, người lao động không thể có đủ điều kiện,
trình độ và khả năng để đảm nhận chức năng là người chủ sở hữu. Cuối
cùng, ý kiến có vẻ hợp lí hơn cả là cơ qua chủ quản thực hiện quyền sở hữu
vốn và tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp. Cơ qua chủ quản là ai? Phải
chăng là UBND huyện, tỉnh, là các bộ và liên hiệp? ở đây, cần phân biệt hai
chức năng quản lý là chức năng quản lý kinh tế - kĩ thuật và chức năng quản
lí vốn. Xu hướng phát triển kinh tế ở nước ta đòi hỏi phải tập trung chức
năng quản lý kinh tế- kĩ thuật vào các bộ và cơ quan ngang bộ, hạn chế và
tiến tới xoá bỏ mô hình phân cấp quản lý kinh tế cho chính quyền địa
phương như hiện nay. Như vậy, UBND các cấp không có lí do gì để thực
hiện vai trò là người chủ sở hữu về vốn và tài sản của DNNN. Còn các bộ
chủ quản, chức năng của nó là quản lí về mặt kinh tế và kĩ thuật, không có
liên quan. Điều chưa rõ ràng ở đây là nội dung của quyền sử dụng vốn.
Trong cơ chế bao cấp, Giám đốc doanh nghiệp chỉ thực hiện chức năng quản
lý và diều hành các hoạt động của doanh nghiệp. Song anh ta không có
quyền sử dụng vốn. vậy đây cần phân biệt quyền điều hành sản xuất ( bố trí
nhân lực, chỉ đạo thực hiện kế hoạch v.v…) với quyền sử dụng vốn ( bố trí
sử dụng các nguồn vốn) Quyền sử dụng vốn trong giai đoạn này tập trung
vào tay nhà nước. Chỉ từ sau nghị quyết 217- HĐBT, thì quyền sử dụng vốn
của Giám đốc doanh nghiệp mới được xem xét. Tuy nhiên, ở giai đoạn này
chưa có sự tách bạch rach ròi giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng. Có thế
xác định hai quyền này như sau:
Thứ nhất, quyền sở hữu vốn là quyền của người có vốn tại doanh
nghiệp. Nội dụng của quyền này là quyết định mặt hàng sản xuất và phương
hướng sản xuất cũng như các chỉ tiêu kế hoạch về doanh lợi do sử dụng vốn
mang lại. Đồng thời quyền sở hữu vốn cũng cho phép tham dự và quyết định
phân phối thu nhập, trong đó có thu nhập mà người sở hữu được hưởng từ
nguồn vốn của mình.
Thứ hai, là quyền sử dụng vốn. Người sử dụng vốn có quyền dùng vốn
đó để hoạt đọng kinh doanh. Anh ta phải chịu sự chi phối của người sở hữu
về các vấn đề thuộc quyền của người sở hữu như vừa nêu trên. Đồng thời,
anh ta được hoàn toàn tư do sử dụng các nguồn vốn và tài sản đối với các
vấn đề khác thuộc chức năng kinh doanh của mình trong khuôn khỏ của
pháp luật. Nghĩa vụ của người sử dụng vốn là phải bảo toàn và phát triển
vốn, phải nộp phần lợi nhuận do nguồn vốn mang lại cho người sở hữu vốn.
Thực tế mấy năm gần đây cho thấy hoạt động của các doanh nghiệp không
giống nhau, có nơi giám đốc doanh nghiệp bị tước cả quyền sử dụng. Có nơi
thì ngược lại hoạt động của Giám đốc doanh nghiệp đã xâm phạm cả vào
quyền của người sở hữu vốn. Việc sử lý tình trạng trên đang là một đòi hỏi
cấp thiết của nền kinh tế và đòi hỏi đó phải được thực hiện bằng các văn bản
pháp luật mà trước hết và quan trọng nhất là luật doanh nghiệp Nhà nước.
3. Các loại vốn được giao bao gồm:
Nguồn hình thành Phạm vi
1
Nguồn vốn cố định
-Ngân sách cấp
-Xí nghiệp tự bổ sung
Giao cho doanh
nghiệp
2
Nguồn vốn lưu động
-Ngân sách cấp
-Xí nghiệp tự bổ sung
Giao cho doanh
nghiệp
3
Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản
-Ngân sách cấp
-xí nghiệp tự bổ sung
Giao cho doanh
nghiệp
4
Các quỹ xí nghiệp
-Quỹ khuyến khích PTSX
-Quỹ dự trữ tài chính
-Quỹ dự phòng
-Quỹ rủi ro
-Quỹ bảo toàn vốn
Giao cho doanh
nghiệp
5
Lợi nhận chưa phân phối Giao cho doanh
Không giao cho
doanh nghiệp
1. Sự cần thiết của bảo toàn và phát triển vốn.
a. Khái niệm:
Bảo toàn và phát triển vốn Sản xất kinh doanh dối với các doanh
nghiệp quốc doanh là nội dung cốt lõi của quy chế giao vốn.Giao vốn tạo ra
sự chủ động cho doanh nghiệp trong quá trình sử dụng vốn và hoạt động sản
xuất kinh doanh,đồng thời gắn trách nhiệm của doanh nghiệp đối với việc
bảo toàn và phát triển vốn nhà nước giao.
1.1. Bảo toàn và phát triển vốn được hiểu:
Bảo toàn vốn ở các doanh nghiệp quốc doanh được thực hiện trong quá
trình sử dụng vốn vào mục đích sản xuất-kinh doanh đảm bảo cho các loại
tài sản khong bị hư hỏng trước thời hạn,không bị mất mát hoặc ăn chia vào
vốn.Đồng thời người sử dụng vốn phải thường xuyên duy trì được giá trị
đồng vốn củ mình,thể hiện bằng năng lực sản xuất của TSCĐ, khả năng mua
sắm vật tư cho khâu dự chữ và tài sản lưu động nói chung,duy trì khả năng
thanh toán của xí nghiệp.
1.2. Sự cần thiết của chế độ bảo toàn và phát triển vốn:
Trước hết xuất phát từ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,tài chính đối với
các doanh nghiệp quốc doanh.Chuyển sang nền kinh tế thị trường,các doanh
nghiệp quốc doanh hoạt động theo phương thức hạch toán kinh doanh,nhà
nước không tiếp tục bao cấp về vốn cho các xí nghiệp như trước đây.Để duy
trì và phát triển sản xất kinh doanh trong các doanh nghiệp phải bảo toàn
,giữ gìn số vốn được nhà nước đầu tư,tức là kinh doanh ít nhất phải đảm bảo
hoà vốn,bù đắp được số vốn bỏ ra để sản xuất giản đơn.
1.3. Thực tiễn Bảo toàn và phát triển vốn :
Xuất phát từ điều kiện thực tiễn của nền kinh tế còn lạm phát,giá cả
biến động lớn,sức mua đồng tiền Việt Nam biến động nhiều và nhìn chung là
suy giảm,nếu tiếp tục duy trì cơ chế giá thấp như nhiều năm trước đây,thì số
nghiệp bổ sung trong kỳ.
Vốn cố định phải bảo toàn đến cuối kỳ của doanh nghiệp được xác định
theo công thức :
Số vốn Hệ số Tăng,giảm
Cố định Số vốn Khấu hao điều chỉnh vốn trong
Phải bảo = được giao - cơ bản giá trị kỳ
Toàn đến đầu kỳ trích trong TSCĐ
Cuối kỳ kỳ Trong công thức trên:
Số vốn được giao đầu kỳ(hoặc số vốn phải bảo toàn đến đầu kỳ) là số
vốn cố định được giao lần đầu (không bao gồm số dư khấu hao cơ bản để lại
xí nghiệp) hoặc số vốn cố định là được điều chỉnh theo các hệ số phải bảo
toàn đến đầu kỳ sau.
Khấu hao cơ bản trích trong kỳ chỉ bao gồm khấu hao cơ bản của những
TSCĐ hiện có đến đầu kỳ(không bao gồm khấu hao cơ bản của những TSCĐ
tăng trong kỳ)
Hệ số điều chỉnh giá trị TSCĐ do các cơ quan có thẩm quyền công bố
áp dụng cho nghành kinh tế kỹ thuật và cho từng nguồn hình thành
TSCĐ(nhập khẩu ,đầu tư,mua sắm trong nước)
Đối với vốn cố định tăng,giảm trong kỳ,hệ số điều chỉnh giá trị TSCĐ
được xác định cho từng trường hợp cụ thể trên cơ sở giá cả thực tế của
TSCĐ khi tăng,giảm và thời điểm giảm,tăng vốn trong kỳ.
Căn cứ vào kết quả xác định số vốn phải bảo toàn theo công thức nêu
trên,các doanh nghiệp phải tiến hành điều chỉnh tăng giá trị TSCĐ và vốn cố
định theo các hệ số điều chỉnh tương ứng với từng loại TSCĐ.
Phần chênh lệch thiếu hay số vốn cố định chưa bảo toàn đủ( số vốn cố
định đã bảo toàn được phải nhỏ hơn số vốn cố định phải bảo toàn) Phải được
khâu:Vật tư dự trữ,bán thành phẩm,sản phẩm dỡ dang và thành phẩm để bổ
sung vốn lưu động.
Tổng số chênh lệch giá(sau khi đã bù trừ giữa các khoản chênh lệch
tăng và giảm) được hạch toán bổ sung các nguồn vốn lưu động ngân sách
cấp và doanh nghiệp tự bổ sung.Việc phân định các khoản chênh lệch giá để
bổ sung các nguồn vốn lưu động ngân sách cấp và xí nghiệp tự bổ sung vào
doanh nghiệp được căn cứ vào tỷ trọng của từng nguồn trong tổng số vốn lưu
động nhà nước giao cho doanh nghiệp.
Số vốn lưu động sau khi được điều chỉnh giá tài sản lưuđộng thực tế tồn
và nghi tăng nguồn vốn lưu động ở thời điểm cuối nămlà số vốn thực tế đă
bảo toàn được của doanh nghiệp.
Cơ quan quản lý cấp trên doanh nghiệp và cơ quan tài chỉnh phải xác
định hệ số bảo toàn vốn lưu động hàng năm cho từng nghành , từng doanh
nghiệp.Hệ số trượt giá bình quân của vốn lưu động được tính phù hợp với
đặc điểm cơ cấu tài sản lưu động từng nghành,từng doanh nghiệp trên cơ sở
mức tăng giảm giá thực tế cuối năm so với đầu năm của một số vật tư chủ
yếu tính theo cơ cấu kế hoạch của từng doanh nghiệp.
Số phải bảo toàn hàng năm về vốn lưu động của doanh nghiệp được
tính theo công thức sau:
Số vốn lưu động Số vốn đã được Hệ số trượt giá vốn
Phải bảo toàn = giao(hoặc phải lưu động của doanh
đến cuối năm bảo toàn hàng nghiệp trong năm
báo cáo năm )
Trong công thức trên:
Số vốn đã được giao là số vốn lưu động giao lần đầu cho doanh nghiệp
đã được xác định trong biên bản giao nhận vón; số vốn phải bảo toàn đến
đầu năm là số vốn được giao nhận đã điều chỉnh theo hệ số bảo toàn vốn đén
đầu năm sau.
nghiệp chịu trách nhiệm trực tiếp trước Nhà nước về việc lập báo cáo kịp
thời quyết toán tài chính theo định kỳ, trong đố xác định kết quả sản xuất
kinh doanh và việc thực hiện chế độ bảo toàn và phát triển vốn của doanh
nghiệp.
Mọi tổn thất, hao hụt vốn và không bảo toàn được vốn phát sinh trong
nhiệm kỳ giám đốc nào thì giám đốc đó phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật cho đến khi xư lý xong.
Bộ tài chính cùng với bộ chủ quản, trên cơ sở tham khảo ý kiến của Uỷ
ban vật giá Nhà nước và Tổng cục thống kê, xác định và công bố hệ số điều
chỉnh giá trị TSCĐ vào các thời điểm 01/1 và 01/7 hàng năm, phù hợp với
đặc điểm TSCĐ theo từng ngành kinh tế kỹ thuật.
Thủ trưởng cơ quan và cơ quan quản lý tài vụ doanh nghiệp quốc doanh
của Bộ (sở) tài chính chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhà nước về việc phê
duyệt quyết toán hàng năm của doanh nghiệp, xử lý các trường hợp không
bảo toàn được vốn theo đúng các quy định hiện hành đã nêu ở phần trên.
3. Đánh giá doanh nghiệp về phương diện sử dụng vốn.
Kinh doanh là một hoạt động kiếm lời, lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu
của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Để đạt tới lợi nhuận tối
đa các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý sản xuất-
kinh doanh, trong đố quản lý và sử dụng vốn là một bộ phần rất quan trọng,
cố ý nghĩa quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Do vậy , khi
đẫ chuyến sang hạch toán kinh doanh, được trao quyền chủ động trong việc
sử dụng vốn, trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn, các doanh nghiệp nhà
nước phải quan tâm đúng mức đến hiệu quả sử dụng vốn. Muốn vậy các
doanh nghiệp phải thường xuyên tự đánh giá mình về phương diện sử dụng
vốn, qua đó, thấy được chất lượng quản lý sản xuất kinh doanh, khả năng
khai thác các tiềm năng sẵn có, biết được mình đang ở cung đoạn nào trong
quá trình phát triển ( thịnh vượng hay suy thoái), đang ở vị trí nào trong quá
trình thi đua, cạnh tranh với các xí nghiệp khác…
Qua phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nhằm có biện pháp tăng
sử dụng( không kể số vốn bị chiếm dụng), được tính như sau:
Hsx =
Vsx
D
Trong đó: Hsx-Hệ quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
D -Doanh thu hoặc sản lượng sản phẩm tiêu thu trong kỳ
Vsx-Số dư bình quân vốn sản xuất kinh doanh.
3.1.3. Hiệu quả sử dụng vốn cố định được tính như sau:
Hvcđ =
Vcd
D
Trong đó: Hvcđ- Hiệu quả sử dụng vốn cố định
D - Doanh thu hoặc sản lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
Vcđ - Số dư bình quân vốn cố định
3.1.4. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động được tính như sau:
Hvlđ =
Vld
D
Trong đó: Hvlđ- Hệ số hiệu quả sử dụng vốn lưu động
D -Doanh thu hoặc sản lượng sản phẩm tiêu thu trong kỳ
Vlđ -Số dư bình quân vốn lưu động
Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn trên đây đều có ý nghĩa chung là một
đồng vốn sản xuất của doanh nghiệp làm ra bao nhiêu đồng sản phẩm trong
kỳ. Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
càng cao. Đồng thời, để đạt hiệu quả sử dụng vốn càng cao thì doanh nghiệp
phải quản lý chặt chẽ và sử dụng tiết kiệm vốn nhằm tối thiểu hoá số vốn sử
vốn
2,33 2,16 -0,17 -7,29
7 Hiệu quả sử dụng vốn
SXKD
2,62 2,47 -0,15 -5,72
8 Hiệu quả sử dụng vốn cố
định
7,00 5,78 -1,22 -17,42
9 Hiệu quả sử dụng vốn lưu
động
4,20 4,33 +0,13 +3,09
( Lấy từ giáo trình bảo toàn và phát triển vốn)
Số liệu về tính các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp cho
thấy tình hình quản lý và sử dụng vốn sản xuất- kinh doanh năm nay có phần
sút kém so với năm trước. Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn giảm(- 7,29%) ,
hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh giảm(-%,72%), hiệu quả sử dụng
vốn cố định giảm nhiều nhất (-17,42%). Riêng hiệu quả sử dụng vốn lưu
động tăng(+3,09%). Mặc dù doanh thu của doanh nghiệp tăng khá lớn 500
triệu đồng (+23,80%) so với năm trước nhưng có thể do ảnh hưởng của biến
động giá trị TSCĐ trong điều kiện bảo toàn vốn làm tổng số vốn sản xuất
kinh doanh tăng lên, hiệu quả sử dụng vố giảm đi. Trong đó, tỉ trọng của vốn
cố định trong tổng số vốn sản xuất - kinh doanh tăng lên so với năm trước
làm cho hiệu quả sử dụng vốn cố định giảm nhiều hơn so với mức giảm hiệu
quả sử dụng vốn sản xuất- kinh doanh.
Tỷ trọng vốn cố định trong tổng số vốn sản xuất kinh doanh của năm
trước là 37,5%(300:800) của năm nay là 42,85%(450:1050), như vạy tỷ
trọng vốn cố định năm nay tăng 5,35%(42,85%-37,5%).
3.2. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
Đây là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh trình độ tổ chức ,quản
Số vòng quay vốn lưu động thể hiện vốn lưu động của doanh nghiệp đã
chu chuyển được bao nhiêu lần trong kỳ.Chỉ tiêu này càng lớn,chứng tỏ vốn
lưu động luân chuyển càng nhanh,hoạt động tài chính càng tốt,doanh nghiệp
càng cần ít vốn và tỷ suất lợi nhuận càng cao.
Chương II
Giới thiệu khái quát và thực trạng hoạt động thu xếp
và huy động vốn tại công ty tài chính dầu khí.
I. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY
1. Giới thiệu sơ qua về quá trình hình thành và phát triển của
công ty tài chính dầu khí.
Tổng công ty Dầu khí Việt Nam là một tổng công ty lớn của nhà nước bao
gồm nhiều thành viên hoạt động trong tất cả các lĩnh vực từ tìm kiếm thăm
dò, khai thác, xuất nhập khẩu dầu thô và các vật tư thiết bị dầu khí, đến vận
chuyển tàng trữ cung cấp dịch vụ chế biến và phân phối sản phẩm dầu khí,
hàng năm đóng góp khoảng 20% ngân sách nhà nước. Tổng công ty được
Đảng và nhà nước chủ trương xây dựng thành tập đoàn kinh tế lớn mạnh có
tầm ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế trong nước và nước ngoài. Vì vậy mà
Tổng Công Ty Dầu khí Việt Nam cần phải đẩy mạnh những cải cách trong
công tác quản lý và tăng cường hoạt động đầu tư phát triển. Vì vậy nhu cầu
về vốn củaTổng Công Ty và các thành viên là rất lớn bên cạnh đó việc điều
hoà nguồn vốn giữa các thành viên, quản lý kinh doanh sao cho có hiệu quả
những nguồn vốn trong thời gian nhàn rỗi của Tổng Công Ty và các thành
viên cũng rất quan trọng. Một ban tài chính không thể đảm nhận được nhiệm