Các chỉ số trên thị trường chứng khoán
Chỉ Số The Trin Index
Đây là chỉ số đo tỷ lệ lên và xuống của số lượng cổ phần hằng ngày. Nếu hôm nay
thị trường lên và số lượng cổ phần của các công ty lên thì đó là dấu hiệu thị trường
nói chung có chiều hướng đi lên thật sự, không phải chỉ có market index lên mà
thôi.
Market index là những chỉ số như là the Dow Jones Industrial Average, hay là the
Nasdaq Composite. Lý luận phía sau của chỉ số TRIN là cho dù market đang đi lên
hiện tại, sự kiện này được hiển hiện qua các market indices, nhưng thật sự rằng
market có lên hay không? Vì trên lý thuyết, các chỉ số như Dow và Nasdaq chỉ có
vài chục công ty trong đó thôi.
Thí dụ như chỉ số Dow chỉ có 30 công ty. Nếu 30 công ty này đều lên hết và tất cả
các stocks trên thị trường NYSE đều rớt thì chỉ số DOW vẫn LÊN. Đó là một điều
sơ hở khi nhìn market index để đo sức mạnh thị trường hiện tại. Người phát minh
ra chỉ số này muốn biết rằng một khi thị trường lên, bao nhiêu cổ phần của thị
trường hôm nay cùng lên. Nếu con số cổ phần lên nhiều đồng chung với market
index thì sự kiện thị trường lên mới là điều đáng tin. Bằng không thì nên xem xét
lại. Khi thấy TRIN lên cao hơn 1 thì đó có nghĩa là phần lớn số cổ phần hôm nay
đi xuống, và nếu TRIN nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là phần lớn số cổ phần hôm nay đi
lên. Khi TRIN lớn hơn 1.2 thì đó là hiện tượng oversold trong thị trường. Còn nếu
TRIN mà nhỏ hơn 0.7 thì đó là hiện tượng overbought.
Chỉ số Accumulation/Distribution Index
Đây là chỉ số đo lực mua và bán của thị trường qua tổng số lượng mua bán hằng
ngày. Trong thị trường chứng khoán, lực mua và bán thường được biểu hiện qua
con số lượng của các cổ phần được trao đổi hằng ngày (daily total volume).
Traders suy luận rằng nếu sức mạnh của thị trường vào ngày nào đó được coi là
mạnh thì tổng số lượng (total volume) của các cổ phần trao đổi trong ngày đó phải
gia tăng.
Sự gia tăng của tổng số cổ phần của một ngày thị trường lên được tượng trưng
bằng chỉ số Accumulation (thâu vào). Có nghĩa là nếu ngày đó thị trường lên và
tổng số lượng cổ phần (total volume) của ngày đó cũng tăng theo thì đó là một
đường A/D. Tương tự như vậy, khi là một ngày phân phối khối lượng giao dịch
trong ngày bị trừ đi giá trị đường A/D.
A/D được sử dụng chính để đo lường phân kỳ của sự vận động giá và sự vận động
của khối lượng giao dịch.
Phân kỳ làm tăng giá từ vị trí #1 đến #2, phân kỳ làm giảm giá từ vị trí #3 đến #4
(mô hình 2 đỉnh)
Những vấn đề liên quan đến khối lượng giao dịch:
Tăng và giảm giá được xác nhận với khối lượng giao dịch tăng
Tăng và giảm giá không được xác nhận hoặc có cảnh báo sẽ gặp nhiều khó
khăn sắp tới khi khối lượng giao dịch giảm.
Chỉ báo A/D là công cụ rất hiệu quả để xác nhận hướng di chuyển của đường giá
và chỉ ra những cảnh báo về khả năng đảo chiều của đường giá.
Chỉ số Advance & Decline Line
Đây là một chỉ số so sánh số lượng stocks của thị trường lên (advance) và số
lượng stocks của thị trường xuống (decline) trong ngày. Người ta bắt đầu bằng
cách chọn một khoảng thời gian, chẳng hạn như 20 ngày, 50 ngày, hay 200 ngày.
Vào ngày đầu tiên, người ta so sánh số lượng stocks lên so với số lượng stocks
xuống.
Thí dụ, vào ngày đó có tất cả là 6000 stocks lên và 2000 stocks xuống trong tổng
số 8000 stocks của thị trường. Qua ngày thứ hai người ta cũng làm như thế, và
kiếm được rằng 6200 stocks lên so với 1800 stocks xuống… Sang ngày thứ ba,
thứ tư…v.v… Cứ thế mà làm cho các ngày sau đó. Sau thời gian 20 ngày thì có 20
dữ kiện (data) cho 20 ngày đã qua. Đem 20 dữ kiện này vẽ trên chart thì người ta
sẽ có một lằn. Lằn đó gọi là A/D line, và người ta dùng hướng đi (lên/xuống) của
lằn để so sánh với hướng đi của thị trường hiện tại. Khi hướng đi của thị trường
cùng đi song song với hướng đi của A/D line thì mọi chuyện tương đối bình yên
và hướng đi hiện tại có thể kéo dài.
Ngược lại, nếu có sự khác biệt trong hướng đi của thị trường và hướng đi của A/D