Công tác kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ tại công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội - Pdf 87

luận văn tốt nghiệp
Phần I
Lý luận chung về kế toán thành phẩm,
tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả
tiêu thụ trong doanh Nghiệp sản xuất
I. ý nghĩa và sự cần thiết của kế toán thành phẩm, tiêu
thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ trong
doanh nghiệp sản xuất.
1. Thành phẩm và yêu cầu quản lý thành phẩm.
Theo quy luật tái sản xuất quá trình hoạt động trong doanh nghiệp sản
xuất bao gồm: cung ứng, sản xuất, tiêu thụ, các giai đoạn này diễn ra một cách
thờng xuyên liên tục. Sản phẩm của giai đoạn sản xuất đó chính là thành phẩm và
nửa thành phẩm, trong đó thành phẩm chiếm đại bộ phận. Thành phẩm trong
doanh nghiệp là những sản phẩm đợc gia công chế biến xong ở bớc công nghệ
cuối cùng của quy trình công nghệ sản xuất, sản phẩm đợc kiểm tra kỹ thuật đảm
bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định, đợc nhập kho hoặc tiêu thụ ngay. Còn nửa
thành phẩm là những sản phẩm mới kết thúc một hoặc một số công đoạn trong
quy trình công nghệ sản xuất (trừ công đoạn cuối cùng) đợc nhập kho hoặc
chuyển giao để tiếp tục chế biến hoặc có thể bán ra ngoài. Khi đó nó cũng có ý
nghĩa nh thành phẩm. Vì vậy khái niệm giữa nửa thành phẩm và thành phẩm là
những khái niệm chỉ xét trong phạm vi một doanh nghiệp bởi thành phẩm của
doanh nghiệp này có thể là nửa thành phẩm của doanh nghiệp khác và ngợc lại.
Do đó việc xác định đúng đắn thành phẩm trong từng doanh nghiệp là vấn đề hết
sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Nó phản ánh toàn bộ hoạt động sản xuất
Vũ Thị Hạnh 1 Kế toán 39 B
luận văn tốt nghiệp
kinh doanh của từng doanh nghiệp về quy mô, trình độ tổ chức sản xuất và tổ
chức quản lý.
Bất kỳ loại thành phẩm nào cũng biểu hiện trên hai mặt: số lợng và chất
lựơng. Mặt số lợng phản ánh quy mô, thành phần mà đơn vị tạo ra nó và đợc đo
bằng đơn vị kg, mét...Chất lợng của thành phẩm phản ánh giá trị sử dụng của

đó.
Trong nền kinh tế thị trờng, công tác tiêu thụ thành phẩm và tổ chức tiêu
thụ thành phẩm đã đợc nâng lên thành vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Cơ chế
thị trờng đã tạo ra một nền kinh tế tự do cạnh tranh, giá cả do quan hệ cung cầu
quyết định nên mỗi doanh nghiệp phải tự chủ trong việc tổ chức tiêu thụ thành
phẩm bao gồm các khâu từ nghiên cứu thị trờng, xây dựng chiến lợc, kế hoạch
tiêu thụ, thực hiện nguyên tắc tự chịu trách nhiệm nhằm mục tiêu hoạt động sản
xuất kinh doanh có hiệu quả.
Tiêu thụ thành phẩm là giai đoạn tiếp theo của quá trình sản xuất và là giai
đoạn cuối cùng của vòng tuần hoàn vốn trong doanh nghiệp. Đây chính là quá
trình thực hiện quan hệ trao đổi thông qua các phơng tiện thanh toán để thực hiện
giá trị của sản phẩm, hàng hoá trong đó doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm,
hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng, đợc khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận trả.
Quá trình tiêu thụ kết thúc khi cả hai điều kiện sau đợc bảo đảm:
- Doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm cho ngời mua.
- Đơn vị mua trả tiền hoặc chấp nhận trả.
Điều đó có nghĩa là trong quá trình tiêu thụ phải có sự thoả thuận giữa hai
ngời mua và bán, phải có sự thay đổi quyền sở hữu về sản phẩm và cả hai bên
đều thực hiện quá trình chuyển đổi giữa hàng và tiền.
Vũ Thị Hạnh 3 Kế toán 39 B
luận văn tốt nghiệp
Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ
và kết thúc một vòng luân chuyển vốn. Có tiêu thụ đợc sản phẩm mới có vốn để
tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh vòng quay của vốn nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn đồng thời góp phần thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Trong nền kinh tế thị trờng, điều quan trọng và là sự quan tâm hàng đầu
của các doanh nghiệp là làm thế nào để sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của mình
tiêu thụ trên thị trờng, đợc thị trờng chấp nhận về các phơng diện chất lợng, giá
cả, mẫu mã... Đó là vấn đề sống còn quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
các doanh nghiệp. Sau quá trình tiêu thụ, doanh nghiệp không những bù đắp đợc

toán xác định đúng kết quả tiêu thụ của từng loại thành phẩm.
Thực tế ở nớc ta hiện nay, các doanh nghiệp không những phải cạnh tranh
với các sản phẩm trong nớc mà cả với những sản phẩm, hàng hoá của nớc ngoài
nhập về. Thị trờng Việt Nam đã đợc các hãng sản xuất trên thế giới tìm đến và
xâm nhập một cách mạnh mẽ. Do vậy, các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển
trong nền kinh tế mở này thì đều phải tìm hiểu khách hàng và nhu cầu của họ, có
biện pháp kích thích họ mua hàng đồng thời phải tìm kiếm những thị trờng có
tiềm năng lớn để tiêu thụ thành phẩm của mình, có khả năng dự báo tình hình thị
trờng trong tơng lai. Có nh vậy các doanh nghiệp mới có thể chiếm lĩnh đợc thị
trờng cũ và xâm nhập, mở rộng thị trờng mới ở trong nớc và nớc ngoài.
3. Xác định kết quả tiêu thụ.
Các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh đều nhằm đạt đợc mục
tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Quá trình tiêu thụ là một quá trình kinh doanh chủ
yếu của doanh nghiệp, nó trực tiếp mang lại thu nhập cho doanh nghiệp và thoả
mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng. Thu nhập từ tiêu thụ thành phẩm trang trải các
chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thực hiện tái sản xuất giản đơn
Vũ Thị Hạnh 5 Kế toán 39 B
luận văn tốt nghiệp
và tái sản xuất mở rộng. Một doanh nghiệp có các kênh tiêu thụ phong phú với
các chính sách khuyến khích việc tiêu thụ thành phẩm, hàng hoá tốt sẽ giúp
doanh nghiệp tiêu thụ đợc nhiều, thu hồi vốn nhanh, tăng nhanh tốc độ vòng
quay của vốn, tiết kiệm vốn lu động, hiện đại hoá sản xuất cả về tốc độ lẫn trình
độ kỹ thuật... từ đó giúp doanh nghiệp dễ dàng thực hiện đợc các mục tiêu tối
thiểu hoá chi phí và tối đa hoá lợi nhuận.
Để biết đợc trong kỳ kinh doanh của mình có đạt đợc các mục tiêu đó
không doanh nghiệp cần phải có những thống kê về các khoản doanh thu, các
khoản chi phí và tính toán kết quả của các hoạt động kinh doanh trong kỳ. Kết
quả của quá trình tiêu thụ đánh giá một cách chính xác hiệu quả của toàn bộ quá
trình sản xuất kinh doanh, có vai trò quyết định đến sự tồn tại, phát triển hay suy
thoái của đơn vị. Dựa vào kết quả tiêu thụ doanh nghiệp có thể phân tích đợc mặt

doanh của doanh nghiệp từ đó thực hiện chức năng quản lý và kiểm soát vĩ mô
nền kinh tế, đồng thời nhà nớc có thể kiểm soát việc chấp hành luật pháp về kinh
tế tài chính nói chung và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với ngân sách nhà nớc,
nghĩa vụ tài chính với các bên có quan hệ kinh tế nói riêng.
Trong nền kinh tế mở, các doanh nghiệp ngoài mối quan hệ với nhà nớc
còn có thể liên doanh liên kết với đơn vị bạn hoặc các công ty nớc ngoài để thu
hút vốn đầu t, cải tiến quy trình công nghệ... Khi đó kế toán không chỉ là công cụ
điều hành và quản lý sản xuất kinh doanh mà còn là phơng tiện để kiểm tra, giám
sát những ngời chủ sở hữu doanh nghiệp, những ngời có quan hệ kinh tế và lợi
ích với doanh nghiệp nh các nhà đầu t, những ngời cho vay, các bạn hàng... Với
những số liệu của kế toán thành phẩm và tiêu thụ, họ có thể biết đợc khả năng
sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng của doanh nghiệp để từ đó ra các quyết định
đầu t, cho vay hoặc có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp.
Vũ Thị Hạnh 7 Kế toán 39 B
luận văn tốt nghiệp
Vì sản xuất là cơ sở của tiêu thụ nên có thể nói rằng kế toán thành phẩm
và tiêu thụ có mối quan hệ mật thiết với nhau và bổ sung cho nhau. Kế toán
thành phẩm có chính xác, đầy đủ và kịp thời, phản ánh rõ tình hình nhập, xuất thì
kế toán tiêu thụ mới phản ánh và giám đốc kịp thời kế hoạch, thực hiện tiêu thụ
về số lợng, doanh thu tiêu thụ, tình hình thanh toán tiền hàng, thanh toán với
ngân sách nhà nớc và xác định đợc chính xác kết quả tiêu thụ. Ngợc lại tổ chức
tốt kế toán tiêu thụ sẽ tạo điều kiện cho kế toán thành phẩm thực hiện tốt nhiệm
vụ của mình. Do vậy hoàn thiện quá trình hạch toán nghiệp vụ thành phẩm, tiêu
thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ là một vấn đề rất cần thiết và có ý
nghĩa quan trọng. Để làm tốt nghiệp vụ này, kế toán thành phẩm và tiêu thụ
thành phẩm cần thực hịên các yêu cầu sau:
-Tổ chức theo dõi, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời, giám sát chặt chẽ
về tình hình hiện có và sự biến động của từng loại thành phẩm trên cả hai mặt số
lợng và giá trị.
-Theo dõi, phản ánh và giám đốc chặt chẽ quá trình tiêu thụ, ghi chép kịp

nguyên tắc nhất định.Trong kế toán có thể sử dụng một trong hai cách đánh giá
thành phẩm:
2.1. Giá thực tế
Thành phẩm nhập kho:
Đối với thành phẩm do các bộ phận sản xuất kinh doanh chính và phụ
hoàn thành nhập kho, giá thành thực tế chính là giá thành công xởng thực tế (bao
Vũ Thị Hạnh 9 Kế toán 39 B
luận văn tốt nghiệp
gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản
xuất chung).
Trờng hợp thành phẩm thuê ngoài gia công, giá thành thực tế bao gồm
toàn bộ các chi phí liên quan đến việc gia công (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
chi phí thuê gia công và các chi phí khác: vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt...)
Thành phẩm xuất kho:
Đối với thành phẩm xuất kho tuỳ từng điều kiện cụ thể doanh nghiệp có
thể sử dụng một trong các phơng pháp sau:
2.1.1. Giá đơn vị bình quân
Theo phơng pháp này giá thực tế thành phẩm xuất kho đợc tính theo giá trị
bình quân (bình quân cả kỳ dự trữ, bình quân cuối kỳ trớc hoặc bình quân sau
mỗi lần nhập).
Trị giá thực tế thành Số lợng thành phẩm Giá đơn vị
phẩm xuất kho xuất kho bình quân
Trong đó:
Giá đơn vị bình Trị giá thực tế TP tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
quân cả kỳ dự trữ Số lợng thực tế TP tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Phơng pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ tuy đơn giản, dễ làm nhng
độ chính xác không cao. Hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng gây
ảnh hởng đến công tác quyết toán nói chung.
Giá đơn vị bình Trị giá thực tế TP tồn kho đầu kỳ ( hoặc cuối kỳ trớc)
quân cuối kỳ trớc Số lợng thực tế TP tồn kho đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trớc)

sau mỗi
lần nhập
=
Trị giá thực tế
TP nhập
Số lượng
nhập
Trị giá thực tế TP
tồn trước khi nhập
Số lượng TP tồn trư
ớc khi nhập
+
+
luận văn tốt nghiệp
Theo phơng pháp này thành phẩm nhập kho theo giá nào thì xuất kho theo
giá đó và không quan tâm đến thời gian nhập xuất. Phơng pháp này thờng sử
dụng đối với những thành phẩm có giá trị cao và có tính tách biệt.
2.1.5.Xác định trị giá thành phẩm tồn cuối kỳ để tính trị giá thành phẩm xuất
trong kỳ.
ở những doanh nghiệp có thành phẩm cồng kềnh, điều kiện cân, đong, đo,
đếm, nhập, xuất không chính xác, hạch toán thành phẩm theo phơng pháp kiểm
kê định kỳ thì cuối mỗi kỳ hạch toán tiến hành kiểm kê để xác định trị giá thực tế
thành phẩm tồn kho. Căn cứ vào trị giá thành phẩm tồn kho đầu kỳ, cuối kỳ và trị
giá thành phẩm nhập trong kỳ để xác định trị giá thành phẩm xuất trong kỳ:
Phơng pháp này có u điểm là tính toán nhanh chóng, đơn giản nhng lại
không chính xác vì khó phát hiện phần mất mát thiếu hụt.
2.2. Giá hạch toán:
Giá hạch toán là giá do doanh nghiệp quy định, nó có tính chất ổn định và
lâu dài. Giá hạch toán chỉ dùng để ghi sổ kế toán thành phẩm hàng ngày chứ
không có tác dụng giao dịch với bên ngoài, có thể lấy giá kế hoạch hoặc một loại

= x
luận văn tốt nghiệp
Khi dùng phơng pháp giá hạch toán việc hạch toán chi tiết thành phẩm
trên các chứng từ nhập, xuất, các sổ (thẻ) kế toán chi tiết thành phẩm đợc ghi
theo giá hạch toán, còn việc hạch toán tổng hợp thành phẩm nhất thiết phải ghi
theo giá thực tế.
3. Chứng từ kế toán sử dụng:
Việc nhập và xuất kho thành phẩm diễn ra thờng xuyên liên tục do vậy mà
thành phẩm trong doanh nghiệp luôn luôn biến động. Để quản lý chặt chẽ thành
phẩm, các nghiệp vụ nhập, xuất kho thành phẩm phải đợc lập chứng từ kế toán
một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác theo quy định cụ thể trong chế độ ghi
chép ban đầu. Bởi vì những chứng từ kế toán này là cơ sở pháp lý để tiến hành
hạch toán nhập - xuất kho thành phẩm, là căn cứ để kiểm tra tính chính xác trong
quá trình ghi sổ, đảm bảo ghi chép các nội dung cần thiết. Căn cứ vào nội dung
các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến thành phẩm để xác định các chứng từ kế
toán cần sử dụng ở các doanh nghiệp. Hiện nay các doanh nghiệp vận dụng chế
độ chứng từ kế toán theo quyết định 1141 -TC- QĐ- CĐKT ngày 1/11/1995 phải
sử dụng các chứng từ bắt buộc sau:
Vũ Thị Hạnh 14 Kế toán 39 B
Hệ số giá
=
Trị giá thực
tế TP tồn đầu
kỳ
Trị giá thực
tế TP nhập trong
kỳ
Trị giá hạch
toán TP nhập
trong kỳ

nay có ba phơng pháp hạch toán chi tiết thành phẩm sau:
4.1.Phơng pháp thẻ song song:
+ Nguyên tắc:
-ở kho: Thủ kho ghi chép sự biến động nhập, xuất, tồn của thành phẩm về
hiện vật trên thẻ kho.
-ở phòng kế toán: Kế toán thành phẩm ghi chép sự biến động nhập, xuất,
tồn của thành phẩm cả về hiện vật và giá trị trên sổ chi tiết thành phẩm.
+ Trình tự ghi sổ (Sơ đồ số 1)
Sơ đồ 1: Sơ đồ hạch toán chi tiết thành phẩm
theo phơng pháp thẻ song song.
Vũ Thị Hạnh 15 Kế toán 39 B
Thẻ kho

Sổ
(thẻ)
chi
tiết
thành
phẩm
Bảng
tổng
hợp
NXT
kho
thành
Kế
toán
tổng
hợp
Phiếu nhập kho

Phiếu nhập
kho
Bảng kê
nhập
Thẻ kho
Phiếu xuất
kho
Sổ đối chiếu
luân chuyển
Kế toán
tổng hợp
Bảng kê
xuất
luận văn tốt nghiệp
* Ưu, nhợc điểm của phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển:
+ Ưu điểm:
-Tránh đợc việc ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán
-Cung cấp đợc thông tin cả về hiện vật và giá trị cho ngời quản lý.
+ Nhợc điểm:
-Công việc kế toán dồn vào cuối tháng do đó thờng lập báo cáo kế toán
chậm.
4.3. Phơng pháp sổ số d.
+ Nguyên tắc hạch toán.
- ở kho: Thủ kho chỉ theo dõi biến động Nhập - Xuất - Tồn của thành
phẩm về hiện vật. Cuối tháng trên cơ sở số liệu tồn kho của thẻ kho vào " Sổ số
d" ở cột số lợng.
- ở phòng kế toán: Kế toán thành phẩm chỉ theo dõi sự biến động Nhập -
Xuất - Tồn về giá trị trên bảng kê luỹ kế Nhập - Xuất - Tồn
+ Trình tự ghi sổ(Sơ đồ số 3).
Sơ đồ 3:Sơ đồ hạch toán chi tiết thành phẩm

thạo.
5. Hạch toán tổng hợp thành phẩm:
5.1. Hạch toán tổng hợp thành phẩm theo phơng pháp kê khai thờng xuyên:
Phơng pháp kê khai thờng xuyên là phơng pháp theo dõi tình hình hiện
có,biến động tăng, giảm thành phẩm một cách thờng xuyên liên tục. Giá trị thành
phẩm tồn kho có thể xác định ở bất cứ thời điểm nào.
Tài khoản sử dụng:
- TK 155- Thành phẩm: TK này phản ánh sự biến động nhập - xuất -tồn kho
thành phẩm theo giá thực tế.
Bên nợ: Giá thực tế thành phẩm nhập kho.
Bên có: Giá thực tế thành phẩm xuất kho.
D nợ: Giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
Tuỳ theo yêu cầu quản lý TK 155 có thể đợc mở chi tiết theo từng kho,
từng loại thành phẩm. TK này chỉ sử dụng ở những doanh nghiệp thành phẩm có
thể nhập kho đợc.
- Các tài khoản khác có liên quan nh TK 154, TK 157...
Trình tự hạch toán nhập- xuất thành phẩm (Sơ đồ số 4).
Vũ Thị Hạnh 20 Kế toán 39 B
luận văn tốt nghiệp
5.2. Hạch toán tổng hợp thành phẩm theo phơng pháp kiểm kê định kỳ.
Phơng pháp kiểm kê định kỳ là phơng pháp không theo dõi một cách thờng
xuyên liên tục tình hình biến động của các loại thành phẩm mà chỉ phản ánh trị
giá tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác định l-
ợng thành phẩm tồn kho thực tế từ đó tính ra giá trị thành phẩm xuất trong kỳ.
Tài khoản sử dụng:
- TK 155 "Thành phẩm": TK này chỉ phản ánh giá thực tế thành phẩm tồn kho.
Bên nợ: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
Bên có: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm tồn kho đầu kỳ.
D nợ: Giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
Tài khoản này mở chi tiết cho từng loại thành phẩm.

thuế GTGT đầu ra.
Nội dung các chỉ tiêu liên quan đến tiêu thụ thành phẩm đợc xác định nh
sau:
- Doanh thu bán hàng: là tổng giá trị đợc thực hiện do việc bán hàng hoá,
sản phẩm, cung cấp lao vụ dịch vụ cho khách hàng. Tổng số doanh thu là số tiền
ghi trên hoá đơn bán hàng, trên hợp đồng cung cấp lao vụ, dịch vụ. Doanh thu
bán hàng sẽ đợc ghi tại thời điểm sản phẩm, hàng hoá đợc xác định là đã tiêu thụ,
tức là tại thời điểm chuyển quyền sở hữu về sản phẩm, hàng hoá. Hay nói cách
khác thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm ngời mua trả tiền hay chấp nhận
trả tiền về lợng hàng hoá, sản phẩm đã đợc ngời bán chuyển giao. Theo chuẩn
mực kế toán quốc tế (IAS18) doanh thu bán hàng đợc công nhận khi:
+ Rủi ro và lợi ích quan trọng của việc sở hữu hàng hóa đợc chuyển sang cho ng-
ời mua.
Vũ Thị Hạnh 22 Kế toán 39 B
luận văn tốt nghiệp
+ Doanh nghiệp không tiếp tục tham gia quản lý quyền sở hữu cũng không giám
sát hiệu quả hàng đã bán ra.
+ Số doanh thu có thể tính toán một cách chắc chắn.
+ Doanh nghiệp có khả năng là sẽ thu đợc lợi ích kinh tế từ giao dịch.
+ Chi phí giao dịch có thể đợc tính toán một cách chắc chắn.
- Chiết khấu bán hàng: là số tiền tính trên tổng số doanh thu trả cho
khách hàng do đã thanh toán tiền hàng trớc thời hạn qui định (chiết khấu thanh
toán).
- Giảm giá hàng bán: là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hoá đơn
hay hợp đồng cung cấp lao vụ dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt nh hàng kém
phẩm chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời hạn, địa điểm trong
hợp đồng...(do chủ quan của doanh nghiệp). Ngoài ra, tính vào các khoản giảm
giá hàng bán còn bao gồm khoản thởng cho khách hàng do trong một khoảng
thời gian nhất định đã tiến hành mua một khối lợng lớn hàng hoá (hồi khấu) và
khoản giảm trừ trên giá bán thông thờng vì mua khối lợng lớn hàng hoá trong

gộp với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Lợi nhuận sau thuế: là chỉ tiêu phản ánh số chênh lệch giữa lợi nhuận tr-
ớc thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp.
Có thể khái quát mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động
tiêu thụ qua sơ đồ sau: (Sơ đồ số 6).
2. Các phơng thức tiêu thụ.
Muốn tiêu thụ đợc sản phẩm của mình trong cơ chế thị trờng hiện nay
doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lợng sản phẩm, cải tiến mẫu mã
mặt hàng đồng thời phải đẩy mạnh chiến lợc marketing của mình. Bên cạnh đó
Vũ Thị Hạnh 24 Kế toán 39 B
luận văn tốt nghiệp
việc lựa chọn và áp dụng linh hoạt các phơng thức bán hàng cũng góp phần
không nhỏ vào việc thực hiện kế hoạch tiêu thụ của doanh nghiệp. Hiện nay các
doanh nghiệp sản xuất thờng sử dụng các phơng thức tiêu thụ sau:
Phơng thức tiêu thụ trực tiếp:
Là phơng thức giao hàng cho ngời mua trực tiếp tại kho (hay trực tiếp tại
các phân xởng không qua kho) của doanh nghiệp. Số hàng khi bàn giao
Sơ đồ 6: mối quan hệ giữa doanh thu-chi phí
Doanh thu bán hàng
- Giảm giá, bớt giá, hồi khấu, doanh thu
hàng bán bị trả lại
- Thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
Doanh thu thuần
Giá vốn hàng bán Lợi nhuận gộp
CF bán hàng và
CF quản lý DN
Lợi nhuận trớc thuế
Thuế thu
nhập DN
Lợi nhuận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status