VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ DƯƠNG
CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ DOANH
NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI - 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ DƯƠNG
CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ DOANH
NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN NHƯ PHÁT
HÀ NỘI - 2021
Xin trân trọng cảm ơn./.
Tác giả
Phạm Thị Dương.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẤY CHỨNG NHẬN
ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY
CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP......................................................... 7
1.1. Lý luận về cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp..............................7
1.2. Lý luận pháp luật về cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp......13
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY CHỨNG
NHẬN ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI.................................................................................................. 21
2.1. Thực trạng pháp luật về cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
........................................................................................................................................................... 21
2.2. Thực tiễn cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại thành phố
Hà Nội.......................................................................................................................................... 41
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN QUI ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN
ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI............................ 54
3.1 Định hướng và yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
hoạt động cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố HàNội..................................................................................................................... 54
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành
pháp luật về cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố Hà Nội.................................................................................................................... 56
doanh nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoạt động.
GCNĐKDN có ý nghĩa rất to lớn đối với một doanh nghiệp vì nó được pháp
luật thừa nhận, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, quyền sở hữu tên doanh
nghiệp đồng thời thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đó phải thực hiện
nghĩa vụ với Nhà nước trong suốt quá trình tồn tại và phát triển.
Khoản 3 Điều 51, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Nhà nước khuyến
khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác
đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần
xây dựng đất nước”. Trải qua các thời kỳ khác nhau, Doanh nghiệp được điều
chỉnh bởi những văn bản pháp luật khác nhau như: Luật Công ty năm 1990,
Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990; Luật Doanh nghiệp năm 1999; Luật
Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014. Ngày 26/11/2014
Luật Doanh nghiệp sửa đổi đã được Quốc hội biểu quyết thông qua thay thế
cho Luật Doanh nghiệp năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2015.
Đánh dấu sự quyết tâm cải cách pháp luật đối với DN của Nhà nước ta, Luật
Doanh nghiệp 2014 đã có những thay đổi mang tính độ tphá, cụ thể là sự chế
hóa đầy đủ quyền tự do kinh doanh theo Hiến pháp năm 2013. Theo đó, DN
được tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm. LDN
2014 ra đời đã có nhiều những tích cực, những thay đổi căn bản về điều kiện
và thủ tục thành lập doanh nghiệp như: việc đơn giản hóa thủ tục thành lập
của doanh nghiệp; rút ngắn thời gian ra nhập thị trường của doanh nghiệp và
đặc biệt là những thay đổi về thông tin được ghi trên GCNĐKDN khi DN
được cấp GCN.
1
Với những quy định được sửa đổi, bổ sung trong LDN 2014, một phần
phù hợp với thực tế kinh doanh của doanh nghiệp, mặt khác đã tháo gỡ được
những khó khăn, hạn chế, góp phần tạo điều kiện mở ra môi trường kinh
em xin lựa chọn đề tài “Cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo
Pháp Luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà Nội” để thực hiện
Luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời và thực thi trên thực tế, việc nghiên cứu
đề tài khoa học về vấn đề pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp
đã được một số tác giả tiến hành ở các góc độ, cách thức nghiên cứu, đánh giá
về Luật doanh nghiệp 2014 khác nhau.
Cụ thể:
-
Luận văn thạc sĩ Luật “Trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh
nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh”
Người thực hiện: ĐỗThị Thu Hiền;
-
Luận văn thạc sĩ Luật “Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp theo pháp
luật doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay”. Người thực hiện: Phạm Nam Giang;
-
Luận văn thạc sĩ Luật: Đăng ký doanh nghiệp theo Luật doanh
nghiệp năm 2014 và thực tiễn thi hành tại thành phố Hồ Chí Minh, Người
thực hiện: Trần Nguyễn Đan Quỳnh, Hồ Chí Minh, năm 2016;
và
Luận văn thạc sĩ Luật:Thủ tục đăng ký doanh nghiệp năm 2014
-
Nghiên cứu các quy định pháp luật để làm sáng tỏ về điều kiện, thủ tục,
quy trình cấp GCNĐKDN.
-
Phân tích, đánh giá thực trạng của pháp luật về điều kiện, thủ tục, quy
trình cấp GCNĐKDN theo Luật Doanh nghiệp 2014 từ thực tiễn tại thành phố
Hà Nội.
-
Phân tích những điểm tích cực và bất cập trong quá trình thực hiện
pháp luật cấp GCNĐKDN từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội.
-
Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiệnpháp luậtvề thể chế đối
với vấn đề đăng ký doanh nghiệp.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là các quy định pháp luật điều kiện, thủ tục, quy
4
phố Hà Nội nói riêng.
7. Kết cấu đề tài
5
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
đề tài“Cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo Pháp Luật Việt
Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà Nội” có 03 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh
nghiệp và pháp luật về cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Chương 2. Thực trạng pháp luật về cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh
nghiệp và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội.
Chương 3. Định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật và một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về cấp giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp tại thành phố Hà Nội
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ
DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN
ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
1.1. Lý luận về cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm về giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
*
Khái niệm về giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Dưới góc độ Pháp lý: GCNĐKDN là một chứng từ pháp lý bắt buộc
nhằm để xác lập địa vị pháp lý cho một doanh nghiệp trước khi gia nhập thị
trường kinh doanh. Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, cơng
nhận, cấp phép và bảo hộ.
Như vậy, GCNĐKDN là giấy chứng nhận của cơ quan hành chính cơng
Nhà nước, ghi nhận một số thông tin cơ bản nhất của doanh nghiệp và là cơ sở
xác định nghĩa vụ bảo hộ quyền sở hữu tên doanh nghiệp của Nhà nước.
* Đặc điểm về giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Dựa trên khái niệm cũng như những quy định của pháp luật liên quan,
có thể rút ra một số đặc điểm của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cụ
thể như sau:
-
Thứ nhất, GCNĐKDN do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Đây là loại giấy phép do cơ quan hành chính cơng của Nhà nước cấp
phép. Hiện nay,cơ quan đăng ký kinh doanh được quy định tại Điều 13 Nghị
định 78/2015/NĐ-CP là Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và
Đầu tư (sau đây gọi chung là Phòng Đăng ký kinh doanh).
Thứ hai, đặc điểm về điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký
doanh
nghiệp
Doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khi có
đủ các điều kiện quy định pháp luật như:Ngành, nghề đăng ký kinh doanh
không bị cấm đầu tư kinh doanh; Tên của doanh nghiệp được đặt theo đúng
8
quy định; Có hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hợp lệ; Nộp đủ lệ phí đăng ký
nghiệp cũng như thực hiện nội dung quản lý Nhà nước về doanh nghiệp.
Thông qua hoạt động cấp GCNĐKDN, Nhà nước quản lý, nắm bắt và tổng
hợp được tất cả các chủ thể kinh doanh đang hoạt động trên thị trường, để
thực hiện chức năng thu thuế, đồng thời đặt cơ sở ban đầu cho công tác quản
lý hậu kiểm, điều tiết kinh tế vĩ mô và đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể
kinh doanh ngay từ khi ra nhập thị trường.
Thứ hai, GCNĐKDN giúp Nhà nước kiểm soát hoạt động của các
doanh nghiệp đối với từng ngành nghề mà doanh nghiệp thực hiện hoạt động
kinh doanh.
Để tránh tình trạng các chủ thể kinh doanh thực hiện kinh doanh trong
các lĩnh vực ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, sức khỏe con người, vi phạm
truyền thống đạo đức, vi phạm lợi ích cộng đồng vì mục đích kiếm lời, bởi
vậy khi muốn thực hiện hành vi kinh doanh, chủ doanh nghiệp phải thực hiện
các trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh để được cấp giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp. Thơng qua trình tự, thủ tục này, Nhà nước vừa thực hiện quyền
lực của mình trong việc quản lý, giám sát doanh nghiệp và bảo vệ lợi ích của
doanh nghiệp cũng như cộng đồng, đồng thờicó thể hạn chế và điều tiết những
ngành nghề kinh doanh không có lợi cho cộng đồng.
Thứ ba, thơng qua GCNĐKDN, Nhà nước lập nên một khung pháp lý
để các doanh nghiệp cùng tham gia, hoạt động kinh doanh trên tinh thần
cạnh tranh lành mạnh, tạo nên môi trường pháp lý thuận lợi, an tồn, hướng
đến mơi trường kinh doanh bình đẳng. Ngoài thể hiện chức năng quản lý Nhà
nước đối với việc cấp GCNĐKDN, Nhà nước còn điều chỉnh phương thức
quản lý hoạt động kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường,
hạn chế can thiệp vào quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh, rút
ngắn trình tự, thủ tục hành chính và phân định rõ chức năng của các cơ quan
quản lý nhà nước.
10
Thứ ba, doanh nghiệp có GCNĐKDN đồng nghĩa với việc Nhà nước sẽ
coi doanh nghiệp như một tế bào quan trọng của nền kinh tế. Điều đó dẫn đến
tình trạng được áp dụng các đường lối chính sách quan tâm, hỗ trợ đến hoạt
động của doanh nghiệp, được giao lưu, hợp tác, kí kết, tham gia các diễn đàn
kinh tế chung để phát triển kinh tế. Cá nhân, tổ chức nước ngồi khó có cạnh
tranh với doanh nghiệp trong nước hơn, hạn chế việc lấn át thị trường, khai
thác tối đa nguồn lực trong nước gây ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế và
rộng hơn là sự ổn định chính trị, trật tự xã hội, an ninh quốc gia. Như vậy,
điều này đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp nhưng vẫn đặt
dưới sự quản lý của Nhà nước.
1.1.3. Sự cần thiết khách quan của hoạt động cấp giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp đối với doanh nghiệp
Thứ nhất, hoạt động cấp GCNĐKDN là cơ sở để Nhà nước thực hiện
chức năng quản lý về doanh nghiệp,cụ thể: Thông qua hoạt động xem xét và
cấp GCNĐKDN, cơ quan Nhà nước sẽ sàng lọc tối đa về mặt chủ thể thành
lập doanh nghiệp. Sự sàng lọc này nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, tháo
gỡ được những vướng mắc trong quá trình hoạt động kinh doanh và hạn chế
sự kém minh bạch trong việc thành lập, quản lý doanh nghiệp. Đồng thời,
thơng qua đó, Nhà nước có thể nắm bắt được thơng tin về tình hình hoạt động
của doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc một cách nhanh chóng, chính xác,
đầy đủ để từ đó thực hiện chức năng thu thuế, và đặt cơ sở ban đầu cho công
tác quản lý hậu kiểm, điều tiết kinh tế vĩ mơ và đảm bảo sự bình đẳng giữa
các chủ thể kinh doanh ngay từ khi ra nhập thị trường.
Thứ hai, hoạt động cấp GCNĐKDN giúp bảo vệ quyền lợi của doanh
nghiệp, tạo nền tảng cho doanh nghiệp trở thành một thực tế kinh tế đủ điều
kiện tham gia vào thị trường. Đồng thời, qua hoạt động cấp GCNĐKDN, mọi
thông tin về doanh nghiệp được lưu trữ trên hệ thống thông tin điện tử và giá
trị pháp lý là thông tin gốc của doanh nghiệp. Qua hệ thống thông tin này, cơ
vấn đề này thì sẽ dẫn đến những quy định của cơ quan nhà nước về điều kiện
thành lập doanh nghiệp sẽ trở nên vô hiệu. Như vậy, để Nhà nước hiện
13
thực hóa quyền lực của mìnhđối với doanh nghiệp thì phải cần đến một thủ
tục nhất định được luật định buộc các chủ thể tham gia phải tuân theo.
Thứ hai, từ thực tiễn hoạt động quản lý Nhà nước về doanh nghiệp
trong thời gian vừa qua cho thấy không thể thiếu vai trò của pháp luật trong
việc điều chỉnh với hoạt động này. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt
như hiện nay, thì vai trị quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp nói
chung đóng một vai trị quan trọng hơn bao giờ hết. Nhà nước khơng chỉ dừng
lại ở việc quản lý đơn thuần mà còn là hoạch định đường lối, thực hiện chính
sách ưu đãi, thanh tra kiểm tra, xử lý vi phạm đối với doanh nghiệp…Vì vậy,
Nhà nước và doanh nghiệp cần có một mối ràng buộc lẫn nhau đó là thơng
qua pháp luật và phải điều chỉnh ngay từ thời điểm cấp giấy CNĐKDN.
Thứ ba, dưới góc độ quản lý Nhà nước về doanh nghiệp, pháp luật có
vai trị quan trọng bởi bằng pháp luật quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm, các quy trình, thủ tục cụ thể, các cán bộ quản lý Nhà nước
về doanh nghiệp có thể đảm bảo thực hiện hoạt động cấp GCNĐKDN trong
giới hạn thẩm quyền của mình, trên tinh thần thượng tơn pháp luật và vì lợi
ích của người dân. Đây cũng là cơng cụ hữu hiệu để hạn chế tình trạng lạm
quyền, độc quyền và cửa quyền khi thực thi pháp luật có liên quan đến hoạt
động cấp GCNĐKDN.
Thứ tư, dưới góc độ quyền lợi của tổ chức, cá nhân pháp luật khơng chỉ
với vai trị, định hướng mà cịn với vai trong chỉ dẫn để tổ chức, cá nhân hiểu
được quyền và nghĩa vụ của mình khi đăng ký thành lập doanh nghiệp và
được cấp GCNĐKDN.
1.2.2. Khái niệm và cơ cấu pháp luật điều chỉnh pháp luật về cấp giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bởi cơ quan đăng ký kinh doanh cho các
chủ thể kinh doanh”.
Từ khái niệm trên, có thể hiểu, pháp luật về cấp giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp là những quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa
chủ thể kinh doanh và cơ quan đăng ký kinh doanh trong việc cấp giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp.
15
Thông qua việc ban hành những quy phạm pháp luật về điều kiện để
được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Nhà nước từ đó ghi nhận sự
ra đời của một doanh nghiệp, đồng thời kiểm sốt q trình hình thành, phát
triển của loại hình doanh nghiệp đó theo hướng tích cực, loại bỏ những doanh
nghiệp khơng đáp ứng đủ điều kiện của pháp luật, từ đó tạo nên một mơi
trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, đảm bảo lợi ích của nền kinh tế và
của cộng đồng.
Hiện nay, pháp luật về cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
được hiểu là tổng hợp những quy định về giá trị pháp lý của GCNĐKDN,
điều kiện được cấp GCNĐKDN, thủ tục cấp GCNĐKDN và các biện pháp
chế tài bảo vệ việc cấp GCNĐKDN được thực hiện theo đúng quy định của
pháp luật.
* Cơ cấu pháp luật về cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Để được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, pháp luật đã đưa
ra các nhóm các quy phạmđiều chỉnh những nội dung khác nhau và liên quan
đến nhiều yếu tố trong hoạt động cấp GCNĐKDN được quy định tại nhiều
luật, văn bản dưới luật theo hệ thống nhất định, cụ thể
Nhóm 1: các quy phạm quy định về điều kiện chủ thể và khách thể
(tên doanh nghiệp, vốn của doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh; hồ sơ đăng
ký doanh nghiệp hợp lệ, nộp đủ lệ phí đăng ký doanh nghiệp theo quy định
tăng cường và hoàn thiện. Các quyền của doanh nghiệp sẽ được đảm bảo.
Thứ hai,tổ chức bộ máy năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ công
chức nhà nước. Để thực hiện pháp luật doanh nghiệp, cấp GCNĐKDN thì
cơng tác tổ chức bộ máy, cán bộ đóng vai trị chủ chốt. Đối với bộ máy các cơ
quan quản lý nhà nước hoạt động hiệu quả, cán bộ có nhận thức, trình độ
chuyên môn cao, đảm bảo yêu cầu của công việc sẽ triển khai, thực hiện công
vụ đúng các quy định của pháp luật; làm tăng cường năng lực quản lý nhà
nước về đất đai, đẩy nhanh hoạt động cấp GCNĐKDN, nói khơng với cơ chế
“xin – cho” trong hoạt động cơng vụ, thủ tục hành chính phiền hà.
17
Thứ ba, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là một hệ thống các quan điểm,
mục tiêu cần mà mỗi quốc gia cần phải đạt được trong một thời kỳ nhất định.
Trong giai đoạn 2011-2020 của nước ta tại văn kiện Đại hội XI của Đảng, đã
nêu rõchiến lược phát triển kinh tế - xã hội là: Hoàn thiện thể chế để tháo gỡ
mọi rào cản, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực
lượng sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, cơng nghệ; huy động và sử
dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Đồng thời, phát triển nhanh,
hài hòa các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp. Hồn thiện cơ
chế, chính sách nhằm thúc đẩy kinh tế tư nhân trở thành một trong những
động lực của nền kinh tế. Ngồi ra, khuyến khích thu hút vốn đầu tư nước
ngoài từ các nhà đầu tư nước ngồi phát triển theo quy hoạch.Tạo mơi trường
cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các nhà đầu tư trong nước và nước
ngoài. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý của Nhà nước và các cơ quan có
thẩm quyền, bảo đảm cơng bằng lợi ích của các doanh nghiệp, để từ đó tạo
động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, với chiến lược phát triển kinh tế -xã hội đã được Đảng và Nhà