Tiểu luận
Thực trạng công nghiệp hóa
nông nghiệp, nông thôn của
nước ta trong giai đoạn hiện
nay và các giải pháp của quá
trình công nghiệp hóa nông
nghiệp, nông thôn
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
PHẦN MỞ ĐẦU
Nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, kể cả
những nước đã đạt đến trình độ phát triển cao. Nó là khu vực sản xuất chủ yếu, đảm
bảo việc làm và đời sống cho xã hội, là thị trường rộng lớn cung cấp nguyên liệu và
tiêu thụ sản phẩm của nền kinh tế, nguồn nhân lực và nguồn tích luỹ cho công
nghiệp hoá, phát triển kinh tế. Kinh nghiệm của Mỹ, Nhật Bản đã đạt đến trình độ
cao, cũng như các nước đã trở thành nước công nghiệp mới, trong những thập niên
gần đây vẫn rất coi trọng nông nghiệp, nông thôn, thành công mà họ đã đạ được là
hiện đại hoá ngành nông nghiệp, cải biến cơ cấu kinh tế nông thôn, thay đổi cơ cấu
dân số nông thôn - thành thị, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập bình quân
đầu người ở khu vực nông thôn, làm cho thu nhập kinh tế khu vực nông thôn không
chênh lệch quá xa so với khu vực đô thị. Và do đó nông nghiệp và kinh tế nông thôn
có điều kiện tích tụ vốn cho quá trình công nghiệp hoá.
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội,
nó luôn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Hiện nay dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, nông
nghiệp ngày nay khẳng định vị trí của mình trong cơ cấu nền kinh tế. Nó góp phần
tích cực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
vụ quan trọng hàng đầu để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Trong đề án này ta chỉ nghiên cứu thực trạng công nghiệp hoá nông
nghiệp, nông thôn của nước ta trong giai đoạn hiện nay và các giải pháp của
quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, giảng viên Phạm Thành người đã giúp
đỡ em hoàn thành đề án này.
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
NỘI DUNG ĐỀ ÁN
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUÁ TRÌNH CNH - HĐH
NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC THỰC HIỆN CNH - HĐH NỀN KINH TẾ
QUỐC DÂN NÓI CHUNG VÀ NÔNG NGHIỆP NÓI RIÊNG.
1. Một số khái niệm:
- Công nghiệp hóa, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là quá trình chuyển đổi
căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế xã
hội.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế gắn với việc đổi mới căn bản về công nghệ và kỹ thuật ở nông thôn, tạo nền
tảng cho việc phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế nông thôn.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp: là quá trình đưa máy móc, thiết
bị, ứng dụng các phương pháp sản xuất kiểu công nghiệp vào các lĩnh vực của sản
xuất nông nghiệp.
2. Tính tất yếu khách quan của việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nền kinh tế quốc dân nói chung.
- Mỗi phương thức sản xuất xã hội chỉ có thể được xác lập một cách vững
chắc trên một cơ sở vật chất kỹ thuật thích ứng. Chủ nghĩa xã hội cũng vậy, muốn
tồn tại và phát triển, xã hội chủ nghĩa cũng phải có một nền kinh tế phát triển cao
dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất
- Khi xét trên góc độ môn kinh tế chính trị:
Mỗi chế độ xã hội đều phải có một cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng. Cơ sở
vật chất kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chấ của lực
lượng sản xuất xã hội được sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu
xã hội. Cơ sở vật chất kỹ thuật của các xã hội trước chủ nghĩa tư bản là một nền sản
xuất nhỏ dựa trên lao động kỹ thuật thủ công, năng suất lao động thấp, tái sản xuất
giản đơn là chủ yếu.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là một nền sản xuất lớn đại công
nghiệp dựa trên lao động bằng máy móc có năng suất lao động cao nên tái sản xuất
mở rộng là chủ yếu nhưng vì dựa trên chế độ chiếm hữu tự nhiên tư bản chủ nghĩa
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
sản xuất vô chính phủ thường xuyên lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế chu kỳ
. Nền sản xuất xã hội phát triển không cân đối, có cơ cấu kinh tế không hợp lý cho
nên đã kìm hãm tốc độ phát triển của nền sản xuất xã hội.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là một xã hội sau chủ nghĩa tư
bản cho nên phải có một cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại hơn cơ sở vật chất kỹ thuật
của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là một nền
sản xuất lớn đại công nghiệp dựa trên lao động bằng máy móc có năng suất lao
động cao, có sản phẩm thặng dư nhiều, tái sản xuất mở rộng là chủ yếu. Nền sản
xuất xã hội phát triển có cơ cấu kinh tế hợp lý, do vấp phải khủng hoảng kinh tế chu
kỳ nên tốc độ phát triển nhanh và có hiệu quả kinh tế lớn. Vì vậy tất cả các nước khi
tiến lên chủ nghĩa xã hội đều phải có một thời kỳ quá độ để xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội (Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin nhà xuất bản
chính trị quốc gia).
3. Đối với nông nghiệp, nông thôn nói riêng:
Trước hết ta hãy tìm hiểu khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp:
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công nghiệp chế
biến và thị trường, thực tiễn cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các
So với các nước ở Châu Á và Đông Nam Á, Việt Nam tiến hành công nghiệp
hoá hiện đại hoá tương đối muộn hơn. Do tiến hành chậm hơn nên chúng ta có được
lợi thế của nước đi sau và rút được bài học kinh nghiệm không chủ của các nước
tiên tiến mà ở ngay cả nước tiến hành trước ta không lâu. Chính vì vậy trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng ta đã chủ trương "đặc biệt coi trọng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn".
Để công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn chúng ta cần
tiến hành một số việc chủ yếu như phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
và công nghiệp nông thôn, phát triển các dịch vụ kinh tế xã hội nông thôn, ứng dụng
các thành tựu KHCN sinh học, hoá học vào sản xuất nông nghiệp, trang bị các máy
móc cơ điện cho nông nghiệp, bước đầu thực hiện cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp
theo hướng hiện đại hoá.
1. Phát triển các nghành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nông
thôn.
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn nước ta đã có từ lâu nhưng
do điều kiện kinh tế xã hội nhất định nên nó có những bước thăng trầm. Từ đầu
những năm 90 đến nay nhờ đổi mới, nó đang được khôi phục và bắt đầu phát triển.
- Nghề chế biến nông sản bao gồm chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến
hoa màu, chế biến lâm sản và chế biến thuỷ sản.
+ Chế biến lương thực, thực phẩm chủ yếu là xay xát gạo. Các nhà máy xay
xát của quốc doanh đặt ở các vùng trọng điểm lúa ở đồng bằng sông Hồng và cả
một số ở đồng bằng sông Cửu Long đến nay không đáp ứng được yêu cầu về khối
lượng và chất lượng xay xát ngày càng cao không chỉ đối với thị trường ngoài nước
mà cả đối với thị trường trong nước vì thiết bị cũ kỹ và công nghệ lạc hậu.
+ Chế biến hoa màu bao gồm công nghiệp chế biến mía đường, chế biến rau
quả, chế biến chè, chế biến cà phê.
Công nghiệp chế biến mía đường mấy năm gần đây cũng phát triển. Các nhà
máy đường quốc doanh chỉ đảm bảo chế biến được khoảng 50% lượng mía của cả
nước, còn một khối lượng khá lớn mía cây do các cơ sở chế biến mía tư nhân quy
chạm khắc gỗ, khảm trai, sơn mài, chạm khắc đá, gốm sứ mỹ nghệ, đan lát tre,
mây… có truyền thống lâu đời, nhưng vừa qua giảm sút. Trong mấy năm gần đây,
do bắt đầu khơi được luồng tiêu thụ nên nhiều làng nghề được khôi phục và bắt đầu
phát triển.
Nghề đóng đồ gỗ cao cấp, chạm khắc gỗ, khảm trai, sơn mài được khôi phục
và phát triển ở nhiều nơi.
2. Mở mang các dịch vụ kinh tế kỹ thuật ở nông thôn.
Ở nông thôn sản xuất nông nghiệp đã bước đầu chuyển dịch theo hướng sản
xuất hàng hoá. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp được phục hồi và đi vào hoạt
động, đã tạo ra tiền đề cho các hoạt động dịch vụ kinh tế kỹ thuật ở nông thôn phát
triển.
Đến nay ở nông thôn đã và đang hình thành các loại tổ chức hoạt động dịch
vụ kinh tế kỹ thuật như: dịch vụ về vốn cho sản xuất nông nghiệp và ngành nghề;
dịch vụ cung ứng vật tư kỹ thuật cho sản xuất; dịch vụ kỹ thuật sản xuất nông
nghiệp và chế biến nông sản; dịch vụ thương nghiệp mua bán sản phẩm và hàng tiêu
dùng.
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
Các tổ chức hoạt động dịch vụ nông thôn hiện nay có sự tham gia của nhiều
thành phần kinh tế ; ở thành thị và nông thôn với nhiều hình thức khác nhau: công
ty, cửa hàng, đại lý, chợ nông thôn, thương lái mua buôn, bán buôn, bán lẻ.
- Dịch vụ về vốn ở nông thôn: hiện nay tham gia dịch vụ này chủ yếu là các
ngân hàng nông nghiệp, các quỹ tạo việc làm, quỹ xoá đói giảm nghèo của Nhà
nước. Trong mấy năm gần đây, ngân hàng nông nghiệp đã có nhiều biện pháp đẻ rót
vốn về tận các hộ nông dân và đã có tác dụng tích cực đối với sản xuất. Tuy nhiên
về thủ tục thời hạn cho vay, và lãi suất, còn có những mặt cần nghiên cưu thêm cho
phù hợp với đặc điểm của nông nghịêp và nông thôn.
- Dịch vụ cung ứng vật tư thiết bị và nguyên liệu cho sản xuất:
Trong nông nghiệp do tổ chức hoạt động dịch vụ của nhiều hợp tác xã nông
nghiệp không đáp ứng được yêu cầu về giống, phân bón, thuốc trừ sâu, xăng dầu
cho các hộ nông dân, nên đến nay, phần lớn các hộ nông dân sử dụng dịch vụ tư
đây có nhu cầu lớn về cung ứng nguyên liệu, vật tư và lưu thông tiêu thụ sản phẩm.
Tổ chức lực lượng dịch vụ thương nghiệp ở nông thôn phát triển nhanh
chóng từ chỗ mở mang các chợ sẵn có, thành lập các chợ mới đến việc hình thành
thị trấn, các phố làng, các tụ điểm công thương nghiệp mới.
Những năm gần đây, lượng hàng hoá lưu thông ở nông thôn tăng lên, mạng
lưới chợ nông thôn có sự phát triển về số lượng, quy mô và lưu lượng chu chuyển
hàng hoá, cũng như cơ cấu mặt hàng.
3. Xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn.
Công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn còn có nội dung quan trọng là
tăng cường cơ sở hạ tầng nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô
thị hoá phục vụ yêu cầu phát triển sản xuất và cải thiện nâng cao mức sống vật chất
và tinh thần của cư dân nông thôn.
- Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật thuỷ lợi cho nông nghiệp.
Trong thời gian qua nước ta đã tập trung xây dựng và hoàn thiện một hệ
thống công trình thuỷ lợi lớn vừa và nhỏ phục vụ nông nghiệp và nông thôn. Hiện
nay Nhà nước vẫn tiếp tục đầu tư hàng tăm tỷ đồng để xây dựng một số công trình
hồ đập lớn như Nghi Quang, Thạch Nhamvv… cùng với việc xây dựng mới thì vấn
đền không kém phần quan trọng là củng cố, nâng cấp hệ thống đê sông, đê biển, sửa
chữa các công trình thuỷ lợi xuống cấp, đảm bảo năng lực thiết kế. Cho đến nay
§Ò ¸n Kinh tÕ chÝnh trÞ
trong 46 hồ đập cỡ lớn có dung tích mỗi cái trên 10 triệu m
3
nước, có 6 cái hỏng
nặng, 20 cái hỏng cục bộ, trong 42 hồ đập cỡ vừa, dung tích 5 - 10 triệu m
3
nước, có
6 cái hỏng nặng, 26 cái hỏng cục bộ, trong 960 hồ đập cỡ nhỏ, dung tích dưới 2
triệu m
3
nước có 62 cái hỏng nặng, 91 cái hỏng cục bộ. Về kênh mương tưới và tiêu