Tài liệu Giáo trình Ho ra máu - Pdf 88

Ho ra máuTổng quan:
Ho ra máu là một triệu chứng nguy hiểm đối với bệnh nhân vì nó có thể là
dấu hiệu của bệnh lý tại phổi hoặc bệnh hệ thống.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến ho ra máu như nhiễm trùng, bệnh lý mạch
máu và viêm mạch (xem bảng 1) Việc xác định tổng lượng máu khạc ra là rất quan
trọng vì lượng máu mất đi này là yếu tố quyết định nguy cơ tử vong. Khi lượng
máu bị ho ra là > 100 - 600 ml/ 24 giờ gọi là ho ra máu nặng. Ho ra máu nặng là
một chỉ định cấp cứu vì bệnh nhân có nguy cơ ngạt => tử vong.
Bác sỹ cấp cứu không chỉ thường gặp những bệnh nhân ho ra máu với mức
độ nhẹ mà còn gặp cả những bệnh nhân ho ra máu nặng.
Bảng 1: Các nguyên nhân chính của chứng “ho ra máu”
Do viêm nhiễm:
- Viêm FQ mạn.
- Giãn FQ.
- Lao phổi.
- Nhiễm Mycobacteria không phải lao.
- Abcès phổi.
- Viêm hoại tử phổi.
- U nấm phổi.
- Xơ nang phổi.
Do hệ tim mạch:
- Tổn thương tâm thất trái.
- Hẹp van hai lá.
- Tắc mạch phổi hoặc nhồi máu phổi.
- Phình ĐMC hoặc rò mạch FQ.
Bệnh lý khối u:
- Ung thư phổi.
- U tuyến FQ.

đờm có dây máu. Giãn FQ có liên quan đến tình trạng viêm nhiễm mạn tính ở
phổi. Khi đó, có hiện tượng tăng sinh các mao mạch tại chỗ và tăng lượng máu
chảy. Viêm nhiễm làm ăn mòn các mao mạch FQ này và kết quả là gây xuất huyết
nặng.
Ung thư phổi.
Ung thư phổi thường gây ho ra máu mức độ nhẹ, dạng như đờm có dây
máu. Hiếm khi nó gây ra tình trạng ho ra máu nặng. Nguyên nhân của tình trạng
ho ra máu mức độ nhẹ trong ung thư phổi là do khối u làm ăn mòn các mao mạch
niêm mạc đường thở. Trong trường hợp ung thư phổi mà ho ra máu mức độ nặng
thường là vì khối u lớn vùng trung tâm đã xâm lấn vào ĐMP.
Lao phổi.
Có nhiều cơ chế dẫn đến ho ra máu ở những bệnh nhân bị lao phổi. Lao FQ
- phổi có thể gây chảy máu đường thở cục bộ. Lao FQ - phổi tiến triển có thể gây
ho ra máu theo cơ chế nói trên. Các hạch lympho bị vôi hóa có thể chèn ép và ăn
mòn thùy phổi và các nhánh FQ gây chảy máu cục bộ và khạc đờm có sạn vôi hóa
còn gọi là sỏi FQ trong đờm. ở những bệnh nhân lao tiến triển, các hang lao lớn
thường không kín hoàn toàn trừ những bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị. Đôi khi,
những hang này bị nấm Aspergillus tấn công. Chảy máu ĐM FQ do tình trạng
viêm nhiễm bờ của các hang lao chứa nấm Aspergillus thường nặng.
Tổ chức nang ở những bệnh nhân bị sarcoidosis phổi mạn tính thường có
nấm Aspergillus và do vậy cũng gây ho ra máu. Cuối cùng, ở bệnh nhân lao phổi
mạn, ho ra máu “sét đánh” có thể do hiện tượng vỡ phình ĐM phổi (phình mạch
Rasmussen) ở thành các hang lao.
Các nguyên nhân khác.
Ho ra máu cũng có thể do tăng áp TM phổi mạn. Ví dụ kinh điển là hẹp van
hai lá, một bệnh ngày nay ít gặp tại Mỹ do tỷ lệ bệnh thấp tim tại nước này đã
giảm. Tuy nhiên, cần lưu ý dấu hiệu hẹp hai lá ở những bệnh nhân có tiền sử sốt
thấp khớp hoặc sống ở những vùng mà tỷ lệ bệnh thấp tim cao. Ho ra máu cũng có
thể do tình trạng viêm nhiễm ở những vùng viêm hoại tử phổi, như nhiễm nấm
Aspergillus xâm lấn, hội chứng xuất huyết phế nang gián tiếp, như hội chứng

- Tắc mạch nhiễm khuẩn do viêm nội tâm mạc ở van 3 lá.
- Hội chứng thận - phổi (hội chứng “Đồng cỏ xanh”, bệnh lupus ban đỏ hệ
thống, bệnh u hạt Wegener).
- Vỡ ĐM phổi do thủ thuật đặt catheter ĐM phổi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status